|
|
Giai Thoại
Ba Que Xỏ Lá
Trong thời Pháp thuộc, có một
bọn người chuyên tổ chức những "tṛ
chơi có thưởng". Tṛ chơi của bọn
họ gồm một cái que và ba chiếc lá. Mỗi lá có
đính một chiếc ṿng nhỏ ở cuống.
Người chơi cầm cái que nhỏ xỏ vào ba ṿng
nàỵ Mỗi người chỉ được xỏ
một lần. Người nào xỏ vào được
một lúc cả ba lá và nhấc được chúng lên th́
được lĩnh thưởng. Ai xỏ trật,
tức xỏ không vào lá nào hoặc chỉ vào một trong ba
lá, sẽ mất toi số tiền đặt
cược[1].
Cũng liên quan tới tṛ chơi này, có người kể
lại cách thức chơi của bọn chủ tṛ có khác
chút ít. Chúng thường dùng ba que nhỏ, trong đó chỉ
có một que xỏ vào chiếc lá rồi ch́a cho mọi
người xem. Chúng tuyên bố rằng nếu ai rút trúng
que có chiếc lá khi chúng nắm tay lại th́ người
đó trúng thưởng. Ngược lại, người
chơi sẽ mất số tiền đặt cược
[1] trước. Dù chơi theo cách thức nào đi nữa,
th́ bọn chủ tṛ vẫn có nhiều mưu mẹo,
khiến cho người chơi bao giờ cũng thua
cuộc. V́ thế, người ta mới gọi bọn
chủ tṛ là bọn "ba que xỏ lá" với hàm ư là bọn
bịp bợm, lừa đảo, dối trá. Từ cách
thức chơi thứ nhất, nhiều người cho
rằng h́nh thức ban đầu của "ba que xỏ
lá" là "xỏ lá ba que"[2].
Sở dĩ có sự thay đổi này là do việc
đọc chệch cho thuận miệng, dễ
đọc, dễ nhớ.
Thành ngữ "ba que xỏ lá" dần dần
được mở rộng phạm vi xử dụng. Nó
được dùng để chỉ tất cả
những hạng người lừa lọc, bịp
bợm, đểu cáng
Bá Nha Tử
Kỳ
Bá Nha đời Xuân Thu là một
người có tài đàn. Chung Tử Kỳ là người
biết thưởng thức âm nhạc. Khi Bá Nha ngồi
gảy đàn, bụng nghĩ đến núi, th́ Chung Tử
Kỳ khen: "Tiếng đàn chót vót như núi cao". Lúc
Bá Nha đánh đàn, ḷng nghĩ về sông nước, th́
Chung Tử Kỳ nói: "Tiếng đàn cuồn cuộn
như nước chảỵ"
Sau khi Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha đập vỡ
đàn, bảo rằng: "Trong thiên hạ không ai c̣n
được nghe tiếng đàn của ta nữa".
Bá Nha Tử Kỳ, ư nói một t́nh bạn hữu thắm
thiết.
Bát Trân
Bát Trân ư nói là những món ăn ngon.
Ngày xưa, có 8 món ăn được liệt vào hạng
ngon nhất, nấu công phu và rất bổ dưỡng,
chỉ có vua chúa mới có dịp ăn, ấy là:
+ Nem Công: Thịt công ăn bổ, giải trừ thứ
độc trong ngườị Khi làm, người ta
phải cẩn thận cắt mật vất đi, v́
mật công rất độc.
+ Chả Phượng: Giống chim này sống ở núi cao,
rất khó bắt. Con trống gọi là Phụng, con mái là
Hoàng. Người xưa tin rằng khi nào chim phụng
xuất hiện là điềm thánh nhân ra đờị
+ Da Tây Ngu: Tây Ngu c̣n gọi là Tê Ngưu (Tê Giác), một
giống heo rừng lớn, chân có ba móng, đầu có ba
sừng. Nó có h́nh dạng xấu xí, chỉ ăn cây
rừng. Da Tây Ngu dày dao đâm không thủng, chỉ trừ
da ở nách là mỏng, người ta lấy da này ngâm vào
nước rồi nấu ăn.
+ Tay Gấu: Gấu có sức mạnh tập trung
vào hai chân trước (tay)
+ Gân Nai: Gân nai nửa dẻo nửa gịn, ăn tráng
dương bổ thận.
+ Môi Đười Ươi: Đười Ươi là
giống khỉ lớn thích đùa giỡn, khi vui phát ra
tiếng như cười nức nẻ
+ Thịt Chân Voi: Voi tuy lớn, nhưng chính giữa bàn chân
voi lại có một lớp thịt gân rất mềm.
+ Yến Sào: Yến ăn rau câu bọt bẻ, pha trộn
với nước miếng, chế thành một chất
nhựa trong, nhiễu ra thành sợi để dệt
tổ áp dính vào tường. Tổ yến làm rất công
phu, ngon và bổ.
Bạch Diện Thư Sinh
Đời nhà Tống, ở vùng Vũ
Khang thuộc Ngô Quận, có 1 người tên là Trầm Khánh
Chi, từ nhỏ đă ôm chí lớn, lại có sức
mạnh và giỏi về bài binh bố trận.
Niên hiệu Nguyên gia thứ 27, Tống Văn đế
muốn mở mang bờ cơi về phương Bắc, sai
nhóm Vương Huyền Mô đem quân Bắc phạt.
Trầm Khánh Chi hết lời can ngăn, lại đưa
ra trường hợp của nhiều vị vua
trước, đă nhiều lần Bắc phạt nhưng
đều thất bạị Tống Văn đế
liền cử 2 vị quan văn ra tranh luận với
Trầm Khánh Chị Trầm Khánh Chi nói :
- Giữ việc nước, cũng như lo việc nhà
vậỵ Muốn bàn luận về việc cày ruộng
th́ phải bàn luận với 1 nông phu nhiều kinh
nghiệm. Muốn bàn luận về việc canh cửi th́
phải bàn luận với người đàn bà dệt
vảị Nay Bệ hạ muốn mở chiến tranh
với nước khác, mà lại để những
người bạch diện thư sinh không 1 chút kinh
nghiệm về quân sự đứng ra bàn luận, th́ làm
sao mà thành công được.
Tống Văn đế không nghe lời Trầm Khánh Chi,
cứ cho đem quân đánh phương Bắc, và quả
nhiên bại trận nặng nề.
Từ câu nói của Trầm Khánh Chi mà người
đời sau rút ra thành ngữ "Bạch diện thư
sinh" để chỉ người trẻ tuổi,
chỉ có cái học sách vở, không có kinh nghiệm ǵ và
không biết đối phó với thực tế ngoài
đờị
Châu Sa
Châu sa có nghĩa là nước mắt
rơị
Tục truyền rằng đời xưa có một
loại người gọi là Giao Nhân, ở dưới
biển Nam Hải lên buôn bán với con ngườị
Đến cuối năm th́ họ phải trở về
Thủy Cung. Lúc chia tay loài người, họ quyến
luyến nhỏ lệ. Lạ lùng thay, nước mắt
họ lúc
Châu Về Hợp Phố
"Châu về Hợp (hiệp)
Phố" ư nói trùng phùng gặp gỡ, đoàn tụ
lạị
Hợp Phố xưa thuộc tỉnh Giao Châu, nay là
Quảng Đông. Vào thời Bắc thuộc, miền
bể ấy có rất nhiều ngọc châu (ngọc trai).
Các quan Tàu cứ bắt dân phải đi ṃ và nộp
cống. Các ngọc châu v́ vậy bỏ đi nơi khác.
Về sau có một người tên là Mạnh Thường
về làm quan. Mạnh Thường thanh liêm và thương
dân nghèọ Những ngọc châu tự nhiên lại trở
về Hợp Phố.
Chim Chắp
Cánh, Cây Liền Cành
"Chim chắp cánh, cây liền
cành", ư nói đẹp duyên, hai người yêu nhau
được lấy nhaụ
Trong Trường Hận Ca, ngày xưa vua Đường
Huyền Tông và Dương Quư Phi yêu nhau, nói với nhau
rằng:
"Tại thiên nguyện tác thị đực
điểu,
Tại địa nguyện vi liên lư chi"
(Ở trên trời th́ làm con chim liền cánh. Ở
dưới đất th́ làm cành cây liền thớ)
Chim Sa Cá Lặn
Ngày nay, mọi người đều
hiểu thành ngữ này là một cách nói ngoa dụ
để chỉ người đàn bà rất đẹp,
giống như cách hiểu thành ngữ "hoa hờn
nguyệt thẹn", tức đẹp tới mức hoa
phải hờn v́ kém sắc, trăng phải thẹn v́ kém
tươị Nhưng thật ra ư nghĩa ban đầu
của thành ngữ này không phải vậỵ
Trang Chu, hay thường gọi là Trang Tử, người
đời Chiến Quốc học thức rất uyên bác,
không môn ǵ không biết. Trong sách "Nam Hoa Kinh", ông chép
rằng: Mao Tường và Lệ Cơ là hai người
đàn bà đẹp, cá thấy: ch́m vào chốn hang sâu, chim
thấy: bay cao (ngư kiến chi nhập thâm, điểu
kiến chi cao phi). Ư Trang Chu muốn nói rằng mọi
sự trên đời đều là tương đối,
Mao Tường, Lệ Cơ tuy đẹp, song chỉ
đẹp đối với người, chứ biết
đâu trông thấy họ, cá chẳng sợ mà lặn sâu,
chim chẳng sợ mà bay cao ?
Người sau hiểu khác hẳn nguyên ư ấy của
Trang Chụ Sách "Thông Tục Biên" dùng thành ngữ
"trầm ngư lạc nhạn" tức "chim
rơi cá ch́m" để chỉ nhan sắc người
đàn bà cực đẹ.p.
Chim Xanh
Ngày xưa Hán Vũ Đế đang
dạo chơi trong vườn thượng uyển,
bỗng có hai con chim xanh bay đến. Đông Phương
Sóc tâu rằng: Đấy là sứ giả nước Tây
Vương Mẫu đem tin đi trước.
Được một lát th́ Tây Vương Mẫu
đến thật.
Chim Xanh ư nói là kẻ đưa tin.
Công Dă Tràng
Công dă tràng, ư nói có gắng công cũng
vô ích.
Tục truyền có chàng thợ săn tên Dă Tràng, một ngày
kia nh́n thấy một cặp rắn. Khi con rắn cái
lột da th́ rắn đực đi t́m đồ ăn
mang về chọ Nhưng khi rắn đực lột da
th́ rắn cái bèn ḅ đi t́m rắn đực khác. Dă Tràng
bất b́nh bèn bắn chết rắn cáị Rắn
đực đi t́m vợ, gặp Dă Tràng mới hiểu ra
vợ ḿnh xấu xạ Rắn đực bèn trả ơn
Dă Tràng bằng một viên ngọc lạ, mỗi lần Dă
Tràng ngậm viên ngọc này th́ có thể nghe và hiểu
được tiếng nói của loài vật.
Tin viên ngọc lạ có thể cho cho con người
hiểu ngôn ngữ loài vật bay đến tai vuạ Vua
cho đ̣i Dă Tràng tới, mượn viên ngọc của
chàng và ban thưởng nhiều của cảị
Một hôm vua xuống thuyền, ngậm viên ngọc, nghe
được các loại cá mực hát rất haỵ Vua
bật cười, viên ngọc bị rơi xuống
biển.
Dă Tràng tiếc viên ngọc, ngày đem ngụp lặn t́m
kiếm, kiệt sức chết đị Dă Tràng biến
thành một loài cua bể ngày đêm tha cát lấp biển
để t́m lại viên ngọc đă mất.
Dă Tràng tha cát lấp bể, sóng biển lại đánh
vàọ Cho nên trong dân gian Việt Nam có câu:
"Dă Tràng xe cát biển đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán ǵ"
Công Tử Bạc Liêu
Tục truyền rằng người
giàu nhất Bạc Liêu ngày xưa là ông Hội đồng
Trạch, vốn là thư kư làng.
Hội đồng Trạch có cả chục ngàn mẫu
ruộng. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn
tỉnh Bạc Liêu bấy giờ có 13 lô ruộng th́ hết
11 lô là của ông Trạch. Ông có 3 con trai và 4 con gáị
Trong số 3 người con trai của ông Trạch có
cậu ba Trần Trinh Huy là ăn chơi phung phí hơn
hết.
Mỗi lần đi xem ruộng, cậu ba Huy mướn
máy bay nhẹ có phi công người Pháp chở. Mỗi
lần đi đ̣i nợ, cậu đi một chiếc xe
khác. Có lần cậu đi hóng gió, dùng cả chục
chiếc xe kéo, mỗi chiếc chở một món đồ
của cậu như cái mũ, cây can ... Người ta c̣n
kể nhiều truyền thuyết về cuộc sống
đào hoa, phóng khoáng của cậu ba Huy nữa ...
Ngôi nhà của công tử Bạc Liêu nay trở thành bảo
tàng tỉnh Minh Hảị
Ngày nay người dùng thuật ngữ "Công tử
Bạc Liêu" để ám chỉ người ăn sung
mặc sướng, không phải làm lụng cực
nhọc.
Dây Tơ Hồng
Điển tích Tơ Hồng do
chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi
Cố, một bữa đi chơi trăng, bắt gặp
một ông già đang ngồi xe các sợi dây đỏ.
Hỏi ra th́ ông ta nói ông là Nguyệt Lăo, chuyên coi việc xe
duyên vợ chồng nhân gian. Ông nói "ta buộc dây tơ
này vào chân người nào th́ dù thế nào cũng phải
lấy nhau". Vi Cố bèn hỏi sau này ông sẽ lấy
ai, Nguyệt lăo nói Vi Cố sẽ lấy một cô gái hàng
rau rách rưới bẩn thỉụ Vi Cố giận
lắm toan giết cô gái, nhưng rồi cuối cùng hai
người cũng lấy nhaụ
Người Việt Nam tin t́nh duyên do tiền định
trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi th́
phải tạ ơn ông Nguyệt Lăo và cầu mong dây tơ
hồng được cột chặt bền lâu
Đẩu Ngọc Xích Bố
"Đẩu ngọc xích bố"
có nghĩa là một đấu lúa, một thước
vảị
Ngày xưa Cao Tổ có hai đứa con Hán Văn Đế
và Hoài Nam Vương. Hoài Nam Vương không tuân theo phép
nước nên bị Hán Văn Đế đày sang
đất Thục. Hoài Nam Vương uất ức
nhịn đói mà chết.
Người đương thời mới đặt câu
ca dao: "Nhất xích bố thương khả phùng,
nhất đấu tất thương khả thung, huynh
đệ nhi nhân bất tương dung", có nghĩa là
một tấc vải cũng có thể may áo mặc chung,
một đấu gạo cũng có thể chia nhau ăn
chung, hai anh em sao lại không dung tha nhau được?.
Điển Tích Truyện Kiều - Ả Lư
Dâng thư đă thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lư bán ḿnh hay sao ?
Sách "Sưu Thần kư" có chuyện nàng Lư Kư:
Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung
đất Đông Việt., trong một cái hang sâu có con
rắn khổng lồ; dân chúng trong vùng rất kinh hăi,
gọi là thần rắn. Hàng năm phải cung cho thần
rắn một người con gái đồng trinh th́ dân
mới yên ổn làm ăn. Nhưng dần cũng hết,
t́m đâu ra con gái.
Bấy giờ ở huyện Tương Lạc, có nàng Lư
Kư, nhà nghèo xơ xác, cả cha mẹ đều bệnh
năng không tiền thuốc thang. Nàng Lư đă trốn cha
mẹ, đến cửa quan tự nguyện bán ḿnh
nộp mạng cho rắn, rồi nhờ chuyển tiền
về cho cha mẹ.
Nàng xin quan lệnh ban cho một cây gươm bén và một
con chó dữ. Vào bên trong hang, nàng thả chó dữ ra
chiến đấu với rắn, và dùng gươm chém
rắn từng khúc.
Dư Thiện là cháu lâu đời của Việt Câu
Tiễn được Hán Vũ Đế phong vương
ở đất Đông Việt. Biết được
chuyện người con gái hiếu thảo, can
trường, Đông Việt vương đă đón
ả Lư về làm vợ.
Điển Tích Truyện Kiều - Ả Tạ
Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này.
Ả Tạ là Tạ Đào Uẩn, con gái quan Thái úy Tạ
Công đời nhà Tấn, có nhan sắc tuyệt trần
lại thông minh nhất mực. thơ phú hay lừng
tiếng.
Trong cùng một vùng, có họ Vương cũng ḍng
giỏi gia phong, con cháu cũng thuộc vào bậc vọng
tộc. Họ Tạ và họ Vương bắt thông gia
với nhau, con trai con gái hai họ chỉ kết duyên vói
nhau, không lấy người ngoài họ.
Khi Tạ Đào Uẩn đến tuổi cập kê, Tào Công
nhờ em la Tạ An sang hà họ Vương kén rể.
Được tin, tất cả nho sinh nhà họ
Vương người nào cũng áo quần tươm
tất, ăn nói đoan trang, muốn phô diễn ḿnh là
bậc tài hoa thế phiệt. Tạ An hồi giờ
để ư từng người nhưng chưa để
mắt người đàn ông nào. Một hôm, Tạ An qui
tụ các nho sinh họ Vương lại để
thử tài đối đáp văn chương. Mọi
người đang thi thố tài năng th́ Tạ An nh́n
thấy về phía đông, một chàng trai tuấn tú,
mặc áo để trật bụng ra ngoài, đang nằm
vắt vẻo chân chữ ngũ trên giường. Tạ An
hỏi ḍ:
- Công tử nằm ở giường phía đông tên là ǵ
vậy?
- Chàng tên là Vương Ngưng Chi, tự Vương
Hưu Quân có tiếng ham học, thông minh.
Tạ An ưng ư, về báo với Tạ Công. Quan Thái úy
vỗ tay:
- Người đó mới là rể tốt của ta
đó.
Vài hôm sau, Tạ Công gọi Vương Ngưng Chi đến,
gả nàng Tạ Đào Uẩn. Chàng trai lơ đăng
chuyện kết duyên rước nàng dâu tài sắc về
rồi, thuờng ngày hay ra bờ sông Lan Chữ (tỉnh
Triét Giang) ngâm vịnh, viết thư pháp, nét chữ
tuyệt đẹp, người đời sau gọi là
Thiếp Lan Đ́nh. Trong Kiều c̣n có câu:
Khen rằng bút pháp đă tinh
So vào với Thiếp Lan Đ́nh nào thua.
Chàng trai tuấn tú thông minh nằm vắt chân chữ ngũ
trên giường phiá đông (đông sàng) mà lại
được vợ đẹp. Người đời
sau dùng điển tích Đông sàng là ư muốn nói chàng rể
quí, xứng đôi với gái thuyền quyên.
Điển Tích Truyện Kiều - Ba Đào
Gặp cơn b́nh địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
Các văn nhân xưa có câu đối:
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách.
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
Gió mưa không có then khóa mà giữ được khách.
Nhan sắc không phải sóng lớn mà d́m chết
người.
Điển tích "Ba đào"- sóng lớn - trong sách
Dị Văn lục: Triều Huệ Đế đời
nhà Minh, tại huyện Tề Hàng, tỉnh Sơn Nam, có hai
vợ chồng Trần Hoá Chiêu, Lương Tiểu Ngạ
Tiểu Nga là con một gia đ́nh thúc nho lễ giáo, nổi
tiếng là một trang quốc sắc thiên hương;
thuở nhỏ được cha mẹ cho theo đ̣i bút
nghiên, mười hai tuổi đă biết làm thơ phú,
đọc thông các sách thánh hiền. Hoá Chiêu là học tṛ
của cha Tiểu Nga; cậu học tṛ nghèo, mồ côi cha,
thông minh, ham học, mặt mày khôi ngô, được
thầy thương, gả con gái và cho ở rể.
Sống chung với nhau được ba năm, th́ bố
mẹ vơ, lần lượt qua đời, để
lại cho vợ chồng một căn phố và ít vốn
liéng để mở một tiệm tạp hóa.
Đời sống cũng được êm đềm.
Trong vùng, các văn nhân thỉnh thoảng đến mua hàng
và cùng vợ chồng Trần Hóa Chiêu xướng họa
ngâm thơ. Cũng không ít khách lai văng thường xuyên
đến đó vờ vĩnh mua hàng, để
được dịp chiêm ngưỡng dung nhan Tiểu
Nga; có phú hộ Trát Hiếu Sắc cũng thuộc loại
khách này.
Nhưng không như những mối t́nh câm kia, đến
nh́n để rồi thầm yêu trộm nhớ, Hiiếu
Sắc đă manh tâm chiếm hữu người đàn ba
này cho được. Phú hộ t́m hiểu, biết vợ
chồng v́ ham thích thơ văn , nên buông lỏng chuyện
mua bán, vốn liếng cụt dần. Phú hộ ra tay hào
hiệp, cho mượn vàng bạc để gầy
dựng lại. Ngại ngùng lần đầu, nhưng
rồi tiếp những lần sau, Hoá Chiêu cầm vàng
bạc mượn đi buôn bán xa, chuyến nào cũng
lời khẫm. Lần nào, vợ chồng cũng nài
nỉ hoàn lại vốn và trả lời, nhưng Hiếu
Săc đều từ chối lấy lăi.
Cứ vậy, hai năm họ trở thành bạn thâm giao.
Hiếu Sắc luôn tỏ ra ḿnh là người đàng hoàng,
nghiêm túc, không bao giờ đến nhà bạn trong lúc
vắng mặt Hoá Chiêu; những lúc tiếp chuyện
với Lương Tiểu Nga, luôn luôn giữ thái
độ đứng đắn. Vợ chồng Hoá Chiêu
vui mừng có được người bạn hiền,
hào phóng. Khi tự xét lư lịch "nằm vùng" của
ḿnh đă đến lúc kết nạp được,
Hiếu Sắc đề nghị chung vốn làm ăn
lớn. Vợ chồng Hóa Chiêu hoàn toàn tin tưởng,
hớn hở nhận lời ngay.
Việc buôn bán phất lên nhanh, nhưng Hiếu Sắc
vẫn cương quyết không bao giờ nhận chia lăi, nại
lư do để giúp vợ chồng bạn.
Một lần, Hiếu Sắc bàn với Hóa Chiêu phải
đi buôn một chuyến lớn ở Hàng Châu xa xôi và thuê
thuyền xong, cả hai cùng lên đường. Ṛng ră
cả tháng trời thuyền mới đến Hàng Châu vào
một đêm trăng thanh gió mát. Hai người đem rượu
ra mũi thuyền đối ẩm tâm sự Hoá Chiêu, t́nh
thật, ngâm một câu thơ, lại ngậm một chén
rượu ; Hiếu Sắc th́ cứ làm động tác giả,
hắt rượu qua vai. Quá nửa đêm, Hoá Chiêu
rụng, người mềm nhũn. Lúc bấy
giờđám gia nhân dưới thuyền cũng đă
ngủ saỵ Hiếu Sắc lôi Hóa Chiêu, xô xuống sông.
Đôi ba lần Hoá Chiêu ngoai ngóp trồi đầu lên,
Hiếu Sắc lại dùng sào d́m xuống cho đến khi
mặt nước không c̣n sủi bọt nữa.
Không cần phải buôn bán chi, Hiếu Sắc cho thuyền
quay về Tề Hàng ngay. Mẹ Hoá Chiêu và Tiểu Nga đau
ḷng với nỗi bất hạnh, nhưng vần cảm
kích Hiếu Sắc đă bỏ cả chuyến hàng lớn
để vội vàng trở về báo hung tin.
Rồi sau đó, đều đều, Hiếu Sắc lui
tới thăm viếng và cấp dưỡng cho mẹ Hoá
Chiêu và cô vợ góa trẻ. Và lần nào nước mắt
phú hộ hào phóng cũng đầm đ́a.
Người đời càng nể trọng hơn khi
thấy Hiếu Sắc ân cần chăm sóc mẹ của
Hoá Chiêu chu đáo hơn vợ bạn, khiến mẹ già
cũng có phần đăm chiêu\
Ba năm sau, măn tang. Hiếu Sắc cho người
đến thưa chuyện với mẹ Hóa Chiêu xin
cưới Tiểu Nga lam vợ. Bà mẹ đă đăm
chiêu nhiều, nên thuận t́nh ngay, khuyên nhủ con dâu nên
bước thêm bước nữa.
Lương Tiểu Nga vốn là gái hiền thục,
vẫn c̣n thương yêu người chồng vắn
số, nhưng vẫn phải vâng lời mẹ chồng,
tái giá.
Cưới được Lương Tiểu Nga rồi,
Hiếu Sắc vẫn một mực chăm sóc mẹ Hoá
Chiêu; bà cũng an ḷng nghĩ rằng con dâu ḿnh có
được bóng mát cho cuộc đời c̣n lại.
Vợ chồng ăn ở vơi nhau được
mười năm, sinh được hai mụn con.
Đời sống an nhàn. Một đêm trăng vào hạ,
vợ chồng ra ngồi hóng mát bên ao sen. Hiếu Sắc
nhấm rượu, và ngấm rượu; Đương
lúc đó, có con ếch nhảy lên một lá sen. Tiểu Nga
đưa cây sào thọc cho con ếch nhảy đi. Sào
thọc xuống th́ con ếch lặn, cất sào lên, nó
lại trồi lên. Tiểu Nga phải thọc vào con
ếch mấy lần nữa, nó mới chịu lặn ch́m
mất.
Bất giác, Hiếu Sắc buột miệng ngâm:
"Hồi ức thập tam niên tiền sự
Huyên tợ hà mô lục thủy thờị.
Nhớ chuyện mươi ba năm trước đây
Mường tượng ngày nay ếch ngóp ngoai
Nghe lời thơ lạ, Tiểu Nga bảo chồng
lập lại để ḿnh họa theo. Hiếu Sắc lè
nhè đọc lại rồi cao hứng nói vợ lấy
giấy bút cho ḿnh chép lại làm thủ bút. Thôi rồi,
kẻ hào hiệp chung chăn gối với ḿnh
mười năm nay, th́ ra là một kẻ nham hiểm thâm
độc.
Không thể để cho Hoá Chiêu chết oan, Tiểu Nga
đă nắ lấy vật chứng là hai câu thơ thủ
bút của Hiều Sắc, đem đi tŕnh quan.
Bị bắt tra vấn, Hiếu Sắc khai hết sự
thật câu chuyện hơn mười ba năm
trước, v́ đă cuồng si nhan sắc của
Lương Tiểu Nga nên đóng tṛ đạo đức,
rồi bày mưu giết chồng đoạt vợ Trát
Hiếu Sắc bị xử tội tử h́nh.
Đúng là sắc bất ba đào dị nịch nhân, nhan sắc
đâu phải là sóng lớn mà cũng d́m chết
người, hai người chồng đều phải
tức tưởi ĺa đời.
Sắc đẹp là tội lỗi, nàng đă đến
công đường, xin xử tội cái nhan săc nàỵ
Nhưng luật pháp có bao giờ lại tử h́nh một
hồng nhan. Có chăng th́ lạ ǵ bỉ sắc tư
phong, hồng nhan phải tự mang lấy cái nghiệp
chướng đa truân.
> Điển Tích Truyện Kiều - Băng Nhân
Sự ḷng ngỏ với băng nhân
Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao
Băng nhân, người mối lái chuyện cưới
hỏi, gả bán, từ một điển tích đời
Tấn:
Văn nhân Linh Hồ Sách nằm mơ thấy ḿnh
đứng trên băng tuyết nói chuyện với một
người lạ nằm dưới băng tuyết. Linh
Hồ Sách đem chuyện năm mơ của ḿnh thuật
lại cho Sách Thẩm, một người rất giỏi
về thuật số. Sách Thẩm giải mộng:
- Băng thượng nhân ngữ băng hạ nhân, tức
là dương nói chuyện với âm. Điềm này tất
có chuyện mai mối đây. Vậy nếu có ai nhờ
tiên sinh se duyên, th́ cứ nhận lời. Đến khi
băng tan, th́ lương duyên thành.
Mấy hôm saụ Linh Hồ Sách đưọc Điền
Báo nhờ làm mối lái xin hỏi cưới con gái của
Trương Công Vị. Linh Hồ Sách nhận làm mai và
được Trương Công Vi đồng ư. Quả
đúng, đến mùa xuân, khi băng tan hết th́ hôn
lễ của Điền Báo với con gái Trương Công
Vi được cử hành.
Điển Tích Truyện Kiều - Bể Dâu
Mở đầu Truyện Kiều:
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng
Bể dâu là biển cả và băi dâu, dịch nghĩa từ
câu Thương hải tang điền , nói về những
biến động đổi thay trong vũ trụ, trong
đời sống con người.
Nhân sanh bách tuế chi kỳ. đời sống con
người hữu hạn trăm năm, Nguyễ n Đu
đă diễn ra thơ nôm :
Trăm năm trong cơi người ta.
Trong Thần tiên truyện có viết: tam thập niên vi
nhất, thương hải biến vi tang điền
nghĩa là cứ ba mươi năm một lần vũ
trụ lại chuyển hóa, biển cả hóa thành
nương dâu, nương dâu hóa thành biển cả . Chu kỳ 30 năm
một lần. biển cả c̣n biến thàn h ruộng
đất huống chi con người chỉ là hạt
bụi trong vũ trụ của tạo hóa, th́ sự chuyển
dịch từ cơi này qua cơi khác, vận này qua vận kia là
chuyện b́nh thường, sông có khúc, người có lúc.
Điển Tích Truyện Kiều - Bố Kinh
Đă cho vào bậc Bố kinh
Đạo ṭng phu lấy chữ trinh làm đầu
Bố kinh là hai chữ thu ngắn, Bố quần là
chiếc quần bằng vải, kinh thoa là cái trâm cài
đầu bằng gaị Bố kinh lấy từ
chuyện Lương Hồng Mạnh Quang trong sách Di
Uyển của Trung Quốc:
Lương Hồng là một hàn sĩ ơ Giang Nam, nhà nghèo
xơ xác, hiếu học, trọng đạo đức
nhân nghĩạ Nhiều người rất cảm
phục nhân cách của chàng , trong đó có một phú hộ
thật tâm muốn t́m cách giúp đỡ . Lần
đầu tiên t́m đến gặp Lương Hồng,
phú hộ muốn tặng chàng hai gói chè quí ngọn hái
từ đỉnh núi Vũ Di . Lương Hồng nhẹ
nhàng thưa:
- Nếu có ǵ cần dạy bảo xin ngài vui ḷng chỉ
giáo, c̣n lễ vật ngài cho tôi xin được phép
từ chối.
Phú hộ đành cầm lễ vật ra về, trong ḷng nghĩ
hay là chàng nho sĩ kia v́ nghĩ phận ḿnh nghèo hèn không dám
giao tiếp với người giàu sang như ta. Nghĩ
vậy nên ít ngày sau, phú hộ lại t́m đến, chân
đi giày cỏ, cẩn thận buộc ngưa từ ngoài
xa. Trong lều tranh, Lương Hồng vẫn mải mê
đọc sách; phú hộ kiên nhẫn chắp tay
đứng đợi ngoài sân. Sau mấy canh giờ,
Lương Hồng chợt gấp sách, nh́n ra ngoài, trông
thấy vị khách đang đứng chờ. Chàng cung kính mời
vào. Lần này phú hộ chỉ xin tặng một gói trà
ngang, nhưng bên trong lại có mấy nén vàng, gọi là chút
tiền độ nhật cho hàn sĩ. Lương Hồng
nhất mực từ chối:
- Nếu ngài có ư coi trọng kẻ hèn nay th́hăy cư xử
nhau bằng t́nh nghĩa; xin bảo trọng t́nh nghĩa
trong sáng này, đừng để lễ vật làm hoen
ố đi.
Phú hộ lại phải đem lễ vật về và
vẫn không nghĩ ra cách ǵ để giúp đỡ con
ngướ liêm khiết này. Và không những chỉ có phú
hộ này, nhiều danh gia khác cũng nghe tiếng thơm
Lương Hồng, muốn muốn đem gả ái nữ
chọ Trong số này, có nhà họ Mạnh, gịng dơi nho gia,
giàu có mấy đời, có tiểu thư Mạnh Quang,
sắc nước khuynh thành, vương tôn công tử
gần xa đều ngấp nghé. Nhà họ Mạnh chủ
động muốn nhận Lương Hồng làm rể.
Lương Hồng cũng nghe tiếng gia đ́nh
họMạnh tuy giàu có, nhưng nổi tiếng mấy
đời lương thiện, nên bằng ḷng kết
nghĩa trăm năm với nàng Mạnh Quang.
Ngày hợp hôn, Mạnh Quang muốn làm đẹp ḷng
chồng, trang điểm má phấn tô son, xiêm y lộng
lẫy, vàng ngọc sáng ngờị Nào ngờ, trông
thấy tân nương rực rỡ như vậy, tân lang
lại tiu nghỉu, suốt bảy ngày đêm ủ ê không
buồn động pḥng hoa chúc. Thoạt đầu,
Mạnh Quang đă quá lo âu, không hiểu ḿnh đă lời
ăn tiếng nói như thế nào để chàng phải
phật ư; cuối cùng th́ nàng cũng nghĩ ra và đă
vất bỏ hết các xiêm y, trang sức sặc sỡ
đó, mà chỉ mặc quần áo vải và đầu cài
thoa gai đến bên chồng. Đến đây,
Lương Hồng mơi bật lên mừng rỡ, ôm
chầm lấy tân nương:
- Đây mới thật là vợ của Lương
Hồng. Trong phú quư', giàu sang, thường người ta
không giữ được nhân nghĩạ Ta chỉ
muốn sống trong thanh bần, tự ḿnh cày ruộng mà
ăn, dệt vải mà mặc, cuộc sống đạm
bạc nhưng vợ chồng luôn có nhau, tương kính
nhau.
Người đời sau lấy chữ Bố kinh trong
điển tích này để nói đến các bà vợ
hiền thục.
Trong truyện Kiều, khi giai nhân vượt thành lễ
giáo t́m đến thư pḥng Kim Trọng trong đêm. Đă
có lúc, chàng Kim ra chiều lả lơị Kiều khoan
nhặt ..
Thưa rằng: đừng lấy làm chơi
Giả chưa hết một lời đă nao
Vẻ chi một đóa yêu đào
Buồng hồng chi dám ngăn rào chim xanh
Đă cho vào bậc Bố Kinh
Đạo ṭng phu lấy chữ trinh làm đầu
Ra tuồng trên bộc trong dâu
Th́ con người ấy ai cầu làm chi.
Điển Tích Truyện Kiều - Cầm
Đài (Bá Nha Tử Kỳ)

Rằng nge: Nổi tiếng cầm
đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ
Cầm đài: cái đài để Tư Mă Tương
Như ngồi gảy đàn. Tri âm: hiểu biết nhau
qua tiếng nhạc; từ chuyện Tử Kỳ tri âm Bá
Nha thời Chiến Quốc, tri âm đă là nghĩa chung
của một t́nh bạn thiết thân, thông hiểu
được ư nhau.
Theo sách Lă thị xuân thu: "Bá Nha cổ cầm, Chung
Tử Kỳ tại ngoại thiết tính chi viết: nguy
nguy hồ như thái sơn, dương dương
hồ như lưu thủy" (Bá Nha gảy đàn,
Chung Tử Kỳ ở ngoài nghe trộm, khen rằng: ngun
ngút như núi Thái Sơn, cuồn cuộn như ḍng nước
chảy).
Vào lúc Tấn, Sở đang giao hảo nhau. Bá Nha là người
nước Sở, nhưng lại làm quan đến
chức Thượng đại phu của nước
Tấn. Bá Nha nổi tiếng là một khách phong lưu văn
mặc, lại có ngón đàn tuyệt diệu nhất
đời; ngày liền đêm, Bá Nha không bao giờ
rời cây Dao cầm thiết thân của ḿnh.
Năm ấy, trên đường từ Sở về
lại Tấn sau sau chuyến công cán, Bá Nha cho thuyền
đỗ lại bến Hàm Dương vào một đêm
trăng thanh gió mát. Bá Nha cho đồng tử đốt
lư trầm trước thuyền, rồi lấy Dao
cầm ra so phím thử dây. Dưới ánh trăng
trong, tiếng đàn quyện lấy hương trầm
đang cất vút lên cao giữa đêm thu thanh vắng,
bỗng một tiếng " bựt " khô khan, dây tơ
đồng đứt. Bá Nha nghĩ dây đàn đứt
ắt có quân tử nào nghe lén đây, bèn sang sảng
cất tiếng:
- Có cao nhân nào trên bờ lắng nghe tiếng đàn
của tại hạ, xin vui ḷng ra mặt.
Từ trên vách núị có tiếng vọng xuống:
- Xin đại nhân thứ lỗi cho, tiểu dân này
đi kiếm củi về muộn, đi ngang qua đây,
nghe tiếng đàn tuyệt diệu quá, nên cất bước
đi không đành.
Bá Nha cười lớn:
- Tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đàn
với ta ?
Tiếng nói từ trên núi lại đáp lại:
- Đại nhân nói vậy, kẻ hèn này trộm nghĩ
là không đúng. Há đại nhân không nhớ câu nói
của người xưa: "Thập nhất chi ấp
tất hữu trung tín" (Trong một ấp có mười
nhà ắt có người trung tín). Hễ trong nhà có quân
tử th́ ngoài cửa ắt có người quân tử
đến...
Bá Nha có vẻ ngượng khi nghe câu nói của người
tiều phu. Biết ḿnh lỡ lời, ông tiến sát
đến mũi thuyền nói lớn:
- Nếu thật là người trên bờ biết nghe
đàn, th́ xin cho biết lúc năy tại hạ đă
đàn khúc ǵ ?
Giọng trên bờ b́nh thản vọng xuống:
- Đó là Khổng Vọng Vi, Đức Khổng Tử
khóc thầy Nhan Hồi. Hồi năy, đại nhân đang
đàn th́ đứt dây, nên c̣n thiếu mất câu chót.
Nghe xong, Bá Nha thấy ḷng phơi phới lạ, vội
sai tùy tùng lên bờ rước người tiều phu
xuống thuyền. Bá Nha trân trọng đón tiếp:
- Quư hữu biết nghe đàn, vậy chắc cũng rơ
được xuất xứ của cây Dao cầm?
Tiều phu không ngập ngừng:
- Nghe nói, thuở xưa vua Phục Hy t́nh cờ trông
thấy có năm sắc sao rơi xuống cụm ngô
đồng và chim phượng hoàng đến đó
đậu. Vua biêt cây ngô đồng là thứ
gỗ quư, hấp thụ tinh hoa của trơi đất,
có thể dùng để làm nhạc khí được,
liền cho người hạ cây, cắt làm ba đoạn.
Đoạn ngọn, tiếng quá trong và nhẹ, đoạn
gốc tiếng đục và nặng, chỉ có đoạn
giữa tiếng vừa trong vừa đục, có thể
dùng được. Nhà vua cho ngâm đoạn giữa thân
cây giữa ḍng nước, đúng bảy mươi hai
ngày đêm, vớt lên phơi trong mát cho thật khô
rồi gọi người thợ giỏi Lưu Tử
Kỳ đẻo thành cây Dao cầm. Dao cầm dài ba thước
sáu tấc, một phần án theo ba trăm sáu mươi
mốt độ chu thiên, mặt trước rộng tám
tấc, án theo tám tiết, mặt sau rộng bốn
tấc án theo bốn mùa, bề dày hai tấc án theo lưỡng
nghi. Đàn gồm mười hai phím, tượng trưng
cho mười hai tháng trong năm, lại có thêm một
phím phụ tượng trưng cho tháng nhuận. Đàn
có năm dây án theo ngũ hành tượng trưng cho năm
âm: cung, thương, giốc, thủy, vũ. Xưa, vua
Thuấn gảy đàn Ngũ huyền, thiên hạ thái b́nh.
Khi vua Văn Vương bị ngồi tù nơi Dũ Lư,
Bá Âp Khảo thêm một dây oán, gọi là văn
huyền (dây văn). Về sau, khi Vũ Vương đánh
nước Trụ, thêm môt dây nữa gia tăng kích
động gọi là vũ huyền (dây vũ). Do đó,
Dao cầm lúc đầu có năm dây, sau có bảy dây.
Dao cầm có bốn điều kỵ là: rét lớn,
nắng lớn, gió lớn và tuyết lớn; và bảy
điều không nên là: không đàn ở đám tang, không
đàn lúc ḷng rối loạn, không đàn lúc ḷng không
thanh bạch, không đàn lúc bận rộn nhiều
việc, không đàn lúc y trang không chỉnh tề, không
đàn lúc không có trầm hương và không đàn lúc
không có bạn tri âm.
Bá Nha nghe nói, biết tiều phu là bậc kỳ tài,
đem ḷng kính thương:
- Hiền hữu quả là người tinh thông nhạc lư.
Xưa kia, Khổng Tử đang gảy đàn, thầy
Nhan Hồi bước vào, nghe thanh âm sao mà u trầm,
biết là trong tâm Khổng Tử đang giao động
. Hỏi ra, mới hay là trong khi Khổng Tử đàn,
thấy con mèo đang bắt chuột, nên tâm tư đă
chùng tiếng tơ đồng. Trước kia, Nhan
Hồi nghe tiếng đàn mà biết được ḷng
Thầy, c̣n ngày nay, nghe tiếng đàn Bá Nha này ,
hiền hữu có biết ḷng ta đang tư lự ǵ không?
- Xin đại nhân cho nghe một vài khúc nhạc nữa
Bá Nha thay dây đàn, gảy khúc Ư tại non cao.
Tiều phu ngẩng mặt mỉm cười:
- Tuyệt thay, ư chí cao vút. Ư tại non cao.
Bá Nha giật ḿnh ngưng đàn. Một lúc sau gảy thêm
khúc Ư tại lưu thủy.
Tiều phu khua tay xuống ḍng nước:
- Trời nước bao la. Ư tại lưu thủy.
Bá Nha thất kinh, nh́n người tiều phu không
ngớt mắt, sao lại có người cảm thấu
được tiếng đàn của minh như
vậỵ Ông sai nguời hầu dẹp trà, bày tiệc
rưọụ Xong, ông đứng lên trước
mặt người tiều phu, kính cẩn hỏi:
- Dám hỏi tiên sinh quư danh và quê quán.
Tiều phu vội đứng lên, chắp tay thi lễ:
- Tiện dân họ Chung, tên Tử Kỳ, người thôn
Tập Hiền gần núi Mă Yên này. C̣n đại nhân,
chẳng hay cao danh quư tánh là ǵ, hiện đi trấn
nhậm nơi đâu mà ghé thuyền lại đây văng
cảnh.
- Tại hạ họ Du tên Thụy, là Đại phu
nuớc Tấn, nhân đi sứ nước Sở
về, thấy cảnh Hàm Dương trăng thanh gió mát,
nên ghé thuyền thưởng lăm. Tại hạ chỉ là
một kể tài hèn đức bạc mà thôi. C̣n như
tiên sinh đây học thức uyên bác cớ sao không
xuất thân lập công danh, pḥ vua giúp nước, mà
lại sống ẩn dật chốn núi non hẻo lánh này.
- Tôi c̣n cha mẹ già, không có anh em, phận làm con
phải lo tṛn chữ hiếu, dẫu cho công hầu khanh
tướng cũng không thể đổi được
một ngày báo hiếu của tại hạ.
Tử Kỳ hai mươi bảy tuổi. Bá Nha trân
trọng nói:
- Tiện chức hơn tiên sinh những mười
tuổi. Nếu tiên sinh không chê tôi đức
mọn tài hèn th́ xin kết làm anh em để khỏi
phụ duyên tri âm.
Chung Tử Kỳ khiêm nhượng đáp:
- Đại nhân là bậc công khanh nơi triều đ́nh,
tại hạ là kẻ áo vải chốn sơn lâm th́ làm
sao kết bạn với nhau được, xin đại
nhân miễn cho.
- Giá trị con người đâu ở chỗ giàu sang
phú quư, mà ở đức hạnh tài năng. Nay nếu
tiện sinh chịu nhận làm anh em th́ thật là
vạn hạnh cho tiện chức.
Bá Nha đă có thành tâm, Tử Kỳ không từ chối
nữa.. Bá Nhà sai người hầu đốt ḷ hương
mới, lập hương án trước thuyền, cùng
Tử Kỳ lạy trời đất tám lạy,
nhận nhau làm anh em khác họ. Rồi hai bạn cùng
đối ẩm chuyện tṛ với nhau rất chi là tương
đắc.
Đến lúc ánh trăng nhạt nḥa, tiếng gà eo óc
gọi ánh nắng mai, đoi bạn đành phải chia
tay. Bá Nha giọng run run, nh́n Tử Kỳ:
- Ḷng huynh quá cảm mộ, chưa nỡ rỡi hiền
đệ. Hiền đệ có thể cùng huynh đi thêm
một đoạn đường để thêm
đước một khúc chuyện tṛ cho thỏa
mối tâm t́nh.
Chung Tử Kỳ cũng không dấu được xúc
động:
- Theo lễ, tiểu đệ phải tiễn hiền
huynh vài dặm đường mới phải, ngặt v́
song thân của tiểu đệ đang trông ngóng ở
nhà, xin hiền huynh thứ lỗi.
- Vậy th́ hiền đệ về nhà xin với song
đường qua nước Tấn thăm chơi,
chắc là sẽ được nhận lời.
"Phụ mẫu tồn , bất khả viễn du",
làm sao Tử Kỳ có thể rời cha mẹ để
vui chơi cùng bạn được. Cuối cùng, Bá Nha
nắm tay Tử Kỳ, giọng khẩn thiết:
- Sang năm, cũng vào giờ này, xin hẹn hiền
đệ tại đây.
Rồi lấy ra hai nén vàng, hai tay dâng cao lên trước
mặt:
- Đây là món lễ vật mọn của ngu huynh làm quà
cho bá phụ, bá mẫu, đă xem nhau là cốt nhục
xin hiền đệ chớ từ chối.
Cảm t́nh tri ngộ, Tử Kỳ không từ
chối. Lưu luyến chia tay, đôi bạn bịn
rịn không thốt lên nỗi lời tạm biệt.
Thấm thoát một năm qua, ngọn gió heo may
từ phương Bắc về đem mùa thu đến.
Bá Nha vào triều kiến vua Tấn xin được phép
về Sở thăm quê nhà. Thuyền đến bến Hàm
Dương, Bá Nha cho dừng lại dưới núi Mă Yên.
Ḷng bồn chồn trông ngóng. Vừng kim ô đă ngả
bóng xuống ḷng sông, khói sóng dâng lên nghi ngút, sao măi
vẫn không thấy bạn tri âm. Bá Nha cho đồng
tử đốt ḷ hương, rồi lấy Dao cầm
đàn một khúc. Trong cơn gió nhẹ đầu thu, Bá
Nha bỗng nghe tiếng đàn của ḿnh sao mà ai oán, năo
nùng. Bá Nha thất kinh, ngừng tay đàn, tâm thần
rối bời ; cung thương bỗng nghe sầu
thảm như thế này th́ chắc là Chung Tử Kỳ
gặp nạn lớn rồi. Cả đêm, Bá Nha trăn
trở, nhớ thương và âu lo cho bạn. Trời chưa
sáng, Bá Nha đă khoác cây Dao cầm lên lưng, bỏ vào
túi mười nén vàng ṛng rồi cùng vài tên hầu t́m
đến chân núi Mă Yên. Dọc đường.
gặp một ông lăo, tay xách giỏ mây, tay cầm
gậy trúc. Bá Nha lễ phép thưa:
- Xin lăo trượng chỉ đường đi đến
Tập Hiền thôn.
- Có Tập Hiền thông thượng, Tập Hiền thôn
hạ. Tiên sinh cần đến thôn nào ?
- Thưa lăo trượng, người Tử Kỳ
họ Chung ở thôn nào?
Vừa nghe nhắc đến tên Chung Tử Kỳ, lăo ông
sa sầm nét mặt, đôi mắt trũng sâu chảy dài
hai hàng lệ. Lăo ông sụt sùi, giọng ngắt đoạn:
- Chung Tử Kỳ là con lăo. Năm ngoái cũng vào ngày này,
nó đi củi về, gặp một vị quan nước
Tấn tên là Bá Nha và kết nghĩa huynh đệ v́
chỗ đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu. Lúc chia tay, vị quan có tặng cho
vợ chồng lăo hai nén vàng. Ở nơi núi non heo hút
thế này, vợ chồng lăo chưa cần đến
số vàng đó, nên con lăo đă dùng đổi lấy
sách, đọc bất kể ngày đêm, giờ giấc, ngoài việc đốn củi mưu sinh. Có thể v́
quá lao nhọc, con lăo đă lâm bệnh mà qua đời...
Chưa kịp nghe hết lời, Bá Nha đă bật ̣a
khóc, ôm chầm lấy ông lăo, hậu sinh này chính là người
bạn kết giao của Chung Tử Kỳ đây. Ông lăo
thảng thốt:
- Mang ơn đại nhân không chê trách cảnh bần cùng,
đă cùng con lăo kết nghĩa tâm giao. Lúc lâm chung, con lăo
đă trối trăn lại: " Sống không trọn
đạo làm con, chết xin được chôn dưới
chân núi Mă Yên để trọn đạo nghĩa
với bạn, nằm bên triền dốc chờ đúng
lời hẹn mùa thu này" Con đường mà đại
nhân vừa đi quạ phía bên phải có nấm đất
nhỏ là ngôi mộ của Tử Kỳ. Hôm nay đúng
một trăm ngày mất, lăo vừa đi viếng
mộ con về th́ gặp đại nhân.
Trước mộ Tử Kỳ, Bá Nha vừa lạy
bạn xong, truyền đem đàn đến, ngồi trên
tảng đá tấu khúc "Thiên thu trường
hận". Tiếng đàn đang réo rắt bỗng
trầm hẳn xuống. Tiếng gió ngàn rít mạnh,
bầu trời trở màu tối sẩm và tiếng
tiếng chim từ xa vọng vềnghe u uất năo nùng. Bá
Nha ngưng đàn. Gió ngừng rít, trời trong sáng
trở lại, chim ai oán lặng tiếng. Bá Nha nh́n Chung
lăo thưa:
- Tử Kỳ đă về đây chứng giám cho ḷng thành
của tiểu sinh. Cháu vừa đàn khúc đoản ca
để viếng người tri âm tài hoa mệnh
yểu, và xin đọc thành thơ đoản ca này:
Ức tính khi niên xuân
Giang thượng tằng hội quân
Kim nhật trùng lai phỏng
Bất kiến tri âm nhân
Đản kiến nhất phân thổ
An nhiên thương ngă tâm
Bất giác lệ phân phân
Lai hoan khứ hà khổ
Giang ban khởi sầu vân.
Tử
Kỳ
,
Tử Kỳ hề !
Nhĩ, ngă thiên kim nghĩa
Lịch tận thiên nhai vô túc ngữ
Thử khúc chung hề bất phụ đàn
Tam xích Dao cầm vị quân tử.
(Từ nhớ đến muà thu năm trước
Bến trường giang gặp bạn cố nhân
Năm nay lại đến Giang Tân
Gịng sông lạnh ngắt cố nhân đâu rồi
Buồn chỉ thấy nấm mồ bên núi
Cơi ngàn năm chia cắt đau ḷng
Ôi thương tâm, ôi thương tâm
Sụt sùi lai láng bao hàng lệ rơi
Mây sầu thấp thoáng chân trời
Đêm vui đổi lấy một đời khổ
đaụ
Tử Kỳ ơi, Tử Kỳ ơi
Ngàn vàng khôn chuộc được bầu tâm can
Thôi từ nay, thôi phím đàn
Ngàn thu thôi hết mơ ṃng cố nhân...)
Lời thơ vừa dứt, Bá Nha nâng Dao cầm lên cao,
đập mạnh xuống tảng đá. Dao cầm
vỡ tung từng mănh, trụ ngọc, phi'm đồng rơi
lả tả. Lăo ông hoảng kinh, sao đại nhân
lại đập vỡ đàn quí. Bá Nha đáp lời
bằng bài thơ tứ tuyệt:

Thốt đoái Dao cầm phượng vĩ hàn
Tử Kỳ bất tại, hướng thùy đàn ?
Xuân phong măn diện giai bằng hữu
Dục mịch tri âm, nan thượng nan.
(Dao cầm đập nát đau ḷng phượng
Đă vắng Tử Kỳ đàn với ai
Gió xuân bốn phía bao bè bạn
Khó thay t́m được bạn tri âm)
Bốn câu thơ là bài văn tế cho bạn. Bá Nha quay
lại phía lăo ông, sụp quỳ xuống:
- Bá Kỳ Tử Nha đă y lời hẹn đến
đây rồị Nay tiểu sinh có đem theo ít nén vàng,
xin thành tâm dâng lên bá phụ cùng bá mẫu để
cung dưỡng tuổi già và tạo mươi mẫu
ruộng làm tự cho Tử Kỳ. Bốn năm nữa
hạ quan sẽ dâng biểu từ quan, về đây
chung sống với bá phụ bá mẫu, với người
bạn tri âm.
Chung lăo không từ chốị Bá Nha lạy Chung lăo,
lạy tạ từ bạn rồi quay xuống cho
thuyền nhổ sào, trở về nước
Tấn.
Điển Tích Truyện Kiều - Chàng Tiêu
Có điều chi nữa mà ngờ
Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu
Hững hờ chàng Tiêu chuyện được ghi trong sách
T́nh sử Trung Quốc:
Thời Khai Nguyên nhà Đường, có chàng Tú tài Thôi Giao,
văn tài trác tuyệt, nhưng thế cô, nhà lại nghèo
xơ xác nên khó bề lập thân. Tuy vậy chàng Tú vẫn
thiết tha yêu đời v́ có người yêu Lục Châu,
một dung nhan kiều diễm đang tuổi trăng tṛn,
giỏi thi phú, đàn ca xướng hát.
Gia cảnh Lục Châu cũng vào thuộc loại bần
hàn, nên nàng phải làm thị tỳ cho người cô
của Thôi Giao. Cũng là một cơ may để cho
đôi lứa có nơi chốn mà t́nh tự. Bà cô cũng có
ư muốn tác hợp cho hai trẻ, nên cô gắng buôn bán vài
chuyến lớn kiếm lăi, tổ chức hôn lễ
đàng hoàng và cho đôi tân hôn chút của hồi môn.
Chẳng may, chuyến buôn này rồi chuyến buôn khác
cứ bị lỗ lă nặng. Gia sản bà sa sút quá nhanh
chóng, rồi sinh nợ chồng chất. Đường
cùng, để khỏi bị con nợ tịch biên nhà
cửạ bà cô phải bán Lục Châu cho quan Liên súy Vũ
Địch, giá bốn mươi vạn tiền.
Vậy là từ đó, đôi uyên ương như chim
cụt cánh, như cây cụt cành.
Quan Vũ Địch đưa nàng Lục Châu vào dinh
nhưng vẫn không làm điêù chi sỗ sàng quá đáng. C̣n
chàng Thôi Giao th́ lang thang thất thểu đó đây, tự
đặt tên cho ḿnh là Tiêu Lang. Nhưng dù có nghêu ngao ở
đâu, sáng nào chàng ta cũng đứng ngấp nghé ngoài
cổng dinh phủ, mong được nh́n thấy
người yêu. Nhưng mỗi lần may mắn gặp
mặt, Tiêu Lang lại phải nén ḷng, quay mặt đi
nơi khác, làm ra vẻ hờ hững. Lục Châu cũng
bị xé nát tâm cang, cắn răng cúi đầu, lẫm
lũi bỏ đi. Giọt châu lă chă khôn cầm.
Một hôm, vào tiết hàn thực trời rét như cắt,
Lục Châu có việc ra ngoài, phải mặc đến hai
áo bông; nàng chợt trông thấy Tiêu Lang đứng
dưới gốc liễu rũ, thân thể gầy g̣ run
rẩy trong trong chiếc áo rách mỏng manh. Không cầm ḷng
được, nàng chạy đến ôm chầm lấy
chàng. Thôi th́ tha hồ mà khóc, kể lễ nỗi nhớ
thương. Lâm ly lắm rồi cũng phải ngậm
ngùi chia tay. Lục Châu choàng áo bông ôm ấp hơi ấm cho
chàng. Thôi Giao cỡi chiếc áo rách lổ chổ, viết
lên đó mấy câu thơ tặng nàng:
" Công tử vương tôn trực hậu trần
Lục Châu thúy lệ thấu la cân
Hầu môn nhất nhập thâm như hải
Ṭng thử Tiêu Lang thị lộ nhân "
Ngô Tất Tố dịch:
Theo chân bao kẻ ngộp mùi hương
Tầm tă khăn the lệ mấy hàng
Một tới cửa hầu sâu tợ biển
Chàng Tiêu từ đó khách qua đường.
Lục Châu ôm thơ về, đêm đêm gối đầu
chờ mộng.
Trong phủ Liên Súy Vũ Địch có một tên hầu,
ngày trước đă từng rắp' tâm bắn sẻ
Lục Châu, nhưng đâu được toại nguyên, nên
sinh thù ghét. Gặp dịp may đưa đến, hắn
trộm chép bài thơ, dán gần cửa thư pḥng Vũ
Địch. Quan đọc được thơ, tra
hỏi kẻ hầu người hạ, biết
được tác giả là Tiêu Lang Thôi Giao. Vũ
Địch cho lính truy t́m, đưa được Thôi Giao
vào phủ đường. Tiêu Lang nghĩ rằng mạng
sống sắp tiêu tùng, nhưng dù có được
chết v́ t́nh, cũng không khỏi run sợ. Nhưng khi
tiếp kiến Vũ Địch, quan không bắt qú
chịu tội, mà lại chỉ ghế mời ngồi.
Quan bước lại gần, cầm lấy tay Tiêu Lang,
cười độ lượng:
- Một tới cửa hầu sầu tợ biển, Chàng
Tiêu từ đó khách qua đường. Hai câu thơ này
hẳn làcủa Tiêu Lang rồi. Từ lâu ta vẫn nghe danh
Tú tài Thôi Giao tài hoa. Nhưng chỉ v́ tội nghèo mà không
tiến thân được, lại không giữ
được người yêu. Sá ǵ bốn mươi
vạn tiền mà ta phải làm tan nát một mối t́nh.
Vũ Địch cho người hầu chuẩn bị
một số tiền bạc, nữ trang và mộ t cổ
xe ngưa, rồi cho mời Lục Châu:
- Nay ta ban tặng cho người con gái thủy chung chút
vốn liếng và lễ vật. Nàng hăy lên xe cùng với
Thôi Giao, về quê cũ xây tổ ấm.
Điển Tích Truyện
Kiều - Đào Nguyên
Chào mừng , đón hỏi ḍ la
Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây
Đào nguyên là gốc đào, có người c̣n gọi là
động đào nguyên hoặc động bích
(động xanh).
Đời nhà Tấn có nhà thơ Đào Tiềm, tức
Nguyên Lượng Đào Uyên Minh. Trong những bài thơ
của ông, được truyền tụng nhất là hai
bài Quy khư lai từ và Đào Nguyên kư, được
kể thành chuyện:
Đời nhà Tấn , tại huyện Vơ Lăng có một
lăo chài, đánh cá dọc theo khe núị Một hôm đang
chèo thuyền đánh cá, ông thấy một đóa hoa đào
trôi từ khe núi rạ Ông nghĩ:
- Hoa đào trôi ra từ nơi phát nguyên, chứng tỏ
ở đầu nguồn có dân cư và nơi ấy có
trồng nhiều hoa quí, nhất là anh đào.
Ông lăo chèo thuyền ngược ḍng nước để
t́m chốn đào nguyên. Thuyền đi măi, chỉ thấy
rừng núi xanh mướt, lăo ông không nản. Sau cùng
cũng t́m đến được một nơi dân cu khá
đông, đời sống an nhàn và có trồng nhiều loài
hoa quí, nhất là hoa đào.. Lăo ông đi sâu vào xóm th́
thấy ở đây vườn đào san sát, đúng là
một động đào. Dân sống trong các vườn
đào đều ăn mặc theo y phục kiểu nhà
Tần, thời Chiến quốc. Thật là một
điều lạ, ở nơi rừng sâu núi cao lại có
một vùng dân cư, cuộc sống đă có từ lâu
đời mà không ai biết. Hỏi ra mới hay: họ
vốn là những người nước Tần, nhưng
không chịu được chế độ hà khắc
của Tần Thủy Hoàng và tướng Ly Tư nên kéo
nhau di cư lên đây đă mấy đời. Con
ngườ sống ơ" đây thật khả ái, thanh
thản. Lăo ngư ông lưu lại ít ngày, rồi xuôi ḍng
trở làng cũ, thuật lại mọi điều ḿnh
đă trông thấy nơi đào nguyên.
Thời gian sau, lăo ông rời bỏ quê ḿnh, ngược ḍng
t́m đến đào nguyên. Những đào nguyên
trước, không c̣n t́m thấy đâu nữa.
Hay đây là cảnh tiên. Từđó người
đời sau dùng chữ đào nguyên để chỉ
nơi tiên cảnh .
Điển Tích Truyện Kiều - Đoạn
Trường
" Làm cho sống đọa thác
đày
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi"
Đoạn trường nghĩa là đứt từng khúc
ruột. Khi chịu sự đau khổ cùng cực,
nỗi đau có thể làm cho người đứt
từng khúc ruột hay có thể ĺa đời.
Sách "Đường thi kỷ sự" đă chép
chuyện nàng Mạnh Tài Nhân của vua Đường
Vũ Tông:
Khi lâm chung. biết ḿnh không qua khỏi, Đường
Vũ Tông nắm chặt tay Mạnh Tài Nhân mà rằng:
- Ta chết đi cũng đành, nhưng thương cho
người rồi sẽ ra sao..
Mạnh Tài Nhân nấc từng tiếng, chỉ vào chiếc
túi vải đựng ống sáo:
- Thần thiếp xin lấy chiếc túi đó để
tự vẫn, theo cùng quân vương.
Vũ Tông bật khóc. Mạnh Tài Nhân thưa:
- Xin bệ hạ hăy nghe thiếp ca bài Cung từ của
Trương Hộ để tiễn đưa thiêp cùng
bệ hạ xa ĺa cơi đời này.
Tiếng hát cất lên cao vút, cao vút nghe quá i ai, đến
hết bài th́ nàng đứt hơi, đứng bất
động trước vua. Nhà vua gọi ngự y khám và
được tâu lại: Mạch của tài nhân vẫn c̣n
ấm, nhưng nàng đă đứt ruộ t màchết
rồi.
Vua thương xót quá đỗi và rồi cũng theo nàng
đi luôn.
Đến khi di quan, th́ linh cữu nhà vua như tŕ xuống
quá nặng, đội quân khiêng không nhắc lên nỗị
Hay là Hoàng thượng c̣n muốn đợi tài nhân? các quan
bèn sai đưa quan tài của Mạnh Tài Nhân rạ Quả
nhiên, quan tài của hai người được khiêng
đi rất đằm.
Cảm kích cho mối t́nh thắm thiết , Trương
Hộ viết bài thơ, đề tựa: "Tài nhân v́
ḷng thanh nên đứt ruột mà chết, nhà vua v́ ḷng thành
mà mệnh chung; những kẻ khích liệt ngày
trước v́ nghĩa mà chết cũng không hơn
được." Thơ rằng:
" Ngẫu nhiên ca băi vịnh kiều tần
Truyền xướng cung trung nhị thập xuân
Khước vị nhất thanh Hà Măn Tử
Hạ tuyền tu điếu cựu Tài nhân "
(Ngẫu nhiên tàn tiệc vịnh đôi vần
Truyền tới trong cung hai chục xuân
Lại bởi một câu Hà Măn Tử
Tuyền đài phái điếu bậc Tài nhân)
Điển Tích Truyện Kiều -
Đồng Tước
"Thanh minh trong tiết tháng Ba"
chị em Kiều trên đường đi tảo mộ
về, chợt trông thấy nấm mồ hoang đầy
cỏ dại, lạnh không chút khói hương. Trong lúc ḷng
Kiều đang xót xa cho thân phận Đạm Tiên, th́ Kim
Trọng, trên lưng ngựa trắng, theo sau lẻo
đẻo hai tiểu đồng, cũng t́nh cờ đi
ngang qua đấỵ Lần đầu tiên
được diện kiến giai nhân, tâm trạng vui
mừng của chàng thư sinh được diễn
tả bằng hai câu thơ:
Trộm nghe thơm phức hương lân
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều.
Đồng Tước, tên của một đền
đài nguy nga tráng lệ thời Tam Quốc, nay không c̣n
nữạ Khi qua sông Xích Bích, Đỗ Phủ đă có bài
thơ hoài cổ, trong đó có câu:
Đông phong bất dữ Châu Lang tiện
Đồng Tước thâm xuân tỏa nhị Kiềụ
(Gió đông chẳng giúp thuận chiều
Trong đền Đồng Tước hai Kiều khóa xuân)
(Trần Trọng Kim dịch).
Trở lại thớ Tam Quốc . Tào Tháo tự Mạnh
Đức, là Ngụy Vơ Đế cho xây đài Đồng
Tước trên sông Chương Giang, tỉnh Hà Nam. Trong lễ tiệc khánh thành, Tào Thực, con
của Tào Tháo, đă làm bài phú vịnh Đồng
Tước đài, có câu:
Liên nhị kiều ư Đông Tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống.
(Bắc liền hai cầu ở Đông Tây như các
cầu vồng nổi lên giữa lưng trời).
Vào lúc này, thế của Lưu Bị đă suy yếu
hẳn; quân sư Khổng Minh phải vận dụng
mưu lược mong khôi phục nhà Hán, bằng cách
phải tạo mối thù nghịch giữa Tôn Quyền và
Tào Tháọ Ở Giang Đông, tuy Tôn Quyền là chúa tể ,
nhưng mọi binh quyền đều thuộc về tay
Châu Dụ Châu Du và Tôn Sách, chúa của Đông Ngô là hai anh em
cột chèo, rể của Kiều Công. Tôn Sách lấy
người chị là Đại Kiều, Châu Du, lấy
người em là Tiểu Kiềụ Cả hai chị em
đều là giai nhân tuyệt sắc.
Khổng Minh lặn lội vào Đông Ngô, t́m đến Châu
Du:
- Trong lúc thế chiến đang căng thẳng, dân gian
đang mong đợi thanh b́nh, vậy mà Tào Tháo vẫn
lấy uy quyề của vua để ức hiếp
mọi nơị Lại c̣n lấy của kho, xây đài
Đồng Tước tốn kém biết bao nhiêu mà kể,
mục đích làm ǵ, tướng quân có biết không ?.
Châu Du chưa trả lời, th́ Khổng Minh đă tiếp:
- Tào Tháo xây Đồng Tước đài là muốn gây
chiến vơi Đông Ngộ
- Muốn chiến tranh với Đông Ngô th́ xây đài
Đồng Tước làm ǵ ?
- Thật t́nh tướng quân không biết sao ?.
Châu Du lắc đầụ Khổng Minh tiế'p ngay:
- Chẳng lẽ việc Tào Tháo luyện tập thủy binh
ngày đêm, tướng quân không biết saỏ
Châu Du ngậm ngự:
- Việc đó tôi có nghe
Khổng Minh bồi thêm:
- Cùng với việc luyện tập thủy binh, Tào Tháo c̣n
cho xây cất Đồng Tước đài, để sau
chiến tranh, chiếm cứ được Đông Ngô, Tào
Tháo sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều
về Đồng Tước đài mà hoan lạc.
Châu Du mặt đỏ gay, thét to:
- Dựa vào đâu mà ông dám nói Tào Tháo xây Đồng
Tước đài để bắt Nhị Kiều đem
về hành lạc.
Khổng Minh thong thả đáp:
- Xin tướng quân hăy nguôi giận. Vậy th́
tướng quân không biết bài phú của Tào Thực
vịnh Đồng Tước đài à. Nguyên văn như
thế này....
Nhưng đến hai câu:
Liên nhị kiều ư Đông Tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống...th́
mưu sĩ Khổng Minh lại đọc là:
Lăm nhị Kiều ư Đông Nam hề
Lạc triêu tịch chi dữ cộng
(Bắt hai nàng Kiều ở Đông Nam về để
sớm tối chung vui).
(nhị kiều của Tào Thực là hai cây cầu; nhị
Kiều cuả Gia Cát Lượng làvợ của Tôn Sách và
vợ của Châu Du)..
Châu Du, tươ"ng hữu dơng vô mưu đă trúng
kế độc của Khổng Minh. Sau đó,
tướng này đă dàn trận hỏa công trên sông Xích Bích,
thiêu rụi mười vạn quân Tào, Ngụy Vơ Đế
đại bạị Lợi dụng thời cơ,
Lưu Bị xua quân chiếm Kinh Châu, chiếm' vào
Lưỡng Xuyên, h́nh thành thế chân vạc thời Tam
Quốc.
Điển Tích Truyện Kiều - Gieo Thoi
Gieo thoi trước chẳng giữ
giàng,
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?
Gieo thoi, ư muốn nói người con gái ném con thoi của
khung dệt để bảo toàn tiết hạnh.
Trong tích Tây Sương kư cũng có lời nàng Thôi Oanh Oanh
"gợi ư" cho Trương Quân Thụy v́ có t́nh ư cùng
chàng: "Quân tử hữu viện cầm chi khiêu, bỉ
nhân vô đầu thoa chi cự (quân tử có ôm đàn mà
bỡn cợt, bỉ nhân này không dám quăng thoi mà cự
tuyệt).
Theo chuyện đời nhà Tấn, Tạ Côn có cô hàng xóm
họ Cao nhan sắc khó ai b́, chuyên nghề dệt cửi.
Tạ Côn thường hay t́m qua nhà cô gái thả lời ong
bướm. Có lần, cô gái ngưng dệt, cầm con thoi
ném vào mặt Tạ Côn, làm chàng ta găy mất hai cái răng.
Từ đó hết lời trêu ghẹo.
Điển Tích Truyện Kiều - Giọt
Hồng
Nh́n càng lă chă giọt hồng
Rỉ tai, nàng mới giăi bày trước sau:
Hổ sinh ra phận thơ đào
Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong ?
Trong sách thuốc có viết: Nhân hữu vựng uất,
hốt hôn mê bất tỉnh nhân sự (người có
chứng vựng uất thường hay bị ngất).
Giọt hồng, giọt nước mắt có màu hồng
như máu, người đời c̣n gọi là huyết
lệ khóc cho nổi đau khổ cùng cực trong những
ḥan cảnh khốn cùng. Điển tích Giọt hồng có
trong trong Ngụy Thư:
Đời vua Ngụy Văn Đế có vị quan
Tiết Hằng tuổi già về quê ở huyện Lộc
Nam cùng với vợ và con gái Tiết Linh Vân. Linh
Vân đang tuổi trăng tṛn, nổi tiếng là một
trang thiên hương quốc sắc, học giỏi,
lại rất hiếu thảọ Hai năm sau khi Tiết
Hằng về quê, trong vùng Lộc Nam nạn cướp bóc
hoành hành, giáp biên giới giặc giă lại nổi lên.
Triều đ́nh sai Trương Bá Sanh, một vị quan
trẻ kiêu ngạo, tham lam, về dẹp loạn. T́nh h́nh
tạm yên; Bá Sanh được bổ nhiệm làm tri
huyện Lộc Nam.
Nghe tiếng nhan sắc Linh Vân, quan huyện mon men t́m
đến. Khi trở về, tức tốc huyện ta cho
người mai mối. Cha con Linh Vân từ chối. Bá Sanh
sinh thù. Nhân lúc giặc giă lại nổi lên, Bá Sanh lập
mưu vu cáo lăo quan về hưu tư thông giặc rồi
sai nha quân đến nhà bắt Tiết Hằng dẫn lên
huyện đường, giam vào ngục, nói là chờ ngày
xét xử nhưng thật ra để ép duyên Linh Vân. Linh Vân
quá đau đớn v́ nỗi hàm oan của cha, đánh
liều gởi thư về triều kêu oan. Làm sao thư
đến được tay vua. Linh Vân lại thư
cầu cứu đến vị quan thứ sử họ
Huỳnh, là một người bạn cũ của cha
nàng. Huỳnh Thứ sử vào chầu vua xin chiếu
chỉ, phái Mạnh Quang, một viện sĩ Hàn Lâm
giỏi văn chương thi phú, về huyện Lộc Nam tuần tra.
Hai tháng về Lộc Nam thanh tra, hồ sơ kêu oan của người
dân đă chất cao ngất, vậy mà hàn sĩ Mạnh
Quang không hề ngó ngàng tới. Suốt này quan thanh tra
chỉ thơ thới với gió núi mây ngàn, chẳng
buồn quan tâm đến chuyện thế sự.
Một hôm Mạnh Quang lang thang xuống đường.
Phố chợ sao mà đ́u hiu, dân t́nh xơ xác. Mạnh Quang
ghé vào một quán nước chè, bỗng gặp một giai
nhân, áo quần xốc xếch, không chút phấn son, đang
ngồi khóc tấm tức. Mạnh Quang hỏi ḍ bà lăo
chủ quán, mới hay người đẹp là Tiết
Linh Vân đang khóc cho nỗi oan khiên của cha. Bấy
giờ Mạnh Quang mới chợt nhớ nhiệm vụ
của ḿnh là về đây giải oan cho gia đ́nh
người con gái hiếu thảo này.
Mạnh Quang đi thẳng đến huyện
đường Lộc Nam, vào nhà tù thăm các phạm nhân. Mạnh Quang
đ̣i quan huyện Trương Bá Sanh tŕnh những hồ
sơ của các phạm nhân có quan hệ với giặc.
Xét xong hồ sơ, Mạnh Quang chỉ thị phóng thích
hết các tù nhân loại này v́ không đủ chứng
cứ buộc tội.
Huyện quan chấp hành lệnh quan triều đ́nh. Ít hôm
sau, Mạnh Quang lại xuống chợ, ghé lại quán
nước chè của bà lăo, lại vẫn thấy nàng
Tiết Linh Vân ngồi khóc tức tưởi. Hỏi ra
mới hay, nhiều tù nhân đă được về
đoàn tụ gia đ́nh, nhưng phụ thân của nàng
bị hàm oan, vẫn chưa được cứu xét.
Mạnh Quang hộc tốc quay về nha phủ gặp quan
huyện:
- Ta được chiếu chỉ về huyện Lộc Nam này xét lại các vụ án kêu oan. Nay, ta muốn
thẩm tra hồ sơ của Tiết Hằng,
người bị kết tôi tư thông với giặc.
Th́ ra, Bá Quang đă dấu nhẹm hồ sơ của
Tiết lăo. Bây giờ quan khâm sai của triều đ́nh
đă gọi đích danh th́ phải tŕnh rạ Bá Quang
đem hồ sơ về, ngày sau trả lại cho Bá Sanh
với lời phê: không nhân chứng, không vật chứng
sao lại kết tội người ta, lệnh phải
tức tốc phóng thích nghi can.. Bá Sanh hận vô cùng,
nhưng đành cắn răng chấp lệnh của quan
khâm sai.
Hai ngày sau, Bá Quang t́m đến thăm gia đ́nh Tiết
Hằng. Một già một trẻ, mới gặp nhau
lần đầu mà đă tâm đắc, văn
chương thi phú đối đáp đến sáng đêm.
Tiết Hằng ngỏ ư muốn gả con gái ḿnh cho Bá
Quang. Quan khâm sai hân hoan nhận lời. Bá Qung cáo từ
phải về kinh tŕnh tấu kết luận thanh tra và xin
hẹn tháng sau sẽ trở lại lam lễ thành hôn cùng
Tiết Linh Vân.
Phần quan huyện Bá Sanh, v́ oán thù cha con Tiết Hằng,
nay lại được tin t́nh địch của ḿnh là
Bá Quang sắp ẵm nàng Tiết Linh Vân đi, đâu
được, ta phải cho chúng bây tan tác. Trương Bá
Sanh liền thư về triều đ́nh, dâng lên vua, xin
đề cử tiế'n cung một nhan sắc tuyệt
trần chim sa cá lặn. Vua Ngụy Văn Đế thích ư,
liền ra chỉ dụ, triệu Tiết Linh Vân nhập
cung.
Ôi thôi, lại một kiếp hồng nhan. Ngày phải
bước lên kiêu về cung, Tiết Linh Vân đă khóc
như mưa, nước mắt uớt cả xiêm y. Ḷng
quặn đau thương cha . nhớ mẹ, nặng t́nh
quê hương. Hai t́ nữ theo hầu, phải dùng một
b́nh sứ để hứng nước mắt cho nàng. Khi
về đến kinh thành, b́nh sứ đă đầy quá
nửa nước mắt hồng, cô đặc lại
như máu, gọi là huyết lệ.
Điển Tích Truyện
Kiều - Gương Vỡ Lại Lành
Bây giờ gương vỡ lại
lành,
Khuôn thiêng lừa lọc đă dành có nơi
C̣n duyên may lại c̣n người
C̣n lời trăng bạc, c̣n lời nguyền xưa
Quả mai ba bảy đương vừa
Đào non sớm lựa xe tơ kịp th́
Thời Nam Bắc triều, Trần Hậu Chủ là
một hôn quân, ham mê tửu sắc, không màng chi việc
triều chính. Trong lúc đó, nước Tùy ở
phương Bắc đang trổi dậy, thanh thế
lớn nhanh; Từ Văn Đế Dương Kiên
ngấp' nghé mưu toan diệt Trần.
Em gái Trần Hậu Chủ là quận chúa Lạc
Xương, một giai nhân tuyệt sắc, có chồng là
nho sĩ Từ Đức Ngôn. Tuy sống trong phú quí hoàng
cung, nhưng vợ chồng TừĐức Ngôn cứ
phập phồng lo sợ, một ngày nào đó ngoại xâm
sẽ giày xéo giang sơn nhà Trần.
Ngày đó không xa, quân Tùy đă tràn vào như thác lũ.
Đức Ngôn vội vàng thu quén ít tiền bạc,
định đưa cả gia đ́nh bỏ trốn
khỏi kinh thành. Nhưng Lạc Xương đă ngăn
lại:
- Chàng là bậc nam nhi, gặp lúc loạn ly, phải xả
thân cứu quốc. Thiếp sẽ luôn ở bên chàng, thà
chết vinh hơn là sống nhục.
- Đúng, ta phải ở lại góp sức diệt giặc.
Nhưng nàng, một nhan sắc không khỏi bị nhục
khi giặc tràn vàọ Vây nàng hăy vâng lời ta, một ḿnh
trốn đi.
Lạc Xương thuận theo lời chồng, rồi
cầm lấy chiếc gương hàng ngày ḿnh vẫn soi
bóng, đập vỡ làm đôi:
- Chàng hăy cầm lấy nửa mảnh gương này, thiếp
giữ một nửa. Nước sẽ mất, nhà sẽ
tan, nhưng t́nh đôi ta không có ǵ có thể chia cắt
được. Chúng ḿnh phải sống cho nhau; hẹn
chàng, đến ngày thượng nguyên, không được
năm nay, th́ qua năm khác, qua năm nữa..., vợ
chồng ḿnh đem mảnh gương này ra chợ Tràng An
bán. Nếu trời thương cho vợchồng ḿnh c̣n
gặp nhau, th́ hai mảnh gương sẽ đuợc
ghép khít vào , gương vỡ lại lành, đôi ta sum
vầy.
Vợchông bùi ngùi chia tay.
Chưa đầy một tháng, kinh thành nước Trần
thất thủ, vua tôi lưu lạc tán loạn.
Tướng Tùy là Việt Công xua quân, tha hồ càn quét.
Lạc Xương, từ ngày chia tay chồng đă
chạy thoát gần đến biên giới an toàn, nhưng
v́ lo âu cho chồng, nên lại quay trở về kinh thanh ḍ
la tin tức, không may lọt vào ṿng vây của giặc.
Một nhan sắc giữa rừng gươm, hỏi ra
lại là ḍng dơi trâm anh thế phiệt, th́ làm sao Việt
Công lại không rúng động. Tên tướng Tùy liền
giành lấy cánh hoa này, đem về ép làm hầu thiếp.
Lạc Xương kháng cự mănh liệt, hoặc là
giữ được tiết hạnh hoặc chọn
lấy cái chết. Cũng may, Việt Công không phải là
tên vơ biền háo sắc, hạ tiện nên đă không cố
ép liễu nài hoa. Nghĩ rằng rồi thời gian, giai
nhân sẽ xiêu ḷng nên cho nàng cấm cung, có đàn cung nữ
hầu hạ, canh giữ ngày đêm.
Rồi xuân đến, lơi hẹn ḥ Tết nguyên tiêu hăy
t́m đến nhau, nhưng giờ này đôi uyên ương
lưu lạc nơi nào. Phần nàng, bị vây trùng trong cung
cấm, làm sao đem mảnh gương t́m ra chợ
đây?.
Phần Từ Đức Ngôn, từ khi kinh thanh thất
thủ, bôn ba chạy đi khắp nơi; kịp lúc xuân
về, chàng hồi hộp đem mảnh gương
vỡ ra chợ, giả vờ bán.
Trong cung cấm. Lạc Xương may mắn đă
thuyết phục được một nàng hầu, nên
đúng ngày rằm tháng giêng nàng đă nhờ hầu nữ
này cầm mảnh gương ra chợ Tràng An t́m
Đức Ngôn. Đến chợ, hầu nữ thấy
đám đông đang đứng vây quanh một anh chàng,
trêu chọc thằng điên đang đ̣i bán một
tấm gương vỡ với giá ngàn vàng.
Biết là gặp đươc người đang t́m, cô
hầu đưa ngay nửa mảnh gương cho
thằng điên. Hai mảnh gương ghép khít vào nhau,
Từ Đức Ngôn bật khóc như đứa trẻ.
Chàng hôn hít tấm gương rồi viết vào mặt sau,
bài thơ gởi người t́nh:
Ảnh dữ nhân câu khứ
Ảnh qui nhân vị qui
Vô phục hằng nga ảnh
Không lưu minh nguyệt huỵ
Theo người gương vỡ mắt sâu
Gương đà về đó, nhưng đâu thấy nàng
Chị Hằng cũng quạnh tâm cang
Vầng trăng sầu muộn úa vàng năm canh.
Nàng hầu lật bật đem gương về. Lạc
Xương đọc được thơ, ôm lấy hai
mảnh gương vào ḷng mà khóc tức tưởị
Việt Công t́nh cờđi vào, trông thấy, gạn hỏi
sự t́nh. Lạc Xương phải t́nh thật, kể
lại hết chuyện t́nh của ḿnh. Nghe xong chuyện,
Việt Công giả vờ nghiêm giọng thét to:
- Gương đă vỡ..
Lạc Xương hoảng hốt:
- Nhưng...
Sắc diện của Việt Công bỗng hiền ḥa,
đôn hậu:
- Nhưng ..giờ nay lại lành. Ta cảm phục mối
t́nh của hai ngườị Dù ḷng dạ lang sói cũng
phải động ḷng...
Rồi Việt Công sai quân hầu lập tức chạy ra
chợ rước Từ Đức Ngôn vào thành, đăi
đằng trọng thể, trao trả hạnh phú c cho t́nh
yêu.
Điển Tích Truyện Kiều - Hán Sở
Chiến Trường
So dần dây vũ dây văn
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt , tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư mă Phượng cầu
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng ?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng Hoa nhạc, hai rằng Qui vân
Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
Tiếng khoang như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ
mưạ.
Đây là chuyện Hán Sở tranh hùng, đoạn kết oan
nghiệt của mối t́nh Hạng Vơ Ngu Cơ:
Với mưu lược của Hàn Tín, quân Hán của
Lưu Bang đă chiếm được Bành Thành, cứ
điểm cuối cùng của quân Sở. Hạng Vơ
phải kéo quân về thủ trại trên bờ sông Ô Giang.
Tuy t́nh h́nh đă nguy khốn, nhưng quân số Sở
vẫn c̣n kháđông. Hạng Vơ lại là một dũng
tướng phi thường, trong một ngày đánh lui
hơn 60 viên tướng Hán mà đao không nhụt, ngựa
không lùị V́ vậy quân Hán chỉ bao quanh trại quân
Sở reo ḥ inh ỏi, nhưng không có thêm tướng nào dám
vào nghinh chiến với Hạng Vơ.
Tướng sĩ tâu tŕnh với Hạng Vơ:
- Cả ngày hôm nay, Đại Vương thân không rời
giáp , ngựa chẳng hở yên. Bây giờ tướng Hán
đă khiếp sợ, án binh bất động. Vậy xin
Đại Vương cho đóng dinh để Hoàng hậu
nghỉ tạm qua đêm.
Hạng Vũ đồng ư và cho mời Ngu Cơ
đến:
- Quân Hán đă cướp thành. Đêm nay ái hậu cùng ta qua
đêm bên gịng sông Ô Giang này, màn trời chiếu cỏ
kể cũng thi vị. Ngày trước ta đánh
Chương Hàm, phải mất chín ngày mới thắng
được. Nay chỉ một sớm chiều đă
đánh bạt được hàng chục tướng Hán,
chỉ v́ muốn kết trận sớm để về
với nàng.
Trong lúc ấy, quân sư Hàn Tín của Lưu Bang đang
đứng ngồi không yên, suy mưu tính kế. Các
tướng Hán đă hợp sức giao tranh với
Hạng Vơ mà vẫn thua chạy dài, th́ không dùng thế
cương mà thắng được. Hàn Tín cho mời
Trương Lương đến vấn kế:
- Luôn mấy ngày ác chiến với Hạng Vương, các
tướng Hán không ai địch nổị Nếu
để t́nh h́nh này kéo dài, Hạn Vương sẽ thoát
được ṿng vây, kéo về Giang Đông mà dưỡng
binh, th́ chiến sự sẽ khó phân bề thắng
bạị Xin tiên sinh chỉ giáo một mưu
chước mới ḥng đánh bại được
Sở vương.
Một chút trầm ngâm, Trương Lương trả
lời:
- Việc đó không khó. Bây giờ cứ làm cho các
tướng sĩ của Hạng Vơ phân lỵ Khi Sở
vương đă bị cô thế rồi, th́ ta bằ't
sống dễ dàng. Từ nhỏ, tôi có học
được khúc tiêu của một dị nhân. Nghe khúc
tiêu này, ḷng người xao động mănh liệt t́nh hoài
hương, đang vui th́ sẽ hân hoan khó tả, đang
buồn th́ lại càng da diết nhớ quệ Nay đang
lúc vào thu, gió heo may về, cây cỏ xao xác lá vàng, kẻ
chiến chinh chắc không thể nào không thổn thức
nhớ quệ Tối nay, tôi sẽ vào vách núi Kê Minh, trong
canh vắng, tiếng tiêu vọng lên th́ quân tướng
Hạng Vơ chẳng c̣n ḷng dạ nào mà nghĩ đến
chuyện binh đao.
Đêm về khuya, làn gió se lạnh, ánh trăng thu nhạt
nḥa trong màn sương. Tiếng tiêu trỗi lên réo rát,
sầu thảm như ḷng cô phụ, mênh mang như ḷng
mẹ nhớ con, thỏ thẻ như tiếng trẻ mong
cha về... ḷng ai có sắt đá đến đâu bỗng
chốc cũng yếu mềm như cánh liễu non
trước cơn gió lốc. Tiếng tiêu lại c̣n cách
đoạn bằng lời ca bi ai:
Đêm thu mù mịt trời sương
Có người thiếu phụ quê hương lạnh lùng
Sa trường vó ngựa
Trẩy gót binh nhung
Con thơ nheo nhóc mịt mùng dặm xa
Cơ hàn đau đớn mẹ cha
Canh khuya ṿ vơ tuổi già đợi con
Chí trai vạn dặm
Hồ thỉ bốn phương
Nhưng con đi đă lầm đường
Giúp người tàn bạo không thương dân t́nh
Mơ mang giữa nửa giấc ba sinh
Một đi một nhớ một ḿnh canh thâụ
Tiế'ng địch trên sông Lô dẫn theo lời ca nỉ
non đă mau chóng làm mềm ḷng tướng sĩ của
Sở vương. Họ buông gươm giáo, cỡi
bỏ chiến bào, lặng lẽ đào ngũ. Chỉ c̣n
lại hai tướng trung kiên là Chu Lan và Hoang Sở đă
cưỡng lại đước cái âm thanh mê hoặc
đó. Cả dinh trại trong phút chốc bỗng rơi vào
cái tĩnh lặng đáng sợ. Chính cái tĩnh lặng này
đă đánh thức dũng tướng Hạng Vơ. Sở
vương vùng đứng đậy, quay mặt về
phía núi Kê Minh, nơi đang vọng ra tiếng tiêu năo nùng.
Sở vương ngửa mặt lên trời than:
- Ôi cơ đồ của ta, trong thoáng chốc đă tiêu
tan v́ tiếng tiêu này.
Hai vị tướng quân đang qú dưới
trướng, cúi đầu không nói nên lờị Hạng
Vơ truyền hai tướng bày ti^ẹc rượu, rồi
cùng Ngu Cơ đối ẩm:
Tấm thân lấp biển vá trời
Thanh gươm yên ngựa một đời dọc ngang
Giờ đây mưa gió phũ phàng
Anh hùng mạt lộ giang sơn tan tành.
Ngu Cơ nhắp tiếp mây chung rồi đáp:
Cát đằng nương bóng cội tùng
Bấy lâu khăng khít thủy chung một ḷng
Tả tơi v́ ngọn gió đông
Cội tùng ngả bóng cát đằng bơ vơ.
Mặc cho trời đổ, đất nghiêng, như
đôi t́nh nhân đang say men t́nh, Hạng Vơ Ngu Cơ vẫn
ngồi b́nh thản uống rượu ngâm thơ.
Đến lúc trời rạng ánh mai, Chu Lan và Hoàng Sở
mới rón rén bước vào:
- Trời sắp sáng rồi, xin quân vương lên
đường bôn tẩu.
Ngu Cơ cũng hối thúc:
- Xin lang quân hăy nhanh chóng lên đường, đừng v́
t́nh mà lụỵ Cả một cơ đồ lang quân hăy
phục hưng lại Xin một lạy tạ từ phu
quân. Thiếp không thể theo phu quân làm vướng bận
bước chân người.
Hạng Vơ hiểu ư người yêu, rút đoản đao
ra trao cho nàng. Ngu Cơ cầm lấy, đâm vào cổ
tự vẫn, vĩnh biệt t́nh lang . Hạng Vơ
nước mắt đầm đ́a, thét lớn: Ngu Cơ
t́nh ơi !. Cùng lúc ấy, quân Hán kéo vào vây phủ. Hạng
Vơ một thân một ngựa phá được ṿn g vây,
thoát ra bờ sông Ô giang. Giang sơn giờ nay đă tan
mờ sương khói, không thể nào khôi phục
được. Hạng Vơ quay nh́n gịng sông, rút gươm
tự kết liễu một đời vẫy vùng dọc
ngang. Người đời sau có thơ:
Sức mạnh kinh thiên vạn cổ truyền
Vẫy vùng yên mă đoạt giang yên
Hạ thành ai luận anh hùng sự
Mănh hổ sa cơ cũng phải hèn
Điển Tích Truyện Kiều - Hoa Tàn Mà Lại
Thêm Tươi
Hoa tàn mà lại thêm tươi Trăng
tà mà lại hơn mười rằm xưa
Hoa tàn mà lại thêm tươi điển tích trong sách Tam
ngôn truyện.
Thời Tống Nhân Tông có chàng Thu Tiên uyên bác, nhưng không
màng công danh, sống ẩn nhẫn cùng hoa thơm cỏ
lạ.
Vợ mất sớm, không có con, từa tự
được mấy mẫu đất, chàng không canh tác
màu, mà chỉ trồng hoa. Cơm không đủ ăn, áo
không có mặc, được đồng nào chàng dành
để mua những giống hoa quí. Vườn hoa
của Thu Tiên đẹp nổi tiếng ở đất
Giang Nam.
Bấy giờ trong thành B́nh Giang có tên Trương Ủy
ngang tàng, độc ác, chẳng coi ai ra ǵ. Một hôm
hắn ta cùng bọn thủ hạ đi ngang qua nhà của
Thu Tiên, nh́n thấy vườn hoa quí bạt ngàn màu sắc
rực rỡ. Trương Ủy chẳng cần hỏi
han chủ nhân, sai bọn thuộc đạp đổ hàng
giậu, xông thẳng vào trong tha hồ bẻ, ngắt hoa.
Thu Tiên quá đau ḷng, nhưng càng van xin th́ tên Trương
Ủy và thuộc hạ càng làm tới:
- Mày không biết ta là ai à? Hôm này có ta đây đặt chân
đến vườn hoa này là vinh hạnh cho mày
đấy. A ḱa, loại hoa mẫu đơn kia mới
đẹp làm sao. Thật là uổng phí loài hoa quí phải
yên phận trên mảnh đất của tên ngốc
nghếch này. Khu vườn này phải thuộc về ta.
Nói xong, tên côn đồ lại giang tay bứt hết
những cánh hoa mẫu đơn. V́ quá thương yêu hoa,
Thu Tiên đă phải chắp tay van xin:
- Xin công tử hăy nương tay, đừng hủy
hoại hoa tội nghiệp. Loài mẫu đơn này
đơn này tôi đă phải ngày đêm chăm sóc, nâng niu.
Trương Ủy cười ha hả, bóp nghiến cánh
hoa trong tay:
- Mày yêu hoa, mày chăm sóc nâng niu. Ta yêu trăng hoa ta thích dày
ṿ tan nát. Vườn hoa này phải là của ta. Ta cho mày ít
thời gian để lo cuốn gói đi ở nơi khác.
Ta sẽ trở lại đây sau hai ngày nữa, không
để tao phải trông thây các mặt thằng yêu hoa ngu
si như mày.
Bọn Trương Ủy bỏ đị Thu Tiên nằm
vật xuống lăn lộn, người xác xơ c̣n
hơn cả những cánh hoa tơi tả trên đất.
Chàng khóc tức tưởi như chàng thư sinh đánh
mất mối t́nh đầu. Bỗng có ai đó khẽ
động trên vai. Thu Tiên quay lại; một tiểu
thư kiều diễm đang nh́n chàng ngời thương
cảm.
- Xin hỏi tiểu thư từ đâu đến đây?
- Thiếp ở cach đây không xa. Nghe chàng khóc thương
cho loài hoa , thiếp xin đến đây được
chia sẻ nỗi niềm. Hoa đă rơi rụng hế t
rồi. Nhưng xin chàng chớ quá âu sầu. Chàng đă yêu
hoa như thế th́ muốn hoa tàn mà lại thêm tươi
cũng chẳng khó ǵ...
Đang lúc buồn bă , người đẹp lại nói
chuyện phong thần, Thu Tiên càng rầu rĩ thêm. Tiểu
thư biết Thu Tiên không tin, cũng chẳng phân giải;
nàng nói Thu Tiên hăy thu nhặt nhữ`ng cánh hoa tàn gom lại,
rồi đi gánh nước. Thu Tiên miễn cưỡng
làm theo. Khi đôi thùng nước quay lại, th́ kỳ
diệu thay cả vườn hoa bừng sống lại,
nở rộ hương sắc. Người đẹp
đă biến mất.
Thu Tiên quá đỗi mừng rỡ, chàng đưa tay
nựng từng cánh hoa mà cứ tưởng như trong
mợ Nàng ấy chăc hẳn là từ cơi trần tiên
về đây ban phép lành cho chàng.
Ḷng thành , Thu Tiên thắp nén hương, quỳ xuống van
vái:
- Xin tạ ơn tiên nữ giáng trần thương cho
kẻ trần gian này....
Lâng lâng với niềm vui dào dạt, chàng nằm xuống
giữa hai luống hoa, kê đầu bên một gốc
mẫu đơn rồi ngủ thiếp đi giữa áng
mây chiều. Chập chùng trong giấc mơ, Thu Tiên thấy
ḿnh đang gối đầu trên chân một thiếu
nữ; đúng là tiểu thư lúc ban ngày. Nàng cúi xuống
thủ thỉ bên tai chàng... thiếp nào đâu phải là
tiên nữ, mà chỉ là một kiếp hoa. Cảm ơn
chàng đă nâng niu đời hoa. Từ đây thiếp
sẽ măi ở bên chàng. Sẽ không có kẻ phàm phu nào
đến quấy nhiễu chàn g nữa. Chàng nặng t́nh
với hoa, th́ thiếp măi bên chàng, măi bên chàng....
Tiếng noí nhỏ nhỏ dần, nhỏ dần rồi
cùng với h́nh dáng yêu kiều hút vào ḷng đất
..Thu Tiên chợt tỉnh giấc mơ hoa; đầu chàng
đang kề sát một gốc mẫu đơn, thoang
thoảng tỏa hương thơm d́u dặt. Trên cao xa
lắc, ánh sao hôm đang lấp lánh.
Điển Tích Truyện
Kiều - Hồ Cầm
Cung thường làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một
chương.
Nàng Chiêu Quân, húy danh là Vương Tường, c̣n gọi là
Minh Phi, là một cung phi của vua Hán Nguyên Đế. Có quá
nhiều cung nữ được tuyển, đến
nỗi vua không sao thấy mặt hết. Có nhiều
hồng nhan , từ khi tuyển vào cung cho đến lúc vua
băng hà, chưa một lần được diện
kiến long nhan. Để tiết kiệm thời gian vàng
ngọc, vua truyền nội thần Mao Diên Thọ cho
họa sĩ vẽ chân dung từng cung phi trưng bày
tại nội điện, để cho vua chọn mỗi
ngày.
Các cung phi muốn h́nh của ḿnh đẹp mới mong
được ơn mưa móc, phải đút lót cho các
hoạ sĩ trổ tài phượng múa rồng bay. Nàng
Chiêu Quân, nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn,
lại có tài đàn ca giỏi, thi phú hay; nàng không thèm mua
chuộc nên các họa sĩ gieo họa, đă không vẽ
h́nh nàng. Vua nào hay biết đến nàng.
Ngày tháng Chiêu Quân ch́m sâu trong cung cấm. Một hôm tiếng
đàn lâm ly tỉ tê của nàng đến tai Lâm Hoàng
Hậu; bà cho vời Chiêu Quân đến mới hay Hán
Đế đă bỏ rơi một quốc sắc thiên
hương. Hoàng hậu tâu lại với vua. Vua nổi
giận, a th́ ra bọn thợ vẽ quả là khi quân.
Đám họa sĩ bị đem ra chém đầu; Mao Diên
Thọ bị khiển trách nặng.
T́m gặp Chiêu Quân, nhà vua giật ḿnh, ôi đúng là một
tiên nga, mắt sáng sao, mày xanh lá liễu, da tuyết mịn
màng. Mấy ngàn cung nữ đă tuyển chọn nay lùi sau
mộ t khoảng cách quá xa đối với nhan sắc,
tài nghệ Chiêu Quân. Hán Đế phong cho Chiêu Quân làm Tây Phi;
từ đó ngày đêm vua say đắm ở tây pḥng.
Bấy giờ, Hung Nô là nước lân bang nhưng
thường xuyên cứ đem quân quấy nhiễu biên
cương. Thời đại Tần Thủy Hoàng đă
cho xây vạn lư trường thành để ngăn giữ
rợ Hung Nô, nhưng nay chúng vẫn vượt qua
cướp' bóc. Biên ải Nhạn Môn Quan nhiều phen
cấp báo về triều xin cứu viện.
Nội thần Mao Diên Thọ từ ngay bị vua quở
trách, đâm ra oán hận Chiêu Quân. Y đánh cắp chân dung
Chiêu Quân, lén đem nạp cho vua Hung Nô là Thiền Vụ
Chỉ mới nh́n chân dung mà rúng động cả ḷng,
Thiền Vu liền cất quân sang đánh, buộc vua Hán
phải gả nàng Chiêu Quân th́ mới băi binh. Giao tranh
xảy ra ác liệt Hán Đế thất trận đành
phải, hoặc nước mất nhà tan dưới
sức xâm lược vũ băo Hung Nô hoặc phải
đem nàng Tây Phi yêu dấu của ḿnh cống Hồ.
Phải có cuộc chia tay, quá năo nùng. Chiê Quân gạt lệ:
- Một chút huy hoàng được quân vương sủng
ái, c̣n hơn suốt đời bị lăng quên trong cung
cấm. Thôi cũng đành, thần thiếp hy sinh v́
việc nước. Nay xin vĩnh biệt bệ hạ
để rồi sẽ chết trên đất rợ
Hồ, thay cho cái chết muôn vạn quân binh ngoài biên
ảị T́nh duyên kiếp này vắn số, xin hẹn quân
vương kiếp saụ Thần thiếp c̣n song thân,
hiện chưa đền đáp được hiếu
đạo nay xin gởi lại song đường, mong
bệ hạ chu toàn sớm hôm.
Hán Đế đă bật khóc:
- Ái khanh đă nén t́nh riêng để cứu lấy muôn dân;
ḷng trẫm xót xa dường nào, nhưng cũng đành. Ta
sẽ thay nàng chu toàn hiếu đạo với song
đường.
Sau chén rượu ly bôi, Hán Đế cho gọi Lưu
Văn Long - một quan văn trẻ, có tài vào cung, căn
dặn:
- Nay việc đi Phiên quốc sẽ gặp nhiều gian
khổ. Trẫm cho ngướ theo pḥ tá Tây cung. Nhà
ngươi sẽ được cải thành họ
Vương để làm người em của Tây
hậụ Vương Long tuân lệnh, pḥ tá nàng
Vương Tường Chiêu Quân lên đường.
Sách Hán Thư cũng đầm đ́a nước mắt
theo buổi biệt ly sầu thảm này.
Sau gần cả tháng trời vất vả
đường trường mới đến được
ải Nhạn Môn Quan, cửa khẩu Hán - Phiên. Đêm
đó, nơi quan ải, Chiêu Quân đánh đàn t́ bà ca khúc
tạ từ dưới ánh trăng:
Ai ơi xin chứ sai lời
Sai lời thề nguyện
Duyên nợ ba sinh
Giấc mộng năm canh
Trách hẳn trời xanh
Sao khéo vô t́nh
Bâng khuâng nhớ thuở tơ đào
Ra vào dưới gối
Duyên cớ v́ đâu dần đến cách xa
Ôi, đau đớn ḷng ta
Tự cổ hồng nhan bạc mệnh
Mong sao sông núi an ḥa.
Trong cơn sầu muộn sâu thẳm, nàng chỉ biết
gởi gấm tâm sự trong tiếng đàn t́ bà của
ḿnh; v́ vậy t́ bà của Chiêu Quân c̣n gọi là hồ
cầm.
Điển Tích Truyện Kiều - Kết
Cỏ
Rằng: Tôi bèo bọt chút thân,
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh
Dám nhờ cốt nhục tử sinh
C̣n nhiều kết cỏ ngậm vành về sau
"Kết thảo, hàm hoàn" là nói sự đền
ơn đáp nghĩa.
Kết thảo - kết cỏ lấy điển tích
từ thời Chiến quốc Xuân Thu. Vua Cảnh Nông
nước Tấn sai Tuần Lâm Phủ làm đại
tướng, Ngụy Khỏa là phó tướng đem quân
đánh Lộ, là nước nhỏ. Nước Lộ
khồng chống cựnổi, chúa là Anh Nhi bị bắt
giải về nước Tấn. Ngụy Khỏa
được lệnh ở lại trị v́ nước
Lộ Cảnh Nông không giết Anh Nhi, nhưng lại
đối đăi tử tế, xây một lâu đài riêng cho
Anh Hi ở.
Chúa nước Tần là Tần Hoàng Công hay tin Tấn
đánh chiếm nước Lộ, bắt Anh Nhi về, cho
ở riêng một lâu đài, c̣n cho Ngụy Khỏa ở
lại giữ thành Lộ, đang thu phục nhân tâm, tính
việc dài lâụ Hoàng Công lo ngại nếu Tấn
thống trị được nước Lộ, dân t́nh
Lô, quy phục nước Tấn th́ uy thế nước
Tấn sẽ vượt hẳn nước Tần. Hoàng
Công vội sai đại tướng Đỗ Hồi
đem binh cứu Lộ. Đỗ Hồi là một vị
tướng có sức mạnh muôn người, chuyên dùng
vũ khí là cái búa lớn năng 120 cân; nước Tần
nhờ có Đỗ Hồi mà giữ an được
bờ cơi, không nước nào dám ḍm ngó cả.
Đỗ Hồi đem quân đến nước Lộ,
chỉ một ḿnh một ngưa xông lên phía trước
như thế chẻ tre. Ngụy Khỏa không địch
nổi phải đóng cửa thành cố thủ, chờ
binh cứu viện. Tấn Cảnh Nông tiếp'
được thư cầu cứu của Ngụy
Khỏa, tức tốc sai tướng Ngụy Ư, là em
của Ngụy Khỏa đem binh tiếp viện. Hai cánh
quân hợp sức, trong thành đánh ra, viện binh đánh
vào những cũng không đẩy lui được quân
của Đỗ Hồị Hai anh em lại phải kéo
quân vào thành cố thủ.
Đêm đó, Nguỵ Khỏa nằm mơ thấy một
lăo ông râu tóc bạc phơ đến nói nhỏ vào tai:
"Thanh thảo pha, thanh thảo pha...". Ngụy
Khỏa giật ḿnh thức giấc, không hiểu giấc
mơ là điềm ǵ, đến hỏi em. Ngụ Ư suy
nghĩ hồi lâu chợt nhớ ra:
- Cách đây năm dặm, gần đất Phu Thi có
một địa danh tên là Thanh thảo pha. Có lẽ
thần linh mách bảo cho anh em chúng ta phải đánh quân
Tần tại đó.
Hai anh em đồng ư. Nửa đêm hôm đó, Ngụy Ư
lặng lẽ đem quân đến mai phục vùng Thanh
Thảo pha. Sáng sớm, Ngụy Khỏa ào ạt kéo quân ra
khỏi thành khiêu chiến, rồi bỏ chạy cho quân
Đỗ Hồi đuổi theo đến chỗ
phục binh. Mặc dù bị rơi vào ổ phục kích,
ṿng trong, ṿng ngoai đều bị vây kín, nhưng
Đỗ Hồi vẫn tả xung hữu đột
rất dũng mănh, giết địch vô số kể. Anh
em Ngụy Khẩn kinh hăi, toan thu góp tàn quân chạy về
thành, th́ thấy Đỗ Hồi đang mănh liệt vung
búa, bỗng nhiên người ngựa đều té lăn
xuống đất. Con ngựa hí vang, đứng dậy
đi ít bước lại ngă xuống. Đỗ Hồi
cũng gượng đứng thẳng nhưng rồi
cũng lảo đảo quị gốị Quân lính của
Ngụy Khỏa, Ngụy Ư hè nhau bắ t trói
được dũng tướng của nước
Tần. Sau đó Nguỵ Khỏa truyền chém đầu
Đỗ Hồi , cho đem thủ cấp về dâng cho
Tấn vương và đại tướng Tuần Lâm
Vũ.
Đêm đó, Ngụy Khỏa lại nằm mợ thấy
lăo ông trở lại, nói:
- Lăo ông chúc mừng tướng quân thắng trận.
Ngụy Khỏa ṿng tay thưa:
- Có phải lăo trượng đă giúp anh em ta thắng
Đỗ Hồi ở trận Thanh thảo pha không?
- Quả đúng như vậỵ Lăo đây đă kết
cỏ ở Thanh thảo pha lại, quấn lấy vó
ngựa, làm tướng Tần sa chân, người và
ngựa không xoay trở được th́ phải thúc
thủ.
Ngụy Khỏa bái tạ lăo ông:
- Mạc tướng này chưa được biết lăo
trượng, sao lại được giúp' đỡ
hết ḷng..
Nguỵ Khỏa chưa nói dứt, thi lăo ông đă cắt
lời:
- Lăo phu này là người hàm ơn nặng với
tương công. Việc kết cỏ vừa rồi, lăo phu
chỉ mong đền ơn đáp nghĩa phần nàọ
Lăo đây chính là cha của Tố Cơ, cảm ơn
tướng quân ngày trước đă không chôn sống con
gái lăo, mà lại cho kết duyên vớ một người
xứng đáng. Ơn ấy, dù nay đă ở suối vàng,
lăo cũng không quên.
Nói xong, h́nh ảnh ông lăo tan biến mất.
Tỉnh giấc, Ngụy Khỏa t́m đến em. Hai anh em
hồi tưởng lại dĩ văng...
Cha Ngụy Khỏa là Ngụy Lê, một tướng tài ba
của nhà Tấn, có một hầu thiếp trẻ
đẹp là Tố Cơ, nhan sắc mặn mà, nết na
đoan chính, thật là một giai nhân quốc sắc.
Tướng già, có được hầu thiếp trẻ
đẹp, Ngụy Lê vô cùng thương yêu Tố Cợ
Sinh thời, lúc c̣n cầm quân xông pha trận mạc đó
đây, Ngụy Lê thường căn dặn con:
- Nếu chẳng may cha có bỏ thân nơi chiến
trường, th́ con nên t́m nơi tử tế mà gả
Tố Cơ, đừng để nàng bơ vơ
chếch bóng, làm sao cho nàng được hạnh phúc th́ cha
mới ngậm cười nơi chín suối.
Nhưng về sau, Ngụy Lê không da ngựa bọc thây ngoài
trận địa, mà lại chết già tại gia. Lúc lâm
chung, ông lại "trở chứng", dặn ḍ Ngụy
Khỏa:
- Ta sắp ra đi rồị Đến hết
đời, cha chỉ có Tố Cơ là người yêu quí
nhất. Vậy khi cha chết đi, con hăy chôn nàng theo ta
để chim liền cánh, cây liền cành.
Cha chết rồi, Ngụy Khỏa không làm theo lời
trăn trốị Ngụy Ư hỏi:
- Sao anh không chôn d́ Tố Cơ theo di mệnh của phụ
thân?
Ngụy Khỏa đáp:
- Lúc thân phụ c̣n là một tướng dũng mănh, đem
quân đi chinh phạt đó đây, có dặn nếu có
mệnh hệ nào, th́phải t́m nơi tử tế gả
chồng cho d́ Tố Cơ, để mong nàng an vui hạnh
phúc. Lời dặn ḍ đó là một "chân mệnh".
Nhưng bây giờ, trước khi mất, tâm thần mê
sảng, ư chí không c̣n minh mẫn th́ di mệnh của thân
phụ trong lúc lâm chung là "loạn mệnh", chúng ta
phận làm con cho tṛn chữ hiếu th́ không nên theo những
lời đó.
Ba năm sau, khi đă măn tang cha, Ngụy Khỏa làm chủ
hôn, gả d́ Tố Cơ cho một nho sĩ danh tiếng;
cuộc đời nàng được an nhàn hạnh phúc.
Thân phụ của Tố Cơ, cho đến chết
vẫn ghi ḷng tạc dạ người cứu mạng con
gái ḿnh, nên đă hiển linh hiện hồn về, kết
cỏ nơi trận địa Thanh thảo pha để
đền ơn đáp nghĩa.
Điển Tích Truyện Kiều - Khúc Quảng
Lăng
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng Hoa nhạc, hai rằng Qui vân
Kê Khang là một trong nhóm bảy người bạn chí thân
người nước Ngụy: Kê Khang, Nguyễn Tịch,
Lưu Linh, Nguyễn Đàm, Vương Mậu, Sơn
Đào và Hương Tú.
Khi Tư Mă Viêm diệt nhà Ngụy, lập nên nhà Tấn, th́
bảy người này không hợp tác với tân triều,
bỏ thị thành vào rừng trúc ở, nên người
đời gọi là "Trúc lâm thất hiền".
Mỗi người đều có cá tính và nét độc
đáo riêng của ḿnh, nhưng nổi bật hơn cả
là Kê Khang và Nguyễn Tịch.
Sử nhà Tấn viết rằng Kê Khang là một con
người phong nhă, giỏi cầm kỳ thi họa;
thường đêm ông ngủ ở đ́nh Hoa dương.
Một hôm có người khách tự xưng là người
xưa, cảm phục tài hoa của Kê Khang, tặng cho chàng
khúc Quảng Lăng, nhưng bắt thề là không
được truyền lại cho ai. Sau khi Quảng
Lăng chết, khúc nhạc ấy xem như mất. May
mắn về sau có nàng Ngọc Nữ khi gảy khúc
nhật cung, nguyệt cung, đă dẫn khúc Hoa nhạc và
Qui vân đúng âm điệu của Khúc Quảng Lăng c̣n
sót lại.
Điển Tích Truyện Kiều - Lam Kiều
T́nh riêng tưởng ít nhớ
nhiều
Xăm xăm dè nẻo Lam Kiều lần sang.
Kim Trọng đă mang nặng sầu tương tư Thúy
Kiều, thương nhớ dẫn lối cho chàng thư
sinh xăm xăm dè nẻo Lam Kiều lần sang.
Lam Kiêù là cây cầu trên sông Lam, thuộc tỉnh Thiểm
Tây, Trung Quốc. Chuyện xưa viết: đời nhà
Đường, có chàng nho sĩ Bùi Hằng dáng
người khôi ngô tuấn tú, tài cao học rộng,
lại đủ tài cầm kỳ thi họạ Thành danh
xong, một ḿnh trên lưng ngựa trắng, chàng lên đường
dong ruổi đó đây , áo xanh Tư Mă Giao Châu, túi thơ
bầu rượu. Tiêu dao với danh lam thắng cảnh
và cũng mong t́m được ư trung nhân, nhưng măi chàng
vẫn chưa gặp được người trong
mộng.
Một hôm chàng đi về phía tây bắc thành Thiểm Tây,
chợt thấy một thiếu phụ trạc tứ
tuần, nhưng dung nhan vẫn c̣n lưu lại nét thanh
xuân tuyệt sắc. Không đừng được, Bùi
Hằng xuống ngựa, lân la tiến gần đến
làm quen. Người đàn bà đẹp, như có ư
đợi chờchàng từ trước; nàng tự
giới thiệu tên là Vân Kiều và đă biết chàng nho
sĩ đa t́nh từ lâu đang cố tâm t́m người
xe duyên kết tóc. Nàng bước vào nhà, viết mấy câu
thơ lên một mảnh giấy rồi sai người nhà
đem ra cho Bùi Hằng:
Nhầ't ẩm quỳnh tương bách cảnh sanh
Huyền sương đáo tận kiến Vân Anh.
Lam Kiều bổn thị thần tiên chốt
Hà tất khi khu thưởng ngọc kinh
(Uống chén quỳnh tương bách cảnh sanh
Huyền sương giă thuốc thấy Vân Anh
Lam Kiều vốn chỗ thần tiên ở
Hà tất đi t́m đến ngọc kinh).
Theo bốn câu thơ dẫn lối chỉ đường
của Vân Kiều, th́ chàng phải t́m đến Lam
Kiều, chốn thần tiên ở, sẽ gặp Vân Anh,
đó duyên trăm năm của chàng. Nhưng Vân Kiều là
ai nhỉ, có là giai nhân tuyệt sác như người
thiếu phụ này không ?. Chàng cảm nhận Vân Kiều có
ư giúp đỡ ḿnh, nên bái biệt giai nhân. lên
đường ḍ hỏi t́m đến Lam Kiều. Đi
suốt ngày cho đến lúc bóng đêm đen chùm xuống.
Bú Hằng phải dắt ngựa vào một quán trọ bên
đường, xin nghỉ tạm . Chủ quán là một
bà lăo phương phi, trông có dáng tiên phong đạo cốt.
Suôt đêm, chàng trăn trở không ngử được,
h́nh bóng Vân Anh như nhẹ nhàng từVân Kiều
bước ra, đứng ngồị Sáng sớm, Bùi
Hằng từ giả chủ quán; vừa đi
được dặm đường, khi ngoảnh
lại th́ quán lá đă biến đâu mất, mà chỉ là
một rừng cây rậm rạp. Trước mặt,
một con sông lớn, có chiếc cầu bắc ngang. Có
phải Lam Kiều đây không?. Nao nao hồi hộp, chàng
lần bước đến bên cầụ Gần đó
có một quán nhỏ nằm lọt thơm giữa vườn
dâu xanh ngắt. Chủ quán cũng là một bà lăo tóc bạc
phơ, tướng mạo uy phong. Chàng xuống ngựa,
đi vào quán xin nước uống. Từ nương dâu
xanh mướt, bước ra một nhan sắc tuyệt
trần. Giai nhan hai tay bưng chén nước mờị Ôi
thế gian này sao lại có người đẹp như
vậy. Đă bao năm t́m kiếm, từnay ta đă có nàng.
Bùi Hằng tŕnh lá thư của Vân Kiều cho bà lăo xem:
- Ta có hai người con gáị Vân Kiều đă thành gia
thất; c̣n lại Vân Anh sớm hôm hầu hạ mẹ
già. Nhưng nay, rơ ràng là duyên trời định cho đôi
lứa, ta nào dám trái ư. Nhưng muốn cưới con
tạ th́ phải nạp sính lễ. Sính lễ không phải
là vang bạc châu báu, mà là một vật quí. Đó là
chiếc chày ngọc để giă thuốc huyền
sương; chiếc chày ngọc đó phải khít với
cái cối ngọc này.
Bà lăo đưa cho Bùi Hằng xem cái cối ngọc. Cối
ngọc làm bằng thứ ngọc quí, xanh biếc. Biết
t́m đầu ra chày ngọc. Bùi Hằng đăm
đăm nh́n Vân Anh, rồi như sợ sẽ tan mất
người trong mộng, chàng đứng vụt dậy,
quyết tâm đi t́m cho bằng được vật quí
đem vềlàm sính lễ.
Ngày tháng qua quá ê chề, một ḿnh một ngựa bôn ba
khắp nơi chân trời góc biển, làm sao t́m
được trong dân gian cái chày ngọc để giă
thuốc huyền sương. Chút già nua cùng đă ẩn
hiện trên dáng dấp phong tú của chàng thư sinh.
Rồi một hôm, cũng có một quán bên đường
cho chàng dừng chân lại nghỉ qua đêm. Chủ quán,
lại là một bà lăo, tay cầm chiếc chày bằng
ngọc, hát nghêu ngao:
Chày sương ta có
Ai muốn cần dùng
Duyên thắm chỉ hồng
Cầu sương đợi khách.
Vừa trông thấy chày ngọc trên tay bà lăo, Bùi Hằng quá
mững rỡ, vội vàng khấu đầu thi lễ:
- Bao nhiêu năm gian khổ, tiểu nhân đă lặn
lội cố t́m cho được chày ngọc giă thuốc
huyền sương để làm sính lễ sánh duyên cùng
giai nhân bên Lam Kiềụ Xin lăo bà thương t́nh giúp cho
tiểu nhân toại ước.
Bà lăo cười hiền hậu :
- Đây là báu vật chỉ trao tặng cho người kiên
nhẫn, thành tâm với duyên phận. Công tử xứng
đáng nhận sính vật này để thành gia thất
với Vân Anh.
Tờ mờ sáng hôm sau, Bùi Hằng tạ từ bà lăo,
hối hả lên đường t́m về lại Lam
Kiềụ.Bao năm tháng qua đi, nhưng thời gian
ở đây như dừng lạị Vân Anh, ôi nhan sắc
yêu kiều đang ngồi xe tơ dệt lụa như
ngóng trông đợi chàng trở về. Chày ngọc
ướm thử vào cối ngọc, vừa khít. Lăo bà vui
vẻ cho đôi trẻ làm lễ tơ hồng.
Lam Kiều là điểm hẹn cho duyên lành và là nơi trao
đổi sính lễ xe duyên cầm sắc cho t́nh đôi
lứa.
Điển Tích Truyện Kiều - Lá Thắm Chỉ
Hồng
Lúc t́nh đến độ, Kim
Trọng ướm chuyện trăm năm. Thúy Kiều
thỏ thẻ thưa:
Dẫu khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.
Lá thắm, theo điển tích là thư từ qua lại
của đôi lứa trong ngày con thơ . Nước Sở
có thành Tây Độ Quan trấn thủ là Kiều Công Di có
aí nữ là Kiều Nga, một giai nhân tuyệt sắc.
Bấy giờ, t́nh h́nh trộm cướp như
rươị dân t́nh không được an cư lạc
nghiệp. Nội thành dành cho người quyền quí;
ngoại thành cho thứ dân. Cửa thành luôn được
canh pḥng nghiêm ngặt, thường dân ra vào bị xét
hỏi rất ngặt.
Giai nhân Kiều Loan đă thầm yêu trộm nhớ chàng nho
sinh mạc rệp Kim Ngọc. Nhà chàng ở ngoại thành,
nghèo rớt mồng tơi. Cậu học tṛ không dễ ǵ
qua được cổng thành, nói chi đến chuyện
lọt được nha môn để gặp gỡ
người yêu. Bên này bên kia thành quách mà tưởng như
núi non ngh́n trùng. Không gặp nhau được, mỗi
người chỉ biết nh́n gịng sông thở vắn than
dài. Sông kia, mỗi ngày hai lần triều lên xuống, con
nước từ ngoại thành đi vào rồi lại
chảy rạ Theo triều lên xuống, đôi gái trai đă
viết thơ trên lá, thả xuống sông, nhờ gịng
nước mà trao đổi tâm t́nh cho thỏa nhớ
thương. Gịng sông đă trở thành gịng lá thắm.
Những câu nói trong dân gian như lá thắm, tơ hồng
vươn vấn hoặc nguyệt lăo xe tơ đều
lấy trong điển tích ông tơ bà nguyệt. Theo
Thần tiên tuyện , thời Nguyên Ḥa nhà Đường
rất thái b́nh, có quan đại thần Chung Thôi rất
giàu sang, thuộc vào hàng danh gia vọng tộc. Quư tử
của Chung Thôi la Chung Hạo thông minh đĩnh ngộ;
mới 12 tuổi đa ~ văn hay chữ tốt, quan
lại trong triều ai cũng khen ; các vị có con gái
đều mong muốn kết sui gia với Chung Thôi.
Ngoài thời gian vui thú cùng cầm kỳ thi họa, Chung
Hạo cũng thường theo cha đi săn bắn.
Một hôm đi săn, mải đuổi theo con thỏ,
Chung Hạo lạc vạ rừng sâu, quanh co cả ngày không t́m
được lối rạ Đêm xuống lạnh
giữa rừng hoang, Hạo bắt đầu thấy
sợ Dưới ánh trăng bỗng nghe tiếng suối
róc rách. Chàng lần đến t́m nước uống. Bên
bờ suối, trong hang đá, một bà lăo đang ngồi
xe chỉ, màu chỉ đỏ thắm. Chung Hạo khẽ
bước lại gần, kính cẩn thưa:
- Tiểu nhân đi săn, bị lạc đường.
Xin hỏi nơi đây là đâu, sao lăo bà lại ngồi
một ḿnh xe chỉ đỏ
- Đây là động tiên. ta đang ngồi xe duyên cho
những đôi t́nh yêu nhau dưới trần gian. Chỉ
này là dây tơ hồng. Ta xe nhiều hay ít th́ trai gái cũng
theo đó mà thương yêu nhau nhiều hay ít. Ta muốn
đôi trai gái nào nên vợchồng th́ ắt chúng sẽ
kết duyên, không xa ĺa nhau được.
- Vậy thưa lăo bà có thể cho tiểu nhân biết sau
này sẽ được sánh duyên cùng ai ?.
Lăo bà đưa mắt nh́n vào bên trong động. Ở
đó có một ông lăo đang cúi gầm trên một cuốn
sách dày cộm.
- Kià là ông tợ Công tử muốn biết th́ hỏi ông
ấỵ
Ông lăo hỏi tên tuổi Chung Hạo rồi lật từng
trang sách ra tra cứu:
- Sau này công tử sẽ được xe duyên với
Tố Lan, con gái một mụ ăn mày ở chợ
Đông, gần kinh thành.
Laơ ông chưa dứt lời, Chung Hạo đă đùng
đùng nổi giận. Đường đường là
một quí tử của quan đại thần, tài
nghệ, văn hay chữ tốt khó ai b́ kịp mà sau này
lại kết duyên cùng vơi con gái mụ ăn mày. Tức
tối, chàng quay bước đi, không một lời
chàọ Ông tơ vẫn chúi đầu trong sổ bộ,
bà nguyệt vẫn b́nh thản xe xe chỉ hồng.
Chung Hạo chaỵ thụt mạng suốt đêm trong
rừng sâụ May mắn, sáng sớm mai, gặp
được quân lính triều đ́nh đang tỏa
đi t́m kiếm. Trở về dinh, sau ngày đó, chàng công
tử đâm ra biến ăn lười nóị Lời
tiên tri của ông tơ như cứ lởn vởn rít ra
trong đầu. Đến một hôm, không không d́m
được sự thôi thúc, Chung Hạo cùng một gia
đồng t́m xuống chợ Đông. Vừa đến
đầu chợ, đă gặp ngay một đứa bé
gái chừng 9 tuổi mặt mày lem luốc, áo quần rách
bươm, dắt theo một bà ăn xin mù ḷa. Tên gia
đồng dọ hỏi th́ biết được tên
của con bé là Tố Lan. Chung Hạo thất kinh, ù té
chạy về dinh, tâm thần hoảng loạn. Không
được, không thể nào, ta lại chịu khuất
phục số mệnh, để làm chồng một con bé
ăn mày bẩn thỉu như vậy được. Làm
thế nào đâỵ Suy nghĩ cạn nước, chỉ
c̣n cách làdiệt trừcái mầm định mệnh
khắc nghiệt đó đi..
Với rắp tâm sẵn, một buổi sáng Chung Hao
một ḿnh t́m xuống chợ Đông. Anh ta đứng
nấp sau một thân cây lớn. Cô bé dắt mẹ đi
qua. Chàng ta cầm ḥn đá, liệng ngay vào đầu con bé
rồ́ ù chạỵ Sau đó, ḍ hỏi tin tức th́
được biết con bé bị thương tích quá
nặng, e không sống được; và rồi bà lăo mù cũng
không c̣n thấy ăn xin giữa chợ Đông nữa.
Bảy năm saụ Chung Hạo đă nên danh phận. Nghe
tin thiên hạ bàn tán ở huyện Trúc Giang có con gái quan Thái
úy nổi danh là một giai nhân sắc nước
hương trời, tên là Thảo Nương. Vương
Tôn công tử gần xa, ngày đêm đến cầu thân, nhưng
chưa ai được kén chọn. Chung Hạo t́m
đến, thuê một pḥng trọ trước phủ
đường. Mới một lần t́nh cờ nh́n thấy
Thảo Nương, Chung Hạo chao động cả ḷng.
Chàng vội quay trở về nhà, xin phụ thân Chung Thân tính
đường mai mối.
Hai gia đ́nh là môn
đăng hộ đối, nên việc kết hôn sớm
viên thành . Đôi uyên ương nên vợ chồng yêu nhau
mặn nồng.
Một hôm, Chung Hạo âu yếm gội đầu cho
Thảo Nương. Thấy vợ ḿnh có mộ t cái
thẹo lớn đàng sau gáy, chàng hỏi:
- V́ sao có cái thẹo này ?
- Nguyên, thiếp là con một bà ăn mày mù ở chợ
Đông. Lúc nhỏ, một hôm đang dắt mẹ đi
ăn xin, không hiểu sao lại có một kẻ xấu
cầm đá ném vào đầu. thiếp, thương tích
nặng, tưởng đă ĺa đời. May nhờbà con
tận t́nh cứu chữa. Và sau đó, may mắn
được quan Thái úy có ḷng từ tâm, lại hiếm
muộn , nên đem hai mẹ con thiếp' về nuôi
dưỡng. Thiếp' được nghĩa phụ
dạy dỗ, cho ăn học. Mẹ thiếp qua
đời. Thiếp được giúp việc bút nghiên cho
nghĩa phụ nơi công đường. Đă rất
nhiều đám đến dạm hỏi, nhưng
đều bị từ chối. Lạ thay, bên nhà chàng vưa
ngỏ , th́ dưỡng phụ bằng ḷng ngay. Chúng ta
đẹp duyên ngày nay chắc là có duyên nợ
- Không, Thảo Nương nàng ơị Nếu là
định mệnh th́ nàng phải là...
- Tố Lan. Tố Lan là tên của thiếp lúc c̣n bé. Sau khi
được đưa về dinh, nghĩa phụ đă
xin ư mẹ, đổi tên này.
Thiên Hạo đă tin hẳn duyên giai ngẫu là do thiên
định. Chàng say đắm ngắm nh́n cái duyên số
Tố Lan của ḿnh và khẽ ngâm:
Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng
(Có duyên ngàn dặm xa vẫn gặp
Không duyên tận mặt vẫn cách ḷng)
Điển Tích Truyện
Kiều - Liễu Chương Đài
Khi về hỏi liễu Chương
đài
Cành xuân đă bẻ cho người chuyền tay
Đời vua Đương Huyền Tông có chàng tú tài Hàn
Hủ, nổi tiếng là danh sĩ, lên kinh đô
Trường An chuẩn bị thi tiến Sĩ. Chàng ta thuê
pḥng trọ ở phố Chương đài, phía Tây kinh
thành.
Cạnh bên nhà trọ Hàn Hủ là nhà Liễu thị,
một ca kỹ tài sắc đă làm đắm say lắm
tao nhân mặc khách, nhưng không ai dám ngỏ t́nh, v́ giai nhân
đă có vị tướng quân họ Lư bảo bọc.
Mỗi lần tướng Lư đến thăm Liễu
thị, đều có mời Hàn Hủ sang chơị Hai
người đối ẩm trong giọng ca tiếng
đàn nàng Liễụ Phần Liêũ thi, những lúc
ở nhà một ḿnh, lại thường nh́n qua kẽ vách
ḍm sang nhà Hàn. Liễu thị thấy Hàn Hủ tuy nghèo khó,
nhưng lại rất phóng khoáng, hiếu khách. Nh́n trộm
lâu ngày, thấy thương, rồi thầm yêu chàng tú tàị
Hôm đó, Lư tướng quân đến, Liễu thị
đánh bạo, thưa:
- Hàn Tú tài là người có hoàn cảnh khó khăn nhưng
lại rất hào sảng. Tương quân đă kết thân
với chàng ta, th́ thiếp nghĩ cũng nên t́m cách giúp
đỡ.
Tướng Lư gật gù, cười độ
lượng, truyền Liễu thị bày tiệc, rồi
mời Hàn Hủ sang nói chuyện:
- Hàn Tú tài là bậc danh sĩ ; Liễu thị là kỹ
nữ tài sắc. Danh sĩ mà sánh duyên cùng tài sắc
chẳng phải là xứng đôi lắm sao?. Ta
đứng chủ hôn cho đôi lứa.
Cả hai người được gá duyên đều ngây
người trước thái độ bao dung của
tướng quân. Qua hồi xúc động, đôi lang
nương lạy tạ ơn vị tướng quân
" fair play " nàỵ Sau đó, Lư tướng quân
từ biệt , hai người sống chung với nhau
như vợ chồng, t́nh yêu tha thiết.
Tú tài Hàn Hủ tuy là người lỗi lạc, nhưng thi
tiến sĩ lại không đỗ. Vợ chồng không
lấy thế làm điều khổ tâm, vẫn
thương yêu nhau trong cuộc sống hàn vị Bốn
năm sau, có quan Tiết độ sứ Thanh Châu là Hầu
Di Dật, từ lâu ngưỡng mộ tài năng của
Hàn Hủ, đă tâu với vua xin chàng về làm ṭng sự
Hàn Hủ phải về Thanh Châu nhận chức, hẹn
với Liễu thị khi cuộc sống ổn
định, sẽ trở về lại kinh đô
rước nàng.
Nhưng rồi công việc tất bật, sau ba năm Hàn
Hủ không về kinh được, gởi cho nàng lá
thư với nỗi phập phồng nàng kỹ nữ
đă ôm cầm sang thuyền khác:
"Chương đài Liễu, Chương đài
Liễu
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ
Túng sử trường điều tự cửu thùy
Dă ưng phan chiết ta nhân thủ ".
(Liễu Chương đài, Liễu Chương đài
C̣n chăng thuở trước dáng xanh tươi
Thướt tha vẫn giống như năm nọ
Vin bẻ đành tay kẻ khác rồi!
Đọc thơ, Liễu thị hiểu là chồng âu lo
ḿnh phụ bạc. Nàng đáp thư:
"Dương liễu chi, phương chi tiết,
Khá hận niên niên tặng ly biệt.
Nhất diệp tùy phong hốt báo thu
Túng sử quân lai khởi kham chiết ".
(Nhành dương liễu, trạc xuân xanh
Đeo nặng bao năm nỗi biệt t́nh
Chiếc lá gió đưa, thu đà tới
Chàng về chưa chắc được vin cành.
Sau đó, Liễu thị xuống tóc vào nương cửa
Phật, tránh lũ bướm ong quấy nhiễu.
Thương cho nàng. đă vào chùa mặc áo nâu sồng mà
vẫn không yên câu kinh tiếng mơ. Phiên tướng Sa Tra
Lợi đang tại chức Xạ Kỵ tướng
quân của vua Đường Huyền Tông, xông vào thiền
môn, bắt Liễu thị về làm thiếp.
Thời gian cũng qua đị.
Mướ hai năm sau, Tiết độ sứ Hầu Di
Dật về kinh công cán, Hàn Hủ tháp tùng. Về
đến Tràng An, Hàn Hủ thăm ḍ tin tức mới
biết vợ ḿnh đă sa vào tay kẻ khác. Thế cô,
phận nhỏ đành im tiếng. Một hôm, đang
tảng bộ trên phố th́ gặp một cổ xe
ngựa thong thả đi quạ Trên xe chợt có giọng
đàn bà vọng ra:
- Có phải Hàn viên ngoại ở Thanh Châu đó không ?.
Nghe giọng nói, Hàn Hủ rúng động, ấp úng chưa
kịp trả lời, th́ người trên xe tiếp:
- Ngày mai, thiếp cũng sẽ qua đường này. Xin
chàng hăy đến đây cho thiếp trông thấy lần
cuối.
Hôm sau, y hẹn, Hàn Hủ đứng chờ đợi
t́nh. Chiếc xe đến, từ trên đó ném xuống
chiêc khăn hồng bọc ngoài một hộp sáp thơm.
Giọng đàn bà thổn thức:
- Cảm ơn chàng, em đă trông thấy t́nh lần
cuốị Vĩnh biệt phu quân.
Xe vụt chạy nhanh mất hút. Đêm đó, Hàn Hủ
phải dự tiệc với hàng quan chức ở kinh
thành nơi một tửu lầu sang trọng. Trong
tiệc, mọi ngướ đều cười nói vui
vẻ chỉ có ḿnh Hàn Hủ mặt ủ mày ệ Có
người gạn hỏi nguyên nhân; Hàn Hủ phải
đem chuyện ḿnh kể trong bàn tiệc. Hàn vừa
dứt lời, viên tướng trẻ Hứa Tuấn ném
mạnh chén rượu xuống đất, đánh
"xoảng", cất giọng oang oang:
- Giữa kinh thành này mà cũng có quan triều đ́nh làm
loạn vậy sao ? Tiểu nhân này, tu y tài hèn sức
mọn nhưng cũng xin được ra tay, đưa
phu nhân về cho Hàn viên ngoạị Xin Hàn viên ngoại hăy
viết ít chữ để làm tin với phu nhân.
Hàn Hủ chép lại bài thơ Liễu thị đă gởi
cho ḿnh mười lăm năm trước khi vào qui y
cửa Phật. Hứa Tuấn nhận thư, phóng
ngựa đến tư dinh của Sa Tra Lợị
Tướng Phiên này đang vắng nhà. Hưá Tuấn
lớn tiếng với đám gia nhân:
- Tướng quân bị ngă ngưạ, thương tích
nặng, e khó qua khỏị Ngài bảo ta về
rước phu nhân cho ngài gặp mặt.
Hứa Tuấn phóng ngựa chạy thẳng vào dinh. May
mắn, Liễu thị đang sắp sửa nhờ ba
thước lụa kết liễu đời ḿnh., th́
nhận được bài thơ t́nh của ḿnh đă
viết cho t́nh lang. Hứa Tuấn đỡ bà lên ḿnh
ngựa, phóng như bay trở về tửu lầụ Có
ai đang hồi hợp chờ đợi, lồng
ngực th́nh thịch liên hồị Rồi, hai trái tim cùng
chung nhịp đập.
Điển Tích Truyện Kiều - Mạt
Cưa Mướp Đắng
T́nh cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một
phường
Chung lưng mở một ngôi hàng
Quanh năm buôn phấn bán hương đă lề
Hàn sĩ Thúc Thôi được hưởng gia tài cha
mẹ để lại. Học hành chẳng ra ǵ, lại
biếng nhác, nên thi măi vẫn trượt. Chán nản bút
nghiên, chàng ta bán hết gia tài, ăn tiêu rồi cũng
hết, không có ǵ để sống. Bà con lối xóm không
nỡ để một nho sinh chết đói nên t́m cách mai
mối cho nàng Lưu Di, một thiếu phụ trẻ góa
chồng, đảm đang.
Sống chung được thời gian ngắn, Thúc Thôi
lại quen thói lười biếng, cả ngày chỉ nghêu
ngao, không chịu làm lụng, ăn bám vợ đến
hết cả vốn liếng của Lưu Di đă dành
dụm được. Lưu Di cắn răng chịu
đựng, nhưng đến lúc cùng cực quá, nàng
phải thưa với chồng:
- Lang quân cam chịu cảnh nghèo đói này măi sao?
- Ta chỉ sống với văn chuơng chữ nghĩa,
từ nhỏ đến lớn chỉ biết đọc
sách ngâm thợ Nay ta phải biết làm chi cho ra tiền
đây?
Lưu Di e dè:
- Văn chương chữ nghĩa không bằng ai th́ thôi
cũng phải kiếm việc khác làm ăn sinh sống
chứ.
Thúc Thôi cười khẩy:
- Hiền thê ơi, đừng quá âu lo. Hôm nay ta là hàn sĩ,
ngày mai đỗ đạt, th́ tha hồ phú quí vinh hoa. Thôi
được, trong lúc đợi bảng vàng đề
tên, ta sẽ nghĩ ra một cách ǵ đó, không cần
phải làm lụng cực nhọc, ma vẫn hái ra tiền.
Rồi mấy ngày sau, người ta thấy Thúc Thôi
lẩn quẩn đây đó, lúc ra chợ, lúc vào xóm, như
một học giả suy tư. Cuối cùng, chàng ta đem
về một thúng mạt cưa, khoe vợ:
- Món hàng này không vốn mà bán được tiền.
Mạt cưa này thợ cưa vất đi, ta lấy
về đem ra chợ bán, giả làm cám heọ Sẽ có
khối người bị lừa.
Lưu Di ngăn cản:
- Sao lại làm việc gian dối như vậy, thật là
bất nhân.
Thúc Thôi dạy khôn:
- Miễn sao được tiền th́ thôi! Đời mà!
khôn sống, dại chết.
Không kể lời khuyên can của vợ, sáng sớm hôm sau,
Thúc Thôi bưng thúng mạt cưa ra chợ, rao bán cám.
Nhưng cho đến chiều tối vẫn chưa có ai
bị lừa. Hôm sau, Thúc Thôi lại bưng thúng cám dỗm
ra chợ lần nữa. Đến chạng vạng, th́
may thay, có một nàng đội thúng mướp trái xanh
mởn đi ngang qua. Cô nàng mời:
- Tôi đang muốn bán thúng mướp tươi này
để lấy tiền mua cám heo. Chúng ta thỏa thuận
hàng đổi hàng nhé.
Thúc Thôi mưng rỡ, ỌK ngay, phen này trúng mánh, nhẫm
tính thúng mướp cũng bán được bộn
tiền. Chàng ta hí hửng bưng thúng mươp về khoe
vợ Lưu Di bật cười:
- Trời đất! Đây là loại mướp
đắng, loại trái mọc hoang trên núi, không ăn
được. Ừ mà thôi , như vậy cũng hay, cùng
là một phường lừa phỉnh nhau, mướp
đắng đổi ấy mạ t cưa, không ai thua ai!
Điển Tích Truyện Kiều - Nàng Ban
Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này.
Ban Chiêu tự là Huê Cơ là người đàn bà hay chữ
đời Đông Hán. Năm mười lăm tuổi Ban
Chiêu đă biết làm thơ và làu thông Tứ Thư, Ngũ
kinh. Lấy chồng là Tào Thế Thức, một danh nho
của Đông Hán. Sống chung được mười
năm th́ Tào Thế Thức qua đời v́ bệnh; Ban
Chiêu thủ tiết thờ chồng.
Đời vua Hoà Đế, Ban Chiêu được
triệu vào cung để dạy học cho các hoàng tử
và các phi tần. Lúc bấy giờ cha của bà là Ban Bưu
đang tại chức Đông các đại học sĩ,
chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Hán Thư. Công
việc đang c̣n dang dở th́ ông qua đời. Anh
của ban Chiêu là Ban Cố được nhà vua chỉ
định tiếp tục công tŕnh của cha. Nhưng
chẳng bao lâu, Ban Cố cũng qua đời v́ bạo
bệnh, trong khi bộ Hán thư vẫn chưa xong. Ban Chiêu
tâu với vua cho bà được tiếp nối công tŕnh.
Vua Ḥa đế chấp thuận và bà được sung
vào Đông các tàng thư tiếp tục soạn bộ Hán
thư cho đến hoàn tất.
Trong thời gian ở Đông các tàng thư, Ban Chiêu đă
trước tác tập Nữ Giới, gồm bảy thiên.
Từ đó lẫy lững tài danh Ban Chiêu.
Điển Tích Truyện Kiều - Nàng Oanh
Dâng thư đă thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lư bán ḿnh hay sao ?
Đời nhà Hán có Thuần Vu Ư làm quan đất tề ;
nhà không có con trai, chỉ sinh được 5 con gái,
Đề Oanh là gái út.
Thuần Vu Ư mắc tội lớn phải thọ h́nh. Khi
bắt giải tử tội về kinh , Đề Oanh
đi theo cha. Đến kinh thành, nàng dâng thư lên Hán
Văn Đế tâu rằng, nếu cha chết đi,
cũng không mảy may đền được chút
tội; nay thân gái này khẩn thiết xin vua được
cho vào cung làm cung nhân thô (người làm sạch sẽ cho
vua sau mỗi lần vua đi vệ sinh), để
chuộc tội một phần nào cho cha. Hán Văn
Đế đọc thư của nàng Oanh, cảm
động v́ ḷng hiếu hạnh của nàng nên tha tội
cho Thuần Vu Ư.
Điển Tích Truyện Kiều - Phiếu
Mẫu
Ngh́n vàng gọi chút lễ
thường,
Mà ḷng Phiếu Mẫu, mấy vàng cho cân
Bà Phiếu Mẫu, nhànghèo khó, đă giúp Hàn Tín trong cơn
đói cơm rách áo. Thuở hàn vi, Hàn Tín nghèo rớt
mồng tơi, ngày ngày câu cá, nhưng cũng không kiếm
đủ miếng ăn. Tuy vậy, Hàn Tín lại rất
ham mê đèn sách, nghiên n cứu binh thư; lại muốn ra
oai như ḿnh là con nhà vơ, đi đâu cũng lè kè mang theo cây
kiếm. Bà Phiếu Mẫu ở cạnh nhà, kiếm ăn
bằng nghề giặt thuệ Tuy miếng cơm vẫn
thiếu trước hụt sau, nhưng thấy Hàn Tín quá
đói khát, bà thường dẫn chàng dở hơi này
về nhà cho cơm. Hàn Tín cảm động thưa:
- Xin cảm on bà đă quá tử tế với tôi. Sau này công
thanh danh toại tôi nguyện sẽ không quên ơn bà.
Phiếu Mẫu cười hiền hậu:
- Ta thấy ngươi đói khát, nên chia sẻ miếng
cơm giọt nước với ngươi, chứ
đâu cần ngươi sẽ trả ơn sau này. Đàn
ông ǵ như ngươi , tự nuôi thân không nổi th́ noí
chi đến quyền cao chức trọng sau này.
Hàn Tín hỗ thẹn v́ lời chê trách, nên không dám t́m qua nhà
Phiếu Mẫu kiếm cơm nữa. Bà già vẫn
thương người cùng khổ, ngày ngày đem cơm
đặt trước căn lều của Hàn Tín.
Người trong làng xóm biết chuyện, gọi đó là
"Bát cơm Phiếu Mẫu".
Một hôm ở ngoài chọ có gă bán thịt to lớn, trông
thấy Hàn Tín bước đi xiêu vẹo nhưng vẫn
ḷng tḥng thanh kiếm bên lưng. Gă trêu tức:
- Này tên ma đói kia, nam nhi như mày mà không kiếm ăn
được, hằng bữa phải nhờ đến
bát cơm Phiếu Mẫu, không biết nhục à? Có
giỏi th́ rút kiếm ra đấu, ta tay không. Thắng
được ta thưởng cho cái đầu heo.
Bằng không dám đấu, th́ luồn dưới trôn
của ông nội mày đây.
Sắc mặt Hàn Tín đă xanh này càng xanh hơn. Tần
ngần một lúc, Hàn Tín khúm núm ḷn qua trôn gă hàng thịt.
Cả chợ nhốn nháo chê cười Hàn sĩ. Nhưng
có một tiều phu là Hứa Phụ, t́nh cờ qua đó,
dừng lại trước Hàn Tín:
- Huynh là người có tướng vương hầu; tuy
nay khốn khổ nhưng hậu vận lại vinh hoa phú
quí.
Hàn Tín trở vềtúp lều, ngày đêm vẫn miệt mài
dùi mài kinh sử. Lúc Hạng Lương nước Sở
khởi binh đánh Tần, Hàn Tín đứng chống
gươm bên bờ sông Tứ Thủy, tự t́m cơ
hội tiến thân. Trông thấy Hàn Tín ngoại h́nh xanh xao
vàng vọt, Hạng Lương "dội" ngay.
Nhưng quân sư Phạm Tăng vội khuyên:
- Tuy nh́n bề ngoài yếu đuối, nhưng chân
tướng là người thao lược, ngài chớ nên
bỏ
Hạng Lương miễn cưỡng nhận lời,
cho Hàn Tín làm chấp kích lang, tức là vác giáo theo hầu.
Trong thơi gian này, Lưu bang đang dựng nghiệp
đế ở Hán Trung, nhờ Trương Lương,
giả lam lái buôn, đi chu du thiên hạ để chiêu
hiền. Khi đến đất Sở, gặp
được Hàn Tín, Trương Lương nhận ra
ngay đây là một chân tài nhưng Sở không biết dùng
người. Trương Lương bèn làm quen, và trao cho
Hàn Tín một thanh kiếm báu, đề thơ tặng:
Kiếm báu lập ḷe tay dũng sĩ
Non sông một giải chí hiên ngang.
Máu hồng, men rượu say băng tuyết
Muông dặm sơn hà một tấc gang.
Hàn T́'n đang c̣n ngỡ ngàng, th́ Trương Lương
đă tiếp:
- Tại hạ biết được huynh là đấng
hào kiệt nên đem kiếm báu tặng chứ không bán. Nay
có chút quà mọn, xin huynh chớ từ chốị Hăy cùng
nhau nhấp chén rượu mừng buổi sơ kiến.
Hẹn ngày hội ngô trên đất Hán.
Sau chầu rượu, Trương Lương thuyết
phục Hàn Tín nên bỏ Sở, về pḥ Lưu Bang, là
người nhân đức biết trọng lương
thần, xứng danh thiên tử. Hàn Tín thuận t́nh, nên
bỏ trốn khỏi Sở. Mấy ngày lạc trong
rừng không t́m đường để lần
đến Hán Trung, đói khát lả người. May thay,
gặp được một lăo tiều, cho ăn uống
và hướng dẫn đường đi nước
bước chu đáọ Hàn Tín sụp lạy cảm
ơn cứu tử, rồi nhanh nhẹn lên
đường. Nhưng vừa qua được một
khúc quanh, Hàn Tín chợt nghĩ:
- Ta đang bị Sở Bá Vương truy nă. Nếu
chẳng may quan quân Sở cũng lần ra dấu vết
đến đây, hỏi lăo tiều phu này, th́ tính mạng
ta khó thoát. Lăo già suốt ngày lẫm lũi trong rừng sâu,
rồi cực khổ cũng chết khô xương , c̣n
ta, cả cơ đồ sáng lạng trước mắt.
Thôi th́, ta đành làm người vong ơn bội nghĩa..
Hàn Tín quay trở lạị Kiếm vung lên, thân lăo tiều
phu đứt làm đôị Hàn Tín đem xác vùi bên
sườn núi.
Khi đến Hán Trung, Hàn Tín được Tiêu Hà - cận
thần của Hán Vương tiếp kiến, liền
tiến cử với Hán Vương. Vừa nghe
đến tên Hàn Tín, Hán Vương đă cười
khẩy:
- Khi c̣n ở huyện Bái, ta đă nghe tiếng người
này ḷn trôn Đỗ Trung, xin cơm Phiếu Mẫu, làng
nước ai cũng khinh bỉ. Con người như
vậy th́ làm sao mà làm được việc lớn?.
Tiêu Hà bào chữa:
- Xin Chúa công hăy suy xét, nhiều người bần tiện
thuở thiếu thời nhưng sau vẫn dựng nên
sự nghiệp, như Y Doăn là người sơn dă, Thái
Công là kẻ đi câu ở sông Vị, Ninh Thích là gă buôn xe,
Quản Trọng là kẻ tội đồ, đến lúc
gặp thời đều làm nên đại sự. Hàn Tín
tuy đă ḷn trôn mưu sống, xin cơm cứu đói,
giết ân nhân để trừ hậu hoạn..nhưng
đó vẫn là người uyên bác, mưu lược; không
dùng, tất hắn sẽ bỏ đi t́m nơi khác
trọng dụng.
Nể lời tấu tŕnh của cận thần, Hán
Vương giữ Hàn Tín lại, cho làm thủ kho
lương thực. Tiêu Hà không đồng ư v́ cho rằng
Hàn Tín là người trí dũng, đem dùng vào việc
nhỏ không xứng với tài năng. Phần Hàn Tín
cũng chán nản; nấn ná một hai hôm lại trốn
đi, để lại ít câu thơ, thảo trên vách:
Anh hùng lỡ vận bước long đong
Thà chịu an thân khỏi thẹn ḷng
Vó ngựa xa vời trông cố quận
Công danh chán ngắt mộng anh hùng.
Tiêu Hà hay tin Hàn Tín đă bỏ đi, dậm chân kêu
trời, tiếc thay người tài không có đất
dụng vơ. Không nản ḷng, Tiêu Hà đem theo ít quân hầu
lần theo dấu tích Hàn Tín. Khi t́m gặp được,
Tiê Hà cầm tay Hàn Tín ân cần:
- Cổ nhân có câu: Sĩ vị tri kỷ giả tử
(kẻ sĩ có thể chết theo người tri kỷ).
Tại hạ hiểu huyng là người tài, đă
quyết tâm tiến cử, nhu8ng Chúc công vần chưa tin
dùng. Nay nếu một lần tiến cử nữa, mà Chúa
công vẫn không nhận, th́ Tiêu Hà này cũng từ chức
mà lui về vườn.
Hàn Tín cảm kích ḷng thành của Tiêu Hà, nên lại lên
ngựa quay trở về Hán Trung. Nghĩ đến số
phận ḿnh c̣n long đong, Hàn Tín đề thơ:
Mây gió phôi pha bóng nguyệt tà
Vận thời chưa gặp khó bôn ba
Nghèo hèn phận bạc đớ dang dở
Con tạo trêu ngươi măi thế à!
Chợt, Hàn Tín nhớ mấy câu thơ của "anh lái
buôn " Trương Lương đă đề tặng
ḿnh. Lúc đó, Trương Lương vẫn c̣n chu du chiêu
hiền chưa về đến. Hàn Tín đưa thơ
cho Tiêu Hà xem. Tiêu Hà mừng rỡ:
- Trời đất, thư giới thiệu của Tử
Pḥng, sao tướng công đă không tŕnh cho Chúa công.
Khi xem thơ của Trương Lương, Hán
Vương giật ḿnh:
- Ôi chao, th́ ra người của Trương Tử Pḥng
tiến cử. Ta thật không biết nh́n người.
Theo đề cử của Tiêu Hà, Hán vương phong Hàn
Tín làm Đại Nguyên Soáị Hàn Tín đă đem tài năng
ḿnh pḥ Lưu Bang, tóm thâu thiên hạ, dựng nên nhà Hán.
Trong khi danh vọng ngất trời, Hàn Tín vẫn hănh
diện v́ cái quá khứ bát cơm Phiếu Mẫu của
ḿnh và cũng từ đó, lưu truyền trong dân gian
điển tích này.
Chỉ tiếc khi tài - danh lên tột đỉnh, Hàn Tín
vẫn không hượm chân, nên đă chết thảm
dưới tay Lữ Hậu.
Điển Tích Truyện Kiều - Quạt
Nồng Ấp Lạnh
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Tích quạt nồng ấp lạnh có trong sách "Nhị
thập tứ hiếu" của Quách Cự Nghiệp
đời nhà Nguyên.
Đời Hậu Hán có đứa trẻ lên 9 tên là Hoàng
Hương. Mẹ mất quá sớm, Hoàng Hương
ở vơi cha; cậu bé thờ cha một mực hiếu
đễ.
Vào muà hạ, thời tiết về đêm nóng nực oi
bức, Hoàng Hương thường xuyên quạt màn
chiếu, chăn đệm cho thoáng mát trước khi cha
ngủ. Muà đông, tiết trời lạnh lẽo, đêm
đêm trước khi cha đi ngủ, Hoàng Hương vào
giường cha nằm lăn qua trở lại rất lâu,
để mền chiếu ấm hơi người cho cha
già được ngon giấc.
Điển Tích Truyện Kiều - Sâm Thương
Nàng rằng: Nghĩa trọng ngh́n non
Lâm Truy người cũ chàng c̣n nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ ṭng
Tại ai, há dám phụ ḷng cố nhân
Sâm Thương, tên gọi trong dân gian là sao Hôm, sao Mai, là hai
v́ sao chẳng bao giờ trông thấy nhau, một
đằng Đông buổi tối, một phía Tây ban sáng..
Truyện Thần tiên kể rằng:
Hàng năm, tại Thiên đ́nh có hội Bàn Đào, tiên ông
tiên nữ tề tựu dâng lễ vật, hái đào tiên
chúc tụng Ngọc Hoàng. Tiên đồng Bảo Sâm theo
hầu một tiên ông, ngọc nữ Thanh Thương theo
hầu một tiên cô. Hai trẻ t́nh cờ, gặp gỡ ,
quen biết nhau rồi sinh t́nh. Trước ngày mở
hội, đôi trẻ có chút thời gian bên nhau t́nh tự.
Một nhân vật thứ ba, tiểu đồng
Trường Quang, cũng t́nh cờ gặp gỡ Thanh
Thương, nhưng t́nh chỉ sinh một hướng, Thanh
Thương đă yêu đậm Bảo Sâm mất rồi.
Bị t́nh lờ, Trường Quang sầu thảm.
Đến ngày Bàn Đào khai hội, đàn ca xướng
hát rộn ràng. Các tiểu đồng, ngọc nữ
nhịp nhàng như vũ điệu, tay bưng khay, tay nâng
chén ngọc hầu rượu các tiên ông tiên bà.
Thanh Thương, là ngọc nữ hát hay múa đẹp
nhất, nên được chọn dâng chén cho Ngọc Hoàng.
Nhưng tâm hồn nàng để lạc đâu đâu,
đôi mắt cứ dơi t́m Bảo Sâm, nên sẩy tay đánh
rơi cả khay ngà chén ngọc. Thanh âm ngọc vỡ tan
hoang. Từ bàn dưới nh́n lên, Bảo Sâm thấy tai
hoạ đang giáng xuống cho người yêu cũng
sửng hồn, khay chén trên tay cũng đánh xoảng
rơi xuống đất. Đàn ca xướng hát thanh
thoát, bỗng nín bặt.,
Ngọc Hoàng xử tội ngay đôi trẻ:
- Đôi tiên đồng, ngọc nữ c̣n non tuổi mà
lại dám bày tṛ yêu đương nơi cơi, tội đáng
đày xuống trần gian cho làm một kiếp thú,
sống trong núi thẳm rừng sâu, kiếp sau mới
được đầu thai làm người ở luôn
dưới cơi trầ.n...
Trường Quang không phạm lỗi chi cũng run lập
cập khi Ngọc Hoàng đang xử tội người
yêụ. một chiều; khi vưa nghe lớ kết tội
đày xuống trần gian làm thú, không nén được
đau thương, Trường Quang đă thét lớn:
"Thanh Thương ơi, Thanh Thương ơi, ta
nguyện theo nàng xuống trần gian. Ngọc Hoàng thêm
giận, ừ th́ muốn theo th́ ta cho thỏa ước
mơ, truyền cho đày tiểu đồng t́nh dại này
đi chung một chuyến.
Các tiên ông tiên bà, thương cho ba trẻ t́nh si, chỉ v́
thương yêu mà chuốc họạ Họ đồng
thanh xin Ngọc Hoàng nương tay, chớ đày xuống
trần gian, mà hăy cho ở lưu lạc đâu đó trên
trời.
Lời câu xin của các tiên, Ngọc Hoàng nguôi ngoai cơn
giận, phán lại lần cuối cho chúng làm hai ngôi sao, tuy
ở chung cùng trời, nhưng không bao giờ
được gặp nhau.
Nàng Thanh Thương làm sao Thương, là sao hôm, chỉ
mọc lên ở hướng đông lúc về đêm;
Bảo Sâm trở thành sao Sâm, là sao mai, mọc ở phía tây lúc
trời hửng sáng.
C̣n Trường Quang, sẽ được như ư,
suốt đời t́m kiếm t́nh yêu, th́ biến thành sao
"vượt", bay đi xẹt lại trọn kiêp mà
kiếm t́m.
Ca dao Việt Nam ta có câu:
Sao hôm chờ đợi sao mai
Trách ḷng sao vượt nhớ ai băng chừng.
Sao vượt (sao băng) muôn đời vẫn mang theo
điều mơ ước.
Ngày nay, có ai mong mỏi điều ǵ, hăy ngước nh́n
lên trời đón ánh sao băng, điều ước
mơ sẽ được toại nguyện. Nhưng c̣n
sao Sâm, sao Thương, theo phán xử của Ngọc Hoàng
phải ngàn ngh́n trùng xa cách, đông tây, đêm ngày
đuổi bắt nhau mà không gặp được.
Điển Tích Truyện Kiều - Sân Hoè
Sân ḥe đôi chút thơ ngây
Trân cam ai kẻ đỡ thay việc ḿnh
Sân ḥe đôi chút thơ ngây. Cây ḥe, loại cây gỗ quí,
được trồng trước mặt các vị Tam
công (Thái Sư, Thái Phó và Thái Bảo) đứng chầu,
trong sân Ngoại triều của vuạ Tam triều của
vua: Yến triều, Nội triều và Ngoại triều.
Đời nhà Tống, có Vương Hựu, tự tay
trồng ba cây Ḥe trong sân nhà và nói rằng:
- Con cháu ta sau này sẽ có đứa làm đến chức
Tam công.
Quả đúng về sau, con của Vương Hựu là
Vương Đán làm đến Tam Công
Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc ḿnh. Trân cam là vị
ngon vị ngọt, ư nói sớm tối chiều hôm trông nom
thức ăn hầu cha mẹ.
Điển Tích Truyện Kiều - Sân Lai
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đă vừa người ôm
Tích Sân Lai cũng có trong "Nhị thập tứ
hiếu".
Lai Tử người nước Sở thời Đông
Châu liệt quốc, bảy mươi tuổi vẫn con
cha mẹ già.
Để làm tṛ cho cha mẹ vui, ông thường mặc áo
ngũ sắc sặc sỡ, giả làm trẻ nhỏ, múa
may đùa giỡn. Có khi làm bộ vấp bực thềm, té
lăn ra đất rồi nhại tiếng khóc con nít cho
cha mẹ cười.
Có khi nh́n đứa trẻ thơ 70 tuổi, cha mẹ
tuổi đă tṛn thế kỷ bỗng quay về thuở
trung niên.
Điển Tích Truyện Kiều - Sông
Tương
Kim Kiều chỉ cách nhau bức
tường hoa, nhưng chàng nàng đă cho rằng lễ
giáo như thành lũy đă chia loan rẽ phượng:
Từ phen đá biết tuổi vàng
T́nh càng thắm thiết, dạ càng ngẩn ngơ
Sông Tương một giải nông sờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.
Sông Tương hay Tương Giang, c̣n gọi là Tiêu
Tương, thuộc tỉnh Ninh Lăng, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.
Sử viết, khi vua Thuấn mất, hai bà phi là Nga Hoàng và
Nữ Anh thương tiếc không nguôi, hết vật vă
thảm thiết trong cung, lại ra bờ sông Tương
khóc than đêm ngày. Nước mắt hai bà nhỏ xuống
bờ trúc, làm cho trúc ở đây nổi lên những
đường vân đẹp như mây sóng ẩn hiện.
Người đớ sau thường t́m đến
bờ sông Tương mua loại trúc này về làm mành.
Nước mắt của cuộc t́nh vắn số đă
nhỏ xuống để tạo nê n những
đường vân tản mạc, nên mành tương là
một tượng trưng cho một số phận đoạn
nỗi. Chuyện t́nh của Kiều cũng tang tác, nên có
câu: Mành tương phảng phất gió đàn.
Trúc Tiêu Tương không những làm mành đẹp mà sáo trúc
Tương giang cũng mang một âm thanh có sức
truyền cảm lạ lùng. Chuyện hai bà Phi khóc chồng
bên bờ sông Tương thuộc đời Nghiêu
Thuấn; đến đời nhà Châu, sông Tương
lại chứng minh một t́nh buồn nữạ Chàng là
nho sĩ Lư Sanh; nàng thôn nữ Lương Ư Nương.
Đôi trẻ yêu nhau tha thiết đă nặng lời
hẹn ước. Sau khoa thi sẽ làm hôn lễ; nàng quay
tơ dệt vải đờ.i chờ; đêm đêm nàng
cũng chịu khó chong đèn, chút chữ nghĩa có văn
thơ với người yêu. Nhưng rồi giặc giă
nổi lên khắp nước, thân trai phải xếp bút
nghiên lên đường đao binh. Chén rượu ngày
hợp cẩn xin là chén ly bôi bên bờ sông Tương.
Đây sầu ly biệt của nàng chinh phụ trong Chinh
phụ ngâm :
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Nơi Hàm Dương cách Tiêu Dương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xa xa những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Ḷng chàng ư thiếp ai sầu hơn ai.
Nhà Ư Nương ở mạn hạ lưụ Chiều
chiều lại nhớ chiều chiều, nàng ra
đứng bên bờ sông trông về phía thượng
lưu ngóng đợị Vừng kim ô lặn xuống
trời tây, mặt nước sông Tương c̣n
vương lại chút nắng vàng rồi trở bạc;
đàn chim trong khóm trúc xạc xào bay về tổ ấm.
Chinh phụ chinh phu, như đầu sông cuối sông. Nàng
đă viết bài thơ cho môi t́nh ṃn mỏi bao năm
đơi chờ:
Nhân đạo Tương giang thâm
Vị để Tương giang bạn
Giang thâm chung hữu để
Tương tư vô biên ngạn
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Cộng ẩm Tương giang thủy
(Tương giang người bảo sâu
Chẳng bằng ḷng thương nhớ
Sông sâu c̣n có đáy
Tương tư không bến bờ
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà không thấy
Cùng uống nước sông Tương)
Điển Tích Truyện Kiều - Tất Giao
Một lời gắn bó tất giao
Mái sau dường có xôn xao tiếng người.
Tất giao nghĩa là sơn và keo, dính chặt vào nhaụ
Theo truyện Truyền kỳ Trung Quốc, xưa có hai
người bạn học tên là Lôi Nghĩa và Trần
Trọng chơi thân với nhau. Cả hai cùng ứng thí. Lôi
Nghĩa thi đậu, nhưng Trần Trọng lại
trượt.
Lôi Nghĩa thương bạn c̣n gia cảnh ngặt nghèo,
muốn nhường tên bảng vàng cho Trần Trọng,
nhưng không được quan trường chấp
thuận. Lôi Nghĩa bèn giả điên để khỏi
bị bổ làm quan.
Đến khoa thi sau, cả hai lại cùng đi thi và
đều đỗ. Bấy giờ cả hai mới
nhận áo măo triều đ́nh cùng ra làm quan.
Người đời đă có câu ca ngợi t́nh bạn Lôi
Nghĩa và Trần Trọng :
Tất giao vi kiên, bất như Lôi dữ Trần
(Keo sơn bảo là bền, chẳng bằng Lôi với
Trần).
Điển Tích Truyện Kiều - Thang Mây
Thang mây dón bước ngọn
tường,
Phải người hâm mộ rơ ràng, chăng nhe
Thang bằng mây dùng để leo thành cao.
Theo điển tích thời Chiến Quốc, lúc Sở Kinh
Vương chuẩn bị đánh Tống, bèn cho lệnh
Công Thâu Ban, người thợ mộc giỏi nhất
nước, chế tạo loại thang mây để công
hăm thành tŕ nước Tống.
Mặc Tử biết sắp có chuyện đao binh,
vội đến ngăn vua Sở:
- Nước Sở lớn, nước Tống nhỏ. Nay
Chúa công lấy lớn hiếp nhỏ th́ phỏng hay ho ǵ?.
Sở Kinh Vương chưa kịp trả lời th́
Mặc Tử đă tiếp:
- Nước Sở giàu, nước Tống nghèo. Chúa công
đánh nước Tống th́ được lợi
lộc ǵ.
Vua Sở hăm hở:
- Nhưng ta đă chế tạo được thang mây th́
phải đi công phá thành chứ.
Mặc Tử cười khẩy:
- Có thang mây đâu phải là chiếm được
nước Tống.
Vua Sở bực tức:
- Công Thâu Ban là thợ giỏi nhất thiên hạ, chiến
cụ của ông ta chế tạo ra há không công phá
được thành nước Tống ư?
Mặc Tử đáp:
- Vậy hăy thử để tôi thủ thành, cho quân dùng
thang mây của Công Thâu Ban tấn công, thử xem có thể
phá thành được không?
Vua Sở đồng ư cho thử trận.
Đúng như lời Mặc Tử, quân lính đă dùng thang
mây, khí cụ mới sáng chế, nhưng không sao công phá
được thành.
Sở Kinh Vương cả giận, nói vo('i Mặc
Tử:
- Dù vậy, ta đây vẫn có cách để thắng
được.
Mặc Tử hiểu ư vua Sở, trả lời:
- Cách của nhà vua là giết chết tôi chứ ǵ? Nhưng
cũng chẳng có lợi ǵ đâu. Tôi chết đi c̣n có
đám học tṛ, chúng đă học được cách
thủ thành của tôi và làm vô hiệu hoá cái thang mây sáng
chế của nhà vua rồi.
Sở Kinh Vương đành phải nghe theo lời
của Mặc Tử, bỏ ư định đánh Tống.
Điển Tích Truyện Kiều - Thôi,
Trương
Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương
Thôi, Trương tên của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân
Thụy. Theo chuyện "Hội Chân kư " đời
Đường, Trương Quân Thụy gặp Thôi Oanh
Oanh ở chùa Phổ Cứu đang lúc nàng thọ tang cho
cha. Vậy mà t́nh yêu cũng nẩy lộc, đêm đêm hai
người hẹn nhau ra mái phía Tây của chùa mà t́nh
tự.
T́nh yêu đă thắm đậm, nhưng sau đó hôn nhân
không thành, chàng lấy vợ và nàng cũng đi lấy
chồng...
"Hội Chân kư" kết thúc khi mối t́nh tan vỡ.
Đến đời Nguyên, nhà văn Vương Thực
Phủ đă phóng tác, viết thành tuồng Tây Sương
kư. Theo đánh giá của Kim Thánh Thán, nhà phê b́nh văn
học lừng danh cuối đời Minh, đầu
đời Thanh, th́ Tây Sương kư là một trong "
Lục tài tử thư " của Trung Quốc, gồm
có:
1. Nam Hoa kinh của Trang Tử
2. Sử kư của Tư Mă Thiên.
3. Thơ Đỗ Phủ đời Đường
4. Ly Tao của Khuất Nguyên
5. Thủy Hử của Thi Nại Am
6. Tây Sương kư của Vương Thực Phủ.
Tóm tắc tuồng "Tây Sương kư":
Góa phụ Thôi tướng quốc cùng ái nữ là Thôi Oanh
Oanh xin trú ngụ mái Tây chùa Phổ Cứu để cư
tang cho Thôi Tướng quốc.
Trên đường về kinh đô thi Hội, thư sinh
Trương Quân Thụy ghé lại tham quan cảnh chùa và
gặp gỡ Thôi Oanh Oanh. Diện kiến nhan sắc
tuyệt trần , chàng Trương bèn xin trọ lại
chùa để có dịp tỏ t́nh với giai nhân.
Gặp lúc có giặc Tôn Phi Hổ vây chùa và bắt nàng Thôi
Oanh Oanh đem đi. Mẹ nàng không biết cầu cứu
ai, chỉ biết hứa là ai cứu nguy được
cho gia đ́nh th́ gả con gái. Trương Quân Thụy
cấp tốc gởi thư cho một người bạn
học cũ là tướng quân Đỗ Quân Thực
đem binh đuổi giặc, cứu nạn cho gia đ́nh
Thôi Oanh Oanh.
Nhưng sau khi tai qua nạn khỏi, bà mẹ Oanh Oanh
thất hứa, không cho đôi trẻ kết hôn mà chỉ
cho kết nghĩa anh em. Trương Quân Thụy phẫn
uất, buồn bă rồi sinh trọng bệnh. Thị
nữ của Thôi Oanh Oanh là Hồng Nương hay tin,
về báo cho cô chủ. Thôi Oanh Oanh đang đêm, cùng
Hồng Nương t́m đến thăm chàng. Thị
nữ đứng trông chừng bên ngoài, trong thư pḥng
đôi lứa đă ..gẫm duyên kỳ ngộ, đẹp
tày Thôi Trương.
Chuyện " tiết trăm năm, nỡ bỏ đi
một ngày " của nàng Thôi bị đổ bể.
Mẹ nàng đành phải chấp thuận cho đôi
trẻ se duyên, nhưng buộc Trương Quân Thụy
phải lên đường về kinh ngay cho kịp kỳ
thi Hội, khi bảng vàng có tên rồi hăy quay về làm
lễ thành hôn. Trên đường tiến kinh, chàng
Trương ghé lại một quán trọ qua đêm. Trong
giấc ngủ, chàng mơ thấy Thôi Oanh Oanh...
Theo Hội Chân kư, th́ khi giấc mơ qua rồi cũng là
lúc cuộc t́nh ra đi. Nửa đường đứt
gánh, chàng theo đường chàng lấy vợ, nàng theo
đường nàng lấy chồng.
Nhưng trong tuồng Tây Sương kư th́ t́nh duyên hai
người không đứt đoạn, Trương Quân
Thụy thi đỗ Thám Hoa, vinh qui trở về
cưới nàng Thôi Oanh Oanh. Kim Thánh Thán đă đặt nghi
vấn, cho rằng 4 hồi sau của Tây Sương kư
không phải do Vương Thực Phủ viết, mà có
thể do Quan Hán Khanh, một nhà văn cùng thời với
Vương Thực Phủ. Bản dịch của
Nhượng Tống cùng chỉ dịch 16 hồi,
đến lúc tan vỡ mối t́nh Thôi Trương th́
kết thúc.
Điển Tích Truyện Kiều - Tiểu Lân
C̣n chi nữa, cánh hoa tàn
Tơ ḷng đă dứt dây đàn Tiểu Lân
Nàng Tiểu Lân, tài sắc vẹn toàn, đàn giỏi hát hay
, là ái phi của vua Trần Hậu Chủ, đời Nam
Bắc triều.
Hai nước Trần, Chu giao tranh. Trần thua.
Chu Vũ Đế bắt được Tiểu Lân
đem về, gả cho Đại vương Đạt.
Đạt thương yêu lắm, nhưng biết Tiểu
Lân vẫn một ḷng thủy chung với Hậu Chủ,
nên không nỡ ép duyên.
Một hôm, Đạt muốn nghe Tiểu Lân đàn; tỳ
bà, nửa chừng đứt dây, nàng tiếp lời
thơ:
Thiết thừa kim nhật sủng
Do ức tích thớ duyên
Dục tri tâm đoạn tuyệt
Ưng khán tất thượng huyền.
Thánh thượng có ḷng thương
Nhưng t́nh cũ đong đầy
Thiếp tơ ḷng đứt đoạn
Như dây đàn đứt ngang
Điển Tích Truyện
Kiều - Tống Ngọc
Dập d́u lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối t́m Tràng Khanh.
Nói về Tống Ngọc, t́nh sử Trung Quốc viết:
Vuơng Trung là một đại thần của
nước Sở. Một lần vua cho lĩnh ấn tiên
phong đi dẹp loạn, bị thất trận.
Vương Quân bị giáng chức, được bổ
làm thiên hộ vệ quân tại Nam Dương. Ái nữ là
Vương Kiêù Loan cũng theo cha về nhiệm sở
mới.
Kiều Loan là một giai nhân tuyệt sắc đang
độ tuổi trăng tṛn, bản chất thông minh,
lại được cha mẹ cưng ch́u, từ nhỏ
đă thông làu kinh sử, văn hay chữ tốt. Năm
tháng nàng chỉ quẩn quanh chốn khuê pḥng. Tài sắc
vẹn toàn, lại là con nhà trâm anh thế phiệt, nên khó mà
t́m cho được người môn đăng hộ
đối. Nàng có một người cô là Tào Di, góa
chồng. Mẹ nàng đưa bà vềsống chung với
gia đ́nh để sớm hôm bầu bạn với
Kiều Loan.
Một hôm, trong tiết thanh minh, hai cô cháu cùng đám thị
nữ tản bộ đến hoa viên thưởng
ngoạn. Đang mải ngắm hoa xuân, Kiều Loan linh
cảm có ai từ bên kia bức tường đang
đăm đăm nh́n ḿnh. Chỉ đôi mắt ai đó
thôi, Kiều Loan đă thẹn thùng đỏ mặt,
đôi chân líu quíu không dời bươc được.
Nàng níu lấy áo bà cô, giục đưa về pḥng; các
thị nữ cũng líu ríu về theo.
Vườn hoa đă vắng bóng giai nhân, nhưng
hương thơm c̣n đọng lại. Đôi mắt,
chàng trai lần bước ra, tẩn ngẩn như
mất hồn; chợt trông thây chiếc khăn tay của
ai c̣n vướng trên cành hoa, chàng cầm lấy áp vạ môi.
Một thị nữ của Kiều Koan quay trở lại
t́m chiếc khăn cho chủ. Chàng trai tư giới
thiệu tên là Tống Ngọc và biết tên của thị
nữ là Minh Hà và ḍ được quí danh của cô chủ.
Tống Ngọc không trả lại khăn, mà chỉ
năn nỉ nhờ thị nữ trao lại cho chủ
một tấm hoa tiên, bài thơ vừa mới viết:
Phạ xuất quí nhân phận ngoại hương
Thiên công giao phó hữu t́nh lang
Ân cần ky thủ tương tư cú
Nghi xuất hồng ty xuất động pḥng
(Khăn rơi mỹ nữ đượm hơi
hương
Tạo hóa khiến xui kẻ vấn vương
Gởi khúc tương tư t́nh tha thiết
Chỉ hồng buộc chặt mối lương duyên)
Từ tuổi dậy th́ vừa chớm, giai nhân chỉ
ẩn ḿnh pḥng the, chỉ biết vui cùng đèn sách. Nay
nhận được lời tỏ t́nh tuy quá
đường đột nhưng chao ôi là t́nh. Trong ḷng
như sóng dậy, Kiều Loan không chợp mắt, cuối
cùng không nén được rộn ràng, tấm hoa tiên
đề thư phúc đáp:
Thiế'p thân nhất điểm ngọc vô hà
Linh thi hầu môn tướng tướng gia
Tinh lư hữu thân đồng đối nguyệt
Nhàn trung vô sự độc khán hoa
Biết ngô chi hứa lại kỳ phương
Thúy trúc nang dung nhập lăi nha
Kỳ dữ dị hương cô lănh khách
Mặc tướng tâm sự loạn như ma
(Thân em như khôi ngọc trong lành
Khuê các ẩn ḿnh kín cửa quan
Ngày vắng dạo xem hoa dưới mái
Đêm thanh bầu bạn trăng bên mành.
Một ḿnh ngắm hoa nào ai tỏ
Cành ngô phượng vĩ chen màu biếc
Khóm trúc ô môn đượm mảnh t́nh
Nhắn nhủ phượng xe người lữ khách
Đừng trao tâm sự rối ren ḷng.)
Tống Ngọc nhận được thơ từ tay
Minh Hà, chàng lại phúc đáp. Từ đó , tỳ nữ
Minh Hà là chim xanh, thơ đi t́nh về cho đôi
lứạ Thời gian qua, đến lúc yêu
đương đă chín mọng rồi, vậy mà Tống
Ngọc vẫn phớt lờ chuyện mai mối, Kiều
Loan phải thúc giục. Chàng trai viện cớ này , cớ
nọ để tŕ hoăn. Rồi một chiều, Tống
Ngọc lén đến bên tường đông, tỏ ư
muốn vào tận sâu khuê pḥng. Nàng từ chối; nhưng
khi Tống Ngọc tiu nghỉu ra về, th́ Kiều Loan
lại sai Minh Hà đem đến một tấm hoa tiên:
Ám tương tế ngữ kư anh tài
Thảng hướng nhân tiện mạc loạn khaị
Kim dạ hương khuê xuân bất toả
Nguyệt di hoa ảnh, ngọc nhân lai
(Đôi lời xin ngỏ cùng ai
Nỗi riêng chớ để người ngoài thị phi
Pḥng xuân mở rộng đêm nay
Trăng đưa hoa bóng gót lài rẽ sang
Vầng trăng vừa ló đầu núi, Tống Ngọc
đă vội vàng nhẹ bước đến
tường đông. Tỳ nữ Minh Hà đứng
đợi ở cửa pḥng. Lúc được đưa
vào gặp, Kiều Loan cho mời bà cô Tào Di đến,
rồi quay lại nhỏ nhẹ cùng Tống Ngọc:
- Thiếp là người đoan chính, chàng đâu phải là
kẻ phàm phu. Chúng ta đă yêu nhau là do tài sắc, đă thành
keo sơn gắn bó. Yêu chàng, thiếp đâu c̣n tiếc
lấy thân, nhưng chỉ sợ vườn xuân cánh
bướm, biết rồi có giữ được
nguyện ưó+c hay không. Vây chúng ta hăy nguyện lời
thề thủy chung đầu bạc răng long. Nếu
không, chẳng hóa ra v́ ham mê muội ái ân mà chúng ta quên
nghĩa đá vàng.
Đôi uyên ương nhờ bà cô đứng ra chứng dám
lời thề nguyền. Làm chứng xong, bà cô rút êm,
để lại pḥng the cho gió trăng. Ngoài pḥng, Minh Hà
ngồi canh cửạ Sáng tinh mơ, Kiều Loan đă
đánh thức t́nh lang dậy, thủ thỉ bên tai chàng:
- Đời con gái, thiếp' đă trao trọn cho chàng
rồị Thiếp chỉ mong chàng giữ trọn lời
thề, sống chết có nhau đến trọn kiếp..
Từ đây về sau, khi nào có thể gặp nhau
được, thiếp sẽ sai bảo Minh Hà đến
đón chàng.
Từ đó, đôi trai gái không c̣n kín đáo trao cho nhau
những vần thơ t́nh ủ ấp' hương , mà
chỉ cách khoảng một hai hôm, lại được
sự dẫn dắt cuả cô thị nữ Minh Hà,
để t́m gặp nhau trong ái ân hoan lạc. Tường
đông rộn ràng hoa bướm, nào đâu ngờ càng
rộn ràng hơn trong ḷng thiếu nữ Minh Hà, đang xuân
th́ phơi phới, cứ phải lấp ló trộm nh́n
cảnh dập d́u gái traị Và, thời gian không lặng
lẽ qua đi , trong suốt ba năm, những khoản
hở không gặp Kiêù Loan, Tống Ngọc lại lén lút dan
díu với Minh Hà. Sau rồi, Kiều Loan cũng hay
chuyện, đau đớn không lường, nhưng
chuyện đă rồi, đành ngậm đắng, và
hối thúc Tống Ngọc phải làm lễ thành hôn
với ḿnh.
Từ lâu, Vương Thiên Hộ đă lợm danh Tống
Ngọc, chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn chuơng uyên bác,
nhưng lại chuyên bề trăng gió , đă làm cho
biết bao giai nhân bẽ bàng, nên quyết liệt từ
chối lớ cầu hôn. Bị từ hôn, vui hay buồn
không biết, Tống Ngọc lặng lẽ ra đi,
nối tiếp cuộc sống ngắt hoa bẻ cành.
Đau thương cho Kiều Loan, ṿ vơ trông ngóng
người yêu quay trởlại, rồi đau t́nh đến
chết. Trước khi ĺa đời, nàng đă để
lại bản Trường hận ca và ba mươi bài
thơ tuyệt mệnh.
Điển Tích Truyện Kiều - Trao Tơ
Nuôi con vẫn ước về sau
Trao tơ phải lứa gieo cầu phải nơi.
Có nhiều điển tích trong việc kén chọn kết
duyên, trao thân gởi phận giữa đôi trai gáị Trao
tơ là trao sợi chỉ tơ hồng , c̣n gọi là
hồng ti, cho người đính ước.
Tích trao tơ có từ đời Đường.
Trương Gia Trinh có năm người con gái sắc
nước hương trời đều đang
đến tuổi cập kệ Vương tôn công tử
gần xa đều ngấp nghé muốn xin, nhưng các
chàng trai đều hoa mắt, v́ các giai nhân trang sức
ăn mặc rất giống nhau, đi đứng nói
cười như hệt, ngày đêm quanh quẩn khuê pḥng
như các hằng nga vờn trong mây.
Có chàng nho sĩ tài danh tên là Quách Nguyễn Chấn
thương lui tới gia trang đối ẩm với Gia
Trinh. Mến mộ tài năng đức hạnh của
chàng nho sĩ, ông già ngỏ ư muốn gả một trong
năm cô con gái của ḿnh. Nguyễn Chấn mừng
khấp khởi, nhưng cả năm cô gái đều
đẹp như tiên giáng trần, trông giống nhau quá th́
biết chọn ai đây. Gia Trinh nghĩ ra một kế,
cho năm ái nữ ngồi sau một bức mành, mỗi
người cầm một sợi tơ màu khác nhau. Duyên
số cho màu tơ người nào được chọn.
Và Nguyễn Chấn đă chọn sợi tơ màu hồng.
Từ đó trao tơ hồng có nghĩa là lời đính
ước chuyện trăm năm.
Điển Tích Truyện Kiều - Tràng Khanh
Phương Tây có Casanova, có Don Juan., nhưng đào hoa,
đa t́nh e c̣n thua xa Tống Ngọc, Tràng Khanh..Sớm
đưa Tống Ngọc, tối t́m Tràng Khanh. Chỉ
một khúc nhạc Phượng Cầu trầm tư
để "làm vốn" mà Tràng Khanh đă làm rơi
rụng biết bao con tim. Tiếng đàn của Kiều
cũng nặng u sầu khúc nhạc này:
Khúc đâu Tư Mă Phượng Cầu
Nghe ra như oán như sầu phải chăng ?.
Trường Khanh, tức Tư mă Tương Như có
tiếng đàn tuyệt chiêu, đặc biệt là khi
gảy khúc Phượng Cầu, trong ḷng thiếu phụ,
gái thanh xuân bỗng như sóng trào.
Thời ấy có nàng Trác Văn Quân thuộc hàng quốc
sắc thiên hương, con của tri huyện Thiểm Tây
Trác Bá Lộc. Nàng được gă cho thư sinh
Vương Hàm Tân, đỗ tú tài rồi nhu(ng vẫn
tiếp tục việc bút nghiên. Nửa năm hương
lửa đang nồng, Hàm Tân bỗng lâm bạo bệnh
từ trần. Nửa đời hồng nhan dang dở.
Trong suốt thời gian làm tuần , nàng ngồi rũ
rượi bên bàn thờ chồng. Bỗng một đêm,
văng vẳng từ bên kia sông, tiếng đàn ai theo
với lời ca năo nùng:
T́nh yêu là mối dây oan
Hoa tươi nghĩ lúc hoa tàn tủi thân.
Hoa tàn hoa rụng - Hoa héo đầu cành
Hận ngày xanh - Tủi ngày xanh
Kiếp hoa ngắn ngủi
Mưa gió tan tành
Nguyệt đan mành
Hoa tàn tạ
Cảnh bâng khuâng
Yêu nhau không trọn
Đời bạc như vôi
T́nh xưa ai đă phụ rồi
Người xưa như thế th́ thôi c̣n ǵ
Mối t́nh si - lệ lâm ly
Thà rằng quen biết nhau chi
Biết nhau như thế ước ǵ mà mong
Ôi tiếng đàn câu ca như xé tâm can. Trác Văn Quân
gọi tỳ nữ Thanh Mai vào thơ pḥng , hỏi:
- Tiếng đàn của ai bên sông sao nghe buồn bă quá, ḷng
ta xao động khôn cùng. Người hăy sang sông t́m thử
ai đang réo rắt tiếng tơ trùng này.
Đêm đă khuya, nhưng may con ánh trăng vằng vặc.
Thanh Mai vâng lời chủ, gọi đ̣ sang sông. Cô lái đ̣
giải thích cho Thanh Mai:
- Có chàng trai từ phương xa đến đây tên là
Tư Mă Tương Như Trường Khanh . Chàng có khúc
nhạc mê hồn Phượng Cầu Hoàng, đàn bà con gái
không sao cưỡng lại sức quyến rũ, mê
mẫn khi nghe khúc nhạc này.
Thanh Mai chỉ hiểu mơ hồ lời giải thích
của cô lái đ̣ và t́m đến gần phía trang viên. Bên
trong thấp thoáng nhiều bóng hồng đang đùa
cợt lả lơi quanh một chàng trai trẻ
đẹp. Sửng sờ, cô tỳ nữ bị chôn
cứng chân đến gần tảng sáng mới lần
bướ ra về, thưa chuyện cho cô chủ:
- Em đă t́m đến trang viên.. Ở đó có vườn
hoa đẹp, có chàng trai tên là Trường Khanh, có
tiếng đàn làm mê hoặc đàn bà con gái khắp vùng này.
Trác Văn Quân bỗng hở dài, nét hoa thêm phần ủ
dột, thảo nào, ḷng tạ. Suốt ngày hôm đó, nàng
ngồi câm nín bên lan can, vành khăn tang trễ xuống ngang
vai, khói hương bàn thờ chồng cũng tắt
ngấm. Rồi ngày một ngày hai, tiếng đàn sao im
bặt.. Qua đêm thứ ba, Văn Quân không d́m
được nỗi ḷng, gọi Thanh Mai vào:
- Đa ~ hai đêm ta không nghe được tiếng
đàn, trong người khó thở. Người hăy t́m
đến chàng, trao thư này cho tạ Thanh Mai ngập
ngừng can ngăn:
- Tiểu thư chưa quen biết, sao lại trao thơ
cho người tạ Lệnh lang cũng vừa mệnh
chung...
Văn Quân như mất hồn, ừ th́ thôi vậy,
nếu người không trao thư cho ta, th́ hăy đưa ta
đến t́m gặp người đó . Nói xong. vội
vàng Van Quân cởi bỏ tang phục, ăn mặc cực
kỳ diêm dúa, kéo xệch Thanh Mai xuống đ̣, sang ngang.
Gần đến trang thanh viên, Văn Quan hối hả
bước vộị Nhưng khi đến gần,
được Thanh Mai chỉ cho trông thấy dung mạo
người trong mộng, Văn Quân bỗng thẹn thùng;
con người đàn bà đoan chính, một thoáng chốc
... Nàng run rẩy quay gót chạy trở về. Tràng Khanh
cũng biết có nguời đang nh́n trộm ḿnh rồi
bỏ chạy, nhưng vướng víu các kiều nữ
đang quấn chặt lấy ḿnh, nên không theo đuổi
kịp. Sau đó, tuy trễ một chuyến đ̣, Tràng
Khanh cũng t́m đến được bên ngoài phủ
quan, biết ngướ thiếu phụ là Trác Văn Quân,
góa phụ trẻ đẹp tuyệt tác trần gian. Tràng
Khanh nghĩ, ta sẽ có nàng.
Trác Văn Quân về đến thơ phong, vất bỏ
xiêm ỵ mặc lại tang phục, đến ngồi
lặng yên bên bàn thờ chồng. Nửa đêm về sáng,
bỗng tiếng đàn lại vọng lên. Ôi nó réo rắt
mời gọị Người góa phụ cố bịt kín
lấy đôi tai, nhưng âm thanh lại càng xoáy vào hồn.
Nàng dẫy dụa trong dằn vặt nhưng thôi ; ánh
trăng mờ dần .. nàng thẩn thờ đứng
dậy, lại cởi bỏ tang phục, thay đổi
xiêm y sặc sỡ, nhanh bước ra bờsông. Khi đă
đưa nàng sang bên kia bờ, cô lái đ̣ hỏi:
- Thưa bà, tiện nữ sẽ đợi đến bao
giờ để đưa bà về.
- Không, đừng hoài công chờđợi . Ta đă vào
khúc Phượng Cầu, e không có ngày trở lại.
Điển Tích Truyện Kiều - Trúc Mai
Kim lang ơi hỡi Kim Lang, khóc chi cho
xiết sự t́nh. Ngày mai, tên lái người Mă Giám Sinh
sẽ dắt thiếp đi, như dắt trâu ngựa,
về Lâm Trị Chàng đang ở Liêu Dương, nơi
xa xôi ngàn dặm, có thấu chăng nỗi ḷng nàỵ
Một ḿnh, một bóng thiếp đang khóc cho t́nh đôi ta:
Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đă phụ chàng với hoạ
Trời Liêu non nước bao xa
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà từ tôi
Biết bao duyên nợ thề bồi
Kiếp này thôi thế th́ thôi c̣n ǵ
Tái sinh chưa dứt hương thề,
Làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai.
Trong các tranh thủy mạc của Trung Quốc
thường vẽ bụi trúc bên cành maị Hai loại cây
này, dù trong đông giá vẫn không tàn úạ Đông đi xuân
đến, mai lan cúc trúc, 4 muà của trời đất.
Chuyện Trúc Mai được chép trong sách Lưỡng ban
thư vũ tùy bút:
Huyện Long Môn, tỉnh Quảng Đông có một cái
đầm nước rất đẹp.Vào dịp thu sang,
lá vàng xào xạc, thân cây trơ trụi, riêng chỉ có hai
loài mai và trúc th́ lá vẫn xanh tươi. Các gia đ́nh
quyền quí, thường đến đó ngoạn
cảnh trong tiết thu sang. Trong t́nh cơ, có hai trai gái quen
nhau, rồi yêu nhaụ Đô^i uyên ương đều là
con nhà gia phong thế phiệt. Chàng là Lâm Bá Trúc, nàng là Hoàng
Kỳ Maị Ngướ xưa, khi nói người con gái
có cốt cách cao sang th́ được tả là ḿnh hạc
xương maị Hai chị em Kiều cũng
được cụ Nguyễn chấm phá đôi nét:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn
mười
C̣n cây trúc được ví với các nho sinh, công tử.
Ngày ngày Kỳ Mai, Bá Trúc đều hẹn nhau dạo
chơi trên đầm. Những ngày thơ mộng. Nhưng
rồi muà thu cũng ra đị Đôi uyên ương trao
lời từ biệt. Buổi chiều cuối dạo
thuyền trên đầm. Trúc bẻ một cành mai, Mai
bẻ nhánh trúc, rồi cùng thành tâm khấn nguyện:
Hai cành trúc mai là đôi chúng tạ Chúng ta ném hai cành cây này
xuống nước theo hướng khác nhaụ Nếu là
duyên trời định th́ gịng nước sẽ
đưa đẩy hai cành cây này đến với nhau,
th́ đó là trúc mai ḥa hợp, chúng ta sẽ nên duyên vợ
chồng. Xin đất trời chứng giám. Một cơn
gió nổi lên, mặt nước đang lặng lờ
bỗng gợn sóng. Chỉ một lúc sau, sóng gió đưa
đẩy hai cành trúc mai đến gối đầu lên
nhau.
Lời nguyện đă linh ứng. Đôi trẻ trở
về thưa chuyện với lệnh đường
đôi bên. Hai họ cho đó là duyên tiền định, nên
hoan hỷ tác hợp cho Trúc Mai thành duyên vợ chồng.
Đời sau, khi nói trúc mai là nói đến t́nh nghĩa
vợ chồng . Kim Kiều chỉ mới thề
ước, nhưng đă như phu thê t́nh nồng. Nay
thiếp tṛn chữhiếu, biết kiếp nào đền
ngh́ trúc mai, thôi thôi thiếp đă phụ chàng từ
đây...
Điển Tích Truyện Kiều - Tựa
Cửa Hôm Mai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Tích tựa cửa từ thời Chiến Quốc.
Vương Tôn Giả làm quan dưới triều Tề Mân
Vương. Tôn Giả mồ côi cha sớm, chỉ c̣n
mẹ già. Gặp cơn chinh chiến, Tề Mân
Vương thua trận, bỏ kinh thành mà chạỵ
Vương Tôn Giả pḥ vua, chạy đến
nước Tề th́ vua tôi lạc mất nhau, nên ông
lại quay về quê nhà t́m mẹ
Bà mẹ thấy con về, bèn hỏi:
- Sao con không pḥ tá chúa công mà lại quay về đây?
Vương Tôn Giảng thưa:
- Thua trận, vua tôi cùng chạy đến nước
Vệ th́ lạc nhau. Không biết giờ này vua lưu
lạc nơi nào.
Bà mẹ nổi giận:
- Mày sớm đi chiều về, ta tựa cửa trông; mày
chiều đi mà tối không về th́ ta vẫn tựa
cửa mà ngóng đợi. Vua trông đợi bề tôi
chẳng khác chi mẹ mong con. Mày là phận làm tôi, mà vua
lạc đi đâu mất không hay lại bỏ về nhà
ư?. Có phải là ta có đứa con bất trung không?
Vương Tôn Giả nghe lời mẹ dạy, không dám
bịn rịn t́nh mầu tử, liền lên
đường t́m vuạ Khi biết tin Tề Mân Công
đă bị giết, Vương Tôn Giả qui nạp dân
chúng lại, t́m giết được kẻ giết vua,
báo thù cho Tề Mân Công.
Điển Tích Truyện Kiều - Tú Khẩu
Cẩm Tâm
Xem thơ nức nở khen thầm
Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường
Tú khẩu, cẩm tâm; miệng thêu, ḷng gấm ư nói
người có tài văn chương, lời hay ư
đẹp. Trong văn học Trung Quốc, bốn
người văn chương trác tuyệt
được đời xưng danh là "tú khẩu,
cẩm tâm" là Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương
Tu và Tô Tuân.
Hàn Dũ (768 - 824) tự là Thoái Chi, người đơi
sau thường gọi là Hàn Xương Lê, quê quán Nam
Dương, tỉnh Hồ Nam, mồ côi sớm, học
rất giỏị Năm 25 tuổi đỗ tiến
sĩ, làm Giám sát Ngự sử, Sử quán Tu soạn rồi
H́nh bộ Thị Lang. Hàn Dũ là người tôn sùng giáo lư
Khổng Mạnh, nhưng vua Đường Hiến Tông
lại sùng đạo Phật. Hàn Dũ làm sớ khuyên vua
bài xích đạo Phật và đốt xương
Phật. Vua giáng chức làm Thứ sử Triều Châu,
nhưng rồi sau đó cũng được triệu
về kinh phục chức.
Liễu Tôn Nguyên (773 - 819) tự là Tử hậu, quê quán Hà
Đông, người cùng thời với Hàn Dũ và cũng
chủ trương tôn Khổng Mạnh, bài triết lư
Phật. Ông đỗ Tiến sĩ và Bác học Hoằng
từ, làm quan đến Giám sát ngự sử. Sau bị
tội, nên bị giáng xuống làm Tư mă Vĩnh Châu,
rồi Liễu Châu thứ sử.
Âu Dương Tu (1007 - 1072) tự Vĩnh Thúc, quê quán
đất Tô Lăng đời Tống, đỗ Tiến
sĩ, học rộng, văn tài trác tuyệt, làm quan
đến Binh bộ Thượng thư. Tính t́nh ngay
thẳng, nên quan Dương Tu bị nhiều người
ghét. Ông thuộc phái "Cựu đảng" của
Tư Mă Quang chống "Tân pháp" của Tể
tướng Vương An Thạch, nên phải lui về
vườn sớm khi chưa tới tuổi hưụ Ông
là tác giả bô Tân Ngũ Đại Sử và biên soạn
chung với Tống Kỳ bộ Tân Đường thi.
Tô Tuân (1009 - 1066) tự Minh Doăn, quê ở My Sơn
đời Tống. Tô Tuân không xuất thân khoa bảng
nhưng ông lại là một danh sĩ. Năm 27 tuổi ông
mới bắt đầu học, năm 37 tuổi có đi
thi một lần, không đỗ. Buồn, đi ngao du
đây đó mấy năm mới chịu quay về nhà và
từ đó không thi cử ǵ nữa. Ông là thân phụ
của Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt. Năm 1059,
ông được triều đ́nh đặc cách chức
Hiệu Thư lang, chuyên chép chuyện các đời vua nhà
Tống, nhưng chỉ được khen chứ không chê.
Ông tỏ ra không thích công việc này, nên được
đổi làm Chủ Bạ huyện Văn An. Ở đó
ông soạn bộ Thái thường nhân cách lễ, gồm
một trăm quyển. Sách vừa soạn xong th́ ông qua
đời.
Được Chim Bẻ Ná, Được Cá Quên
Nơm
Việt Nam có thành ngữ
"Được chim bẻ ná, được cá quên
nơm", th́ "Được chim bẻ ná" có ư
nghĩa giống với thành ngữ "Thố tử
cẩu phanh" (thỏ chết th́ chó săn bị đem
nấu) của Trung Hoa, c̣n "Được cá quên
nơm" th́ ư nghĩa tương đồng với thành
ngữ "Điểu tận cung tàng" (chim hết th́
cây cung bị cất đi".
Quan đại phu Phạm Lăi dưới triều Việt
Vương Câu Tiễn, từng đem hết tài sức
phục vụ cho nước Việt của ông.
Nước Việt và nước Ngô có chiến tranh,
nước Việt v́ quân sự yếu kém nên bại
trận, Phạm Lăi khuyên Câu Tiễn nên nhẫn nhục
đầu hàng.
Đến lúc thời cơ đă chín mùi, t́nh thế đă
hoàn toàn thuận lợi, Phạm Lăi đă thảo kế
hoạch hưng binh đánh Ngô, kết quả là đă giúp
Câu Tiễn trả được mối thù lớn lúc
xưạ
Đối với Câu Tiễn, và cả nước
Việt, th́ Phạm Lăi là đệ nhất đại công
thần. Đáng lẽ sau khi đánh bại được
nước Ngô, làm cho nước Việt được
độc lập và hưng thịnh trở lại,
Phạm Lăi sẽ yên hưởng vinh hoa phú quư, thụ.
hưởng sựđền ơn của Câu Tiễn,
nhưng Phạm Lăi đă không làm như vậy, mà lại
xin cáo quan, bỏ hết chức tước bổng
lộc, địa vị quyền uy, để sống
nếp sống mây ngàn hạc nội của 1 ẩn sĩ.
Sau đó, Phạm Lăi lại viết thư, gửi cho 1
bạn đồng liêu cũ của ḿnh là quan đại
phu Văn Chủng, khuyên Văn Chủng cũng nên cáo quan,
từ bỏ chức tước bổng lộc, th́ mới
mong tránh được tai họa xảy tới sau nàỵ
Trong lá thư đó, Phạm Lăi có viết những câu
như sau :
Cao điểu tận, lương cung tàng.
Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh.
Nghĩa là, chim ở trên cao đă bị bắn chết, th́
cây cung tốt được cất đi, loài thỏ
chạy nhanh đă bị săn đuổi chết
hết, th́ con chó săn bị đem làm thịt.
Từ lá thư này của Phạm Lăi gửi cho Văn
Chủng, người đời sau rút ra thành ngữ
"Thố tử cẩu phanh" (Thỏ chết th́ chó
săn bị đem nấu) để nói về
người vong ân bội nghĩa, lúc khó khăn nghèo hèn th́
nhờ cậy người khác, đến khi thành công sung
sướng th́ phản bội những người giúp
ḿnh lúc trước.
Cũng từ sự tích trên, người Tàu c̣n có thành
ngữ "Điểu tận cung tàn", tuy cùng nguồn
gốc với thành ngữ "Thố tử cẩu
phanh", nhưng ư nghĩa có đôi chút khác nhaụ
Thành ngữ "Điểu tận cung tàng" (Chim hết
th́ cây cung bị cất đi) hỉ nói về sự quên
ơn mà thôị Bởi v́ chim bắn hết, cây cung không c̣n
dùng làm ǵ nữa, nó bị đem cất đị Cây cung
bị cất đi, nhưng nó không bị tổn hại
ǵ. Nghĩa là nói về kẻ thành công quên ơn
người đă giúp ḿnh lúc trước mà thôị
C̣n thành ngữ "Thố tử cẩu phanh" (Thỏ
chết th́ chó săn bị đem nấu) chẳng
những nói về sự quên ơn, mà c̣n nói về sự
phản bộị Bởi v́ sau khi những con thỏ
bị chết hết, th́ con chó săn bị chủ đem
ra làm thịt, nghĩa là nó bị hại, đến
nỗi tính mạng không c̣n. Nghĩa là nói về kẻ làm
hại ngay cả người đă giúp ḿnh lúc
trước.
Ngoài ra, cùng ư nghĩa với thành ngữ "Thố tử
cẩu phanh" c̣n có thành ngữ "Hữu sự
kiến dụng, vô sự hoạch tội" (Khi hữu
sự th́ được dùng, khi vô sự th́ bị
tội).
Các thành ngữ của VN và Tàu nói trên c̣n ngụ ư khuyên
rằng khi chịu ơn của người khác, nếu
không trả ơn được, th́ cũng phải tỏ
ra biết ơn, chứ đừng vô ơn bạc
nghĩạ
Giá Áo Túi Cơm
Thời Ngũ Đại, có một
người tên là Mă Ân, tiếm ngôi
vuạ Mă Ân nguyên trước chỉ là một vị quan vơ
nhỏ, bộ
hạ của quan Vũ An Tiết Độ Sứ
đời Đường là Lưu Kiến
Phong. Rồi sau, Lưu Kiến Phong bị bộ hạ
giết, Mă Ân
được tôn lên làm Thống soáị
Rồi đến khi Chu Ôn soán được thiên hạ
của nhà Đường,
đổi quốc hiệu là Lương (sử gọi là
nhà Hậu Lương),
th́ Mă Ân được phong làm Sở Vương, làm
chủ cả một giải
đất Đông Bắc tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây,
quyền uy lừng
lẫy một thờị
Nhưng Mă Ân thật sự lại chỉ là một kẻ
tầm thường,
bất tài, chuyên lo hưởng thụ, người
đương thời rất
khinh thường Mă Ân, và gọi Mă Ân là "Tửu nang
phạn đại",
ư nói rằng Mă Ân chỉ là cái túi để chứa
rượu, đựng
cơm mà thôị
Về sau, người đời biến "Tửu nang
phạn đại" thành thành
ngữ để chỉ hạng người bất tài vô
đức, không giúp ǵ
được cho quốc gia xă hội, trái lại chỉ
chạy theo lợi
danh, mưu cầu cơm áo cho ḿnh mà thôị
Giấc Mộng Hoàng Lương
"Hoàng lương" có nghĩa là
kê vàng.
Ngày xưa có Lư Sinh đi thi không đỗ, vào hàng
cơm nghỉ chân. Có một lăo già cho mượn một
cái gối nằm. Lư Sinh ngủ và chiêm bao thấy
đỗ tiến sĩ, làm quan to, vinh hiển hơn 20
năm, gia đ́nh hưng vượng, con cháu đầy
đàn. Tỉnh ra mới biết ấy chỉ là một
giấc mộng. Nồi kê nhà hàng c̣n chưa chín. Ư nói
giấc mộng đẹp và ngắn ngủị
Giấc Mộng Nam Kha
Thuần Vu Phần ngày xưa rất
nghèo, nằm ngủ bên gốc cây ḥe, chiêm bao thấy hai
sứ giả mời ông làm Pḥ mă, rồi được vua
phong làm Thái thú ở đất Nam Kha rất vinh hiển.
Khi tỉnh giấc chỉ thấy một đàn kiến
bên ḿnh.
"Giấc mộng Nam Kha", ư nói giấc mộng
đẹp đẽ và ngắn ngủi (tương tự
như "Giấc mộng hoàn lương")
Giọt Hồng
Theo điển tích, nàng Tiết Linh Vân
đời nhà Tùy khi từ biệt song thân để
ứng tuyển vào cung vua, không có hy vọng gặp lại
mẹ chạ Nàng khóc đến độ nước
mắt chảy ra như máụ
Hàn Thực
Hàn thực là ngày mồng ba tháng ba, ngày
ăn nguội, không được củi lửa,
để tưởng nhớ đến Giới Tử
Thôi.
Thời Chiến quốc, Công tử Trùng Nhĩ bị cha là
Tấn Hiến Công và mẹ ghẻ là Ly Cơ mưu
hại, nên phải ra nước ngoài.
Trong những năm lưu vong đây đó, Trùng Nhĩ và
thuộc hạ phải đương đầu với
bao gian lao khổ cực, có lúc phải đi ăn xin.
Một lần ở nước Vê, cả thầy tớ
đói lả không lê bước được nữa,
Trùng Nhĩ nằm luỗi dưới gốc cây, chờ
thuộc hạ kiếm tí rau củ về lót dạ. Không
ngờ, một đồ đệ là Giới Tử Thôi
lại đem về một tô thịt c̣n nóng hổi. Trùng
Nhĩ ngấu nghiến, ăn xong thấy khỏe ngay.
- Nhà ngươi t́m đâu ra thịt ngon như vậy?
Giới Tử Thôi quỳ xuống thưa:
- Thuộc hạ nghe nói: người con hiếu phải
biết xả thân v́ cha mẹ, bậc tôi trung phải
biết xả thân để thờ vua. Nay công tử không
có ǵ ăn đă mươi ngày nay, thuộc hạ .xin
được cắt thịt đùi ḿnh cho công tử qua
cơn đói ḷng.
Trùng Nhĩ xúc động, ứa nước mắt:
- Ơn này biết bao giờ ta đền đáp
được.
Mười chín năm khổ ải kiếp lưu vong,
Trùng Nhĩ quay trở về Tấn phục quốc, lên
ngôi lấy hiệu là Tấn Văn Công. Vua ban thưởng
những bầy tôi trung thành đă pḥ vương có
được ngày vinh hiển, nhưng lại quên bẵng
người bề tôi đă tự lóc + thịt ḿnh
để cứu chúa.
Giới Tử Thôi vẫn sống ẩn dật, ngày ngày vá
thuê giày dép kiếm tiền nuôi mẹ. Có người
lối xóm tên là Giải Trương thúc giục:
- Ngài đă có công theo hầu Chúa công gần 20 năm, nay Chúa
công đă lên ngôi vua, lẽ nào ngài không được
tưởng thưởng công lao.
Bà mẹ cũng nói thêm:
- Nhà ḿnh cũng đang nghèo khó; trước kia con đă
tưng cắt thịt ḿnh cứu sống chúa công. Nay sao
không chịu nhắc lại để được
được ân thưởng.
Giới Tử Thôi thưa mẹ:
- Xưa, Tấn Hiến Công có chín người con, nhưng
chỉ có Chúa công là người hiền đức. Nay chúa
công phục nghiệp được cũng là do mệnh
trờị Những kẻ theo hầu không biết, tự
cho là do công lao của họ để xin ban thưởng.
Con cho là điều đó xấu hổ lắm.
Ngướ mẹ hănh diện nh́n con:
- Con là người liêm sỉ, vây mẹ đây há không
biết làm mẹ của một nguời liêm sỉ hay sao?
Vậy th́ mẹ con ta nên t́m nơi ẩn thân ở một
chốn núi rừng heo hút nào đó, tránh xa chốn thị
thanh đô hội này.
Tử Thôi mững rỡ:
- Từ lâu con vẫn mong thưa với mẹ điều
như mẹ vừa nói.
Sau đó, Giới Tử Thôi bỏ nhà cửa, đưa
mẹ vào vào vùng núi Miên Thượng ẩn cư. Chỉ
một ḿnh Giải Trương, c̣n cả làng xóm không ai
biết mẹ con Tử Thôi đă đi đâu. Nghĩ
đến cuộc sống cơ cực của hai mẹ
con này, Giải Trương đánh bạo, chờ
đến đêm, viết lên một tờ giấy, đem
treo trước cổng thanh: "Có một con rồng khi
sa cơ được được một đàn
rắn theo pḥ, bôn ba khắp nơi. Một lần, rồng
đó sắp chết, một con rắn xẻo thịt ḿnh
để cứu rồng. Nay rồng lên ngai vàng, cả
đàn rắn hưởng phú quí, chỉ riêng con rắn
từng xẻ thịt cứu chúa th́ chẳng ai hỏi
đến". Sáng ra, quân canh đem tờ giấy vào tŕnh
vuạ Tấn Văn Công giật ḿnh:
- Đúng là Giới Tử Thôi đă trách ta rồi. Xưa ,
lúc qua nước Vệ, Giới Tử Thôi đàxả thân
cứu ḿnh, nay lẽ nào ta lại có thể quên
được công thần này.
Vua liền cho quân đến mời Giới Tử Thôi.
Nhưng nào đâu thấỵ Vua truyền: "Hễ ai
chỉ cho biết Giới Tử Thôi đă đi đâu, th́
sẽ được phong làm quan". Giải Trương
t́m đến tâu vua:
- Chính thảo dân đă viết tờ giấy đó,
chứ không phải Giới Tử Thôi. Kẻ công thần
đó đă cơng mẹ vào vùng rừng núi Miên Thượng
rồi.
Tấn Văn Công buồn bă:
- Trẫm đă vô t́nh thành người bạc nghĩạ
Nhà vua phong cho Giải Trương làm Hạ Đại Phu,
rồi nhờ y dẫn đường cùng với quân
sĩ t́m đến Miên Thượng. Đến nơi
chỉ thấy rừng rậm núi cao, bốn bề tĩnh
lặng. Suốt ngày quân sĩ sục soạn những
chẳng t́m thấy tăm tích. Tấn Văn Công truyền
hạ trại, cho quân sĩ t́m thêm mấy ngày liền mà
vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, vua nghĩ ra một ư
ngu: "Giới Tử Thôi là mộ t người con chí
hiếụ Nay đă cơng mẹ vào rừng ẩn dật.
Ta đă quyết tâm t́m , vậy mà ngươi vẫn
cố tránh mặt. Nay chỉ c̣n cách phóng hoả đốt
rừng, thế nào Giới Tử Thôi cũng cơng mẹ
chạy ra\"
Nghĩ vậy, vua ra lệnh phóng hỏạ Lửa
bắt mạnh, lan nhanh, nhưng phải ba ngày mới cháy
rụị Vẫn không thấy mẹ con Giới Tử
Thôi đâu. Quân lính được lệnh lao vào rừng
trụi, lửa chưa ngún tắc, t́m kiếm. Họ t́m
thấy hai cái xác đă thiêu rụi. Tấn Văn Công khóc
thét lên:
- Ta là người bất nghĩa, bất nhân đă
giết chết mẹ con ngươi rồi.
Tấn Văn Công cho làm lễ tang chu đáo; lấy
ruộng chung quanh núi làm "tế điền" cho
họ Giới. Vua đă cho đốt rừng vào ngày
mồng ba tháng ba, nên truyền cho dân, hằng năm
đến ngày đó phải "hàn thực", ăn
nguội, không được đốt lửa nấu
nướng ǵ cả.
Hương Lửa Ba Sinh
Trong sách "Quần ngọc chú" có
ghi lại chuyện Tỉnh Lang đi chơi chùa Nam Huệ
Tự. Ở chùa, Tỉnh Lang nằm chơi một lúc
đă ngủ thiếp đi không hay biết ǵ. Trong giấc
ngủ, Tỉnh Lang mơ thấy ḿnh đi chơi Non
Bồng. Ở chốn ấy, Tỉnh Lang gặp một
ông thầy ngồi niệm kinh, trước mặt có
một cây hương đang cháỵ Do ṭ ṃ, Tỉnh Lang
bèn hỏi về nguyên do cây hương nàỵ Thầy
tăng đáp lại rằng, trước đó đă có
một người lên chùa và thắp cây hương này
để khấn nguyện, cầu phúc. Nay cây hương
vẫn c̣n cháy mà người ấy đă sinh
được ba kiếp rồị Kiếp đầu
tiên là vua Huyền Tôn, kiếp thứ hai là vua Hiến Tôn
ở đời Đường, và kiếp thứ ba là
Tỉnh Lang. Nghe đến tên ḿnh, Tỉnh Lang giật ḿnh
tỉnh giấc, ḷng nửa tin nửa ngờ. Về sau, điển
tích này được lưu truyền rộng răi trong dân
gian và dần dà đă h́nh thành nên thành ngữ "tam sinh
hương lửa" hay "hương lửa ba
sinh" để chỉ lời nguyện có hiệu
lực đến ba đời ngườị
Về nguyên do của thành ngữ này, có sách cũng ghi
lại nhưng đôi chỗ có khác đi chút ít. Theo
"Từ điển truyện Kiều" của cụ
Đào Duy Anh th́ sách "Truyền đăng lục"
chép là: có người mộng thấy một vị lăo
tăng, trước mặt có tia khói rất nhỏ. Vị
tăng nói rằng: "Đó là khói hương của
một người đàn việt kết nguyện,
người đàn việt đă trải qua ba kiếp mà
hương vẫn c̣n".
Như vậy, tuy các dị bản có khác nhau ở một
số chi tiết, nhưng về cơ bản nguồn
gốc và con đường h́nh thành thành ngữ
"hương lửa ba sinh" đều thống
nhất. Trong tiếng Việt, thành ngữ "hương
lửa ba sinh" được dùng để chỉ
lời nguyền, lời thề có ứng nghiệm
đến ba kiếp, ba đời ngườị
Kết Cỏ Ngậm Vành
Ngụy Thù, người nước
Tấn, có người vợ lẻ trẻ đẹp. Lúc
Ngụy Thù gần chết, không muốn cho người
vợ thuộc về người khác, bèn dặn con là
Ngụy Khỏa phải chôn sống nàng chung trong áo quan
của ḿnh. Ngụy Thù chết, Ngụy Khỏa
động ḷng trắc ẩn nên tha cho người vợ
trẻ. Về sau, Ngụy Khỏa đi đánh
tướng nhà Tần là Đỗ Hồi trên đồng
cỏ xanh. Tự nhiên Đỗ Hồi vướng chân vào
cỏ và ngă xuống, bị Ngụy Khỏa đâm
chết. Đêm hôm ấy Ngụy Khỏa nằm chiêm bao
thấy cha của người vợ lẻ Ngụy Thù
hiện đến và nói: "Tôi cám ơn ông đă không chôn
sống con gái tôi, cho nên đă kết cỏ quấn quanh
chân Đỗ Hồi cho nó ngả."
Thời Đông Hán, có người tên Dương Bảo
đi chơi, thấy một con chim sẻ bị chim
cắt đánh rơi, bèn đem về săn sóc nuôi
nấng, đến khi chim mạnh th́ thả bay đị
Về sau, bỗng có đứa trẻ mặc áo vàng,
cầm bốn cái vành ngọc đến tạ ơn"
"Tôi cám ơn ông đă cứu mạng tôị Tôi tặng
ông bốn vành ngọc nàỵ Ai có được nó th́ con
cháu sẽ đời đời được giàu có vinh
hiển."
"Kết cỏ ngậm vành", ư nói ḷng biết ơn
sâu sắc người đă giúp đỡ ḿnh.
Lá Thắm Chỉ Hồng
"Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha" (Truyện
Kiều - Nguyễn Du)
Đời vua Đường Hi Tông, có một người
tên là Vu Hựu bắt được một cái lá
đỏ trôi từ cung vua ra, trên cái lá đỏ đó có
đề thợ Vu Hựu bèn làm một bài thơ khác,
đề vào lá, rồi thả xuống sông th́ nó lại
trôi trở vàọ Cung nhân là Hàn Thị bắt
được.
Về sau vua Hi Tông thả 3000 cung nữ rạ Vu Hựu
gặp được Hàn Thị mới biết
được những bài thơ trên lá đỏ đó là
của Hàn Thị
Chỉ hồng: xin xem tích "Dây Tơ Hồng"
Lệnh Ông Không Bằng Cồng Bà
Vào cuối thế kỷ thứ hai, Triệu
Thị Trinh (bà Triệu) cùng anh là Triệu Quốc
Đạt lănh đạo cuộc khởi nghĩa của
nhân dân Giao-châu chống quân Ngộ Ban đầu Triệu
Quốc Đạt khuyên can bà Triệu, cho rằng thân con
gái không đảm nổi việc binh. Nhưng bà Triệu
cương quyết thành lập quân của ḿnh. Binh lính
dưới quyền hai anh em chia làm hai cánh, một cánh do bà
Triệu, một cánh do Triệu Quốc Đạt chỉ
huỵ Để tránh sự nhầm lẫn của hai cánh
quân đó, khi luyện binh, cũng như khi xung trận, hai
anh em đă qui định hiệu lệnh riêng cho từng
cánh : bà Triệu dùng cồng, c̣n Triệu Quốc
Đạt th́ dùng lệnh (cồng và lệnh đều là
những nhạc khí bằng đồng).
"Lệnh ông không bằng cồng bà", ư nói cho vui
rằng mấy bà tuy vậy mà các ông chồng phải
cả nể.
Chữ "Lệnh ông", tên gọi đề cao sự
quan trọng của các ông, cũng phát xuất từ đó.
Lo Ḅ Trắng Răng
Người VN ta thường nghe thành
ngữ "Lo ḅ trắng răng"; nó
mang ư nghĩa hoàn toàn tương đồng với thành
ngữ của Tàu
"Kỷ nhân ưu thiên" (Người nước
Kỷ lo trời sụp). Thời
Xuân Thu, một học giả tên là Liệt Ngư Khấu
có trước tác
một bộ sách nhan đề là Liệt tử, trong
đó kể một sự
tích như sau :
Xưa ở nước Kỷ có một người không
lo ǵ ngoài việc lo
một ngày nào đó bầu trời sẽ sụp
đổ, và lúc đó anh ta
sẽ không có chỗ nương thân.
Anh ta suy nghĩ măi mà không giải quyết được
vấn đề
này, do đó cứ lo lắng quên ăn quên ngủ. Sau dó, có
người bảo cho anh ta biết là trời chỉ là
bầu không khí
thật lớn mà thôi, làm sao sụp đổ
được mà lọ Người
nước Kỷ này hỏi lại rằng :
- Nếu bảo bầu trời không sụp đổ
được, nhưng mặt
trời mặt trăng và các tinh tú lại không sụp
đổ được sao ?
Người kia giải thích rằng :
- Mặt trời, mặt trăng và tinh tú cũng là do
thể khí tích
tụ lại mà thành những vật thể phát ra ánh sáng,
dẫu cho
mặt trời mặt trăng và các tinh tú có sụp
xuống đất, cũng
không gây hại ǵ cả cho loài ngườị
Người nước Kỷ nghe giải thích như
vậy, từ đó mới hết
lo trời sụp.
Thời Xuân Thu cách chúng ta hơn 2200 năm rồi, thời
đó loài
người chưa có kiến thức về khoa học, do
đó sự hiểu
biết về vũ trụ vạn vật rất mù
mờ. Dĩ nhiên lời giải
thích trên không có căn cứ khoa học.
Tuy nhiên, câu chuyện ngụ ngôn trên muốn nói là không nên
lo lắng về những thứ không thiết thực,
không đáng lọ
Cho nên, dù kiến thức khoa học của người
xưa có sai lầm
thiếu sót, th́ ư nghĩa câu chuyện ngụ ngôn vẫn
không bị
ảnh hưởng.
Từ câu chuyện ngụ ngôn trên, chép trong sách Liệt
tử,
người đời sau rút ra thành ngữ "Kỷ nhân
ưu thiên" để
nói về người có tật lo lắng không đâu, lo cái
không
đáng lo, để tự chuốc lấy phiền
muộ n cho ḿnh.
Lục Cực
Người ta cho rằng trên
đời có sáu điều kém may mắn nhất có thể
xảy ra cho con ngườị Sáu điều ấy là:
+ Hung đoản chiết: Nghĩa là chết v́ tai nạn
hay chết non (chết lúc c̣n nhỏ tuổi)
+ Tật: Nghĩa là bệnh tật đau yếụ
+ Ưu: Nghĩa là có chuyện phải lo nghĩ ưu
phiền.
+ Bần: Nghĩa là nghèo túng.
+ Ác: Nghĩa là làm điều thất đức, hăm
hại người khác.
+ Nịch: Nghĩa là say mê ch́m đắm.
Lục Dục Thất T́nh
Lục dục là 6 điều ham
muốn, theo nhà Phật, gọi là Lục Căn, ấy là:
Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, và Ư.
Thất t́nh là bảy thứ t́nh cảm thường
khuấy động ḷng người, ấy là: Hỉ (vui),
Nộ (giận), Ai (buồn), Cụ (khổ), Ái (yêu), Ố
(ghét), và Dục (tham muốn).
Lục Lễ
Theo tục lệ Việt Nam,
để hoàn tất một đám cưới,
người ta phải có đủ 6 lễ, gọi là
Lục Lễ:
1/ Nạp Thái: Nhà trai nhờ người đến nhà gái
ướm ư rằng muốn kén chọn con gái nhà ấy làm
dâụ
2/ Vấn Danh: Nhà trai nhờ mối lái đến hỏi
tên họ và ngày sanh của cô gái (để xem xung hay
hạp)
3/ Nạp Cát: Nhà trai báo cho nhà gái đă xem tuổi, xem
quẻ, mọi chuyện tốt đẹp và muốn
tiến hành hôn lễ.
4/ Nạp Tệ (Nạp Trưng): Nhà trai đem sính lễ
tới nhà gái để làm lễ từ đường và
ra mắt. Lễ này thông thường gọi là lễ
Hỏị
5/ Thỉnh Kỳ: Nhà trai xin nhà gái định ngày
rước dâụ
6/ Thân Nghinh: Lễ rước dâu về nhà trai, tức là
lễ Cướị
Mất Nước Đau Ḷng Con Quốc Quốc
Tiếng kêu con chim Quốc năo nùng ai
oán.
Tục truyền rằng ngày xưa vua Thục Đế
(An Dương Vương) bị con gái là Mỵ Châu
nhẹ dạ trao nỏ thần cho Trọng Thủy, con
trai Triệu Đà, cho nên bị mất nước. Oan
ức quá, Thục Đế nhảy xuống sông tự
tử mà chết, hóa thành chim Quốc, ngày đêm sầu oán
kêu măi không thôị
Mài Dao Dạy Vợ
Ngày xưa có một người nhà quê
lấy phải vợ độc ác. Người vợ này
đối xử với mẹ chồng rất là hỗn
láo vô lễ. Người chồng khuyên hoài không
được, bèn nghĩ ra một kế.
Anh ta sắm một con dao bầu thật sắt. Mỗi
ngày lấy ra màị Người vợ lấy làm lạ
hỏi, nhưng anh ta không đáp. Người vợ ṭ ṃ
hỏi hoài, cuối cùng anh ta trả lời: "Tôi mài dao
để có dịp giết mẹ đi thôị Mẹ
đă già, sống mà ngày nào cũng căi cọ với ḿnh
vậy th́ thà chết đi cho rồị".
Người vợ thấy thế hoảng hốt, rồi
ăn năn: "Xin ḿnh đừng giết mẹ, từ
nay tôi hứa sẽ không có điều chi to tiếng trong
nhà nữa".
Từ đó trong nhà thuận ḥa vui vẻ.
"Mài dao dạy vợ" ư nói sự khôn ngoan của
người chồng để khuyên bảo vợ ḿnh làm
điều phải lẽ.
Nằm Giá, Khóc Măng
Vương Tường, đời
Tần, mồ côi mẹ, phải sống với d́ ghẻ.
Bà d́ ghẻ rất độc ác, tuy vậy, Vương
Tường vẫn một ḷng hiếu thảọ Có
một mùa Đông tuyết giá, bà d́ ghẻ thèm ăn cá
tươi, Vương Tường bèn cởi trần
nằm trên băng tuyết để chờ bắt cá. Bỗng
nhiên tảng băng bị nức làm đôi, có hai con cá chép
nhảy lên. Vương Tường bắt hai con cá về
cho d́ ghẻ ăn, nhờ vậy mà cảm hóa
được ḷng bà d́ ghẻ.
Mạnh Tông, đời Tam Quốc, mồ côi cha, sống
chí hiếu với mẹ. Đang mùa măng khan hiếm mà
mẹ bị bịnh, thèm ăn măng. Không biết làm sao,
Mạnh Tông ra bụi tre sau vườn ngồi khóc.
Bỗng chốc có mụt măng dưới đất
mọc lên, Mạnh Tông bèn hái về nấu cháo cho mẹ ăn,
nhờ đó mà mẹ khỏi bệnh.
"Nằm Giá, Khóc Măng" là thuật ngữ ư chỉ
tấm ḷng hiếu thảo của con cái đối với
cha mẹ
Ngậm Ngải T́m Trầm
Trầm là một loại cây có mùi
hương, nên c̣n được gọi là Trầm
Hương, trị được nhiều chứng
bệnh, rất quí và hiếm.
Những người đi t́m Trầm thường
được gọi là "đi điệu".
Người "đi điệu" phải là đàn
ông, v́ người ta tin rằng Trầm kỵ âm khí (đàn
bà). Ngày ra đi cũng phải coi kỹ là ngày tốt,
hạp tuổị Họ cúng vái cẩn thận với
Thiên Y Thánh Mẫu (hiện thân của Trầm và Kỳ Nam). Rồi họ đi theo từng nhóm, mỗi
nhóm có mật hiệu để khỏi bị lạc.
V́ Trầm Hương thường ở sâu trong rừng,
rất khó t́m, lắm khi t́m được rồi,
người ta lạc luôn trong rừng, không t́m thấy
đường về. Cho nên những người
"đi điệu" phải ngậm một thứ
ngải rừng để chống lại những
bệnh hiểm nghèọ Ngải này không phải là một
loại bùa yếm, mà là một loại thảo có lá dài
như cỏ tranh, củ bằng lóng tay màu vàng. Theo các nhà
nghiên cứu ngày nay, loại thảo dược này rất
tốt để trị bịnh phong thấp, nóng lạnh,
sốt rét...
"Ngậm Ngải t́m Trầm" có ư nói là một công
việc rất khó, bỏ nhiều thời gian và sức
lực, nhưng kết quả th́ ít có hy vọng.
Ngưu Lang Chức Nữ (Mưa Ngâu)
"Thương thay Chức Nữ
Ngưu Lang,
Trong đêm gặp gỡ mơ màng khóc nhaụ.."
Ngưu Lang là một gă chăn trâu nghèo, gặp Chức
Nữ, một nàng tiên. Hai người yêu nhau say
đắm. Ngọc Hoàng Thượng Đế bèn cho hai
người lấy nhaụ
Tuy vậy, Ngưu Lang từ đó không chăm lo đàn
trâụ Chức Nữ cũng lười nhác làm bổn
phận ḿnh là kéo tơ dệt vảị
Ngọc Hoàng thấy thế bèn nổi giận làm cho chàng và
nàng cách biệt nhau, lấy sông Ngân Hà chia đôi hai đàng.
Ngọc Hoàng chỉ cho hai người gặp nhau một
lần trong năm, đó là vào đêm Thất Tịch,
mồng 7 tháng 7 Âm lịch.
Thế gian đồn rằng trong đêm ngày 7 tháng 7, các con
quạ đội đá bắt cầu Ô Thước qua
sông Ngân Hà để cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp
nhaụ Người ta c̣n nói vào dịp này, v́ nàng Chức
Nữ quá hồi hộp mừng rỡ được gặp
người yêu cho nên làm cho chỉ tơ rơi đầy
trời, ấy là mưa Ngâu (mưa tháng 6).
Ngũ Phúc Lâm Môn
Ngày Tết, người Việt Nam
thường chúc nhau "Ngũ Phúc Lâm Môn", có nghĩa là
năm hồng phúc đến nhà.
Ngũ Phúc ấy là:
+ Phú: Nghĩa là giàu có.
+ Quí: Nghĩ là sang trọng.
+ Thọ: Nghĩa là sống lâụ
+ Khang: Nghĩa là có sức khỏe dồi dàọ
+ Ninh: Nghĩa là b́nh an.
Nhan Bành Di Chích
+ Nhan: Là Nhan Hồi, quê ở
nước Lỗ, tự là Tử Uyên, học tṛ ưu tú
của Khổng Tử. Nhan Hồi siêng năng, học
giỏi, cam sống cảnh nghèo mà vẫn vui vẻ. Tuy
vậy, Nhan Hồi mang bịnh mà chết yểụ
+ Bành: Tức Bành Tổ, một nhân vật thượng
cổ, nổi tiếng v́ sống lâu đến 800
tuổị Có sách bảo Bành Tổ và Lăo Tử là một
ngườị
+ Chích: Tên của một kẻ trộm nổi tiếng
đời vua Hoang Đế. Về sau, Liễu Hạ
Huệ có một người em cũng trộm cướp
hung bạo trong thiên hạ, nên người ta cũng
gọi là Đạo Chích.
+ Di: Tức Bá Di, con của vua Cô Trúc. Khi Vơ Vương
đem quân đi đánh nhà Thương (vua Trụ), Bá Di
khuyên can, nói là tôi th́ không nên đánh vuạ Vơ Vương
không nghẹ Khi đánh xong vua Trụ dựng nhà Chu, Bá Di
nhất định không ăn thóc nhà Chu, trốn vào núi Thái
Dương, chỉ ăn rau cỏ để sống.
Về sau có người bảo rau cỏ ấy cũng
của nhà Chu, Bá Di bèn nhịn đói đến chết.
"Nhan Bành Di Chích", ư nói yểu, thọ, thiện, ác,
thảy đều phải chết. Khi sống th́ có khác
nhau, chết rồi th́ ai cũng giống nhau cả.
Nổi Cơn Tam Bành
Theo sách Phật, trong con người ta
có 3 vị thần chuyên xúi con người làm điều
ác, rồi cứ đến ngày Canh Thân phải về
chầu Thượng Đế kể tộị 3 vị
thần ấy là Bành Kiêu, Bành Cứ, và Bành Chất.
"Nổi cơn tam Bành", ư nói bỗng chốc con
người nổi giận lên, muốn làm điều
xằng bậỵ
Sợ Truông Nhà Hồ, Ngại Phá Tam Giang
Sử c̣n ghi lại, nơi địa
đầu tỉnh Quảng B́nh ngày nay có một vùng
đất rộng lớn cạnh là Hồ Xá, nên gọi là
Truông Nhà Hồ. Ngày xưa vùng này nổi tiếng nhiều
trộm cướp. Về sau, ông Nguyễn Khoa Đăng
được chúa Nguyễn ủy thác đi dẹp
loạn. Ông liền nghĩ ra kế giả làm khác bộ
hành đi ngang Truông Nhà Hồ, để cho bọn
cướp bắt đem về giam ở sào huyệt,
nhưng đi đến đâu ông rải lúa để làm
dấu, nhờ đó mà quân lính của ông vào tận sào
huyệt dẹp tan quân cướp.
Phá Tam Giang có khúc cạn khúc sâu bất thường nên
việc đi lại rất khó khăn nguy hiểm.
Nhiều thuyền bè qua lại bị sóng cuộn bất
ngờ bị đắm ch́m.
Cho nên trong dân gian có câu:
"Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ Truông Nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang"
Câu đó ư nói nhiều trở ngại khó khăn khó mà
vượt qua được.
Sử Xanh
Sử xanh ra từ bởi từ
"thanh sư"?. Đời xưa người ta
chưa có giấy bút, thường dùng vật nhọn
khắc ghi lại lịch sử lên thân trẹ Cái cật
tre vốn có màu xanh nên gọi là "Sử xanh".
Sư Tử Hà Đông
Thoạt nghe, không ít người
nghĩ rằng, trong nội dung câu thành ngữ "Sư
Tử Hà Đông" có điều ǵ liên can đến
đất Hà Đông xưa của Việt Nam. Chuyện
thực lại không phải như vậỵ Các ông già, bà
lăo đă sống gần hết cả đời trên
mảnh đất ấy, những người tinh thông
chữ nghĩa, cả đời tầm chương trích
cú, cũng chẳng ai biết hai chữ Hà Đông quen
thuộc kia có liên hệ ǵ với cái máu tam bành của
những người đàn bà cả ghen, sẵn sàng
đập phá, quát tháo chồng con ngay trước mặt
mọi ngườị Th́ ra, lại cũng là chuyện
râu ông nọ cắm cằm bà kiạ
Số là, ở đất Vĩnh Gia bên Trung Quốc
đời nhà Tống, có một người đàn ông tính
nết thất thường, họ Trần tên Tạo,
tự Lư Thường. Lúc c̣n nhỏ, Tạo rất thích chơi
tṛ đấu kiếm. Cậu ta có thể ngồi cả
ngày để nghe kể chuyện về các anh hùng hảo
hán và hết sức khâm phục ḷng dũng cảm,
đức tính trung thực của những con người
ấỵ Lớn lên, Tạo thích lân la đến bên các chí
sĩ giang hồ để học mót các môn vơ nghệ và
cùng bọn ngao du nay đây mai đó. Tạo cũng tự
liệt ḿnh vào cùng một thuyền một hội với
những bậc chí sĩ kia và lúc nào cũng tỏ ra
sẵn ḷng làm việc nghĩa, giúp bạn, cứu
ngườị
Lạ thay, vừa bước sang tuổi trung niên Trần
Tạo bỗng thay đổi tính nết. Tạo chán ghét cuộc
sống giang hồ và lạc vào văn chương, chữ
nghĩạ Có lúc, Tạo háo hức với ư nghĩ
bước lên vũ đài chính trị để gây thanh
thế với đờị Nhưng, tiếc thay, lực
bất ṭng tâm. Quá nửa đời người, công
vẫn không thành, danh vẫn không toạị Trần
Tạo đâm ra nản chí, bèn quay về sống ẩn
dật, sớm hôm vui thú ruộng vựn. V́ đă có một
thời oanh liệt, vào cung ra kiếm, lúc múa gươm
nơi thị thành, lúc khua chèo nơi biển vắng...
Nặng nghĩa t́nh thầy tṛ, nên, dẫu đă quay về
ở ẩn, các chiến hữu cũ vẫn thường
xuyên lui tới nhà Tạo để đàm đạo
sự thế. Chẳng nói ra th́ ai cũng biết, cùng
đến với các chàng trai anh hùng ấy bao giờ
cũng có các ca kỹ, vũ nữ. Họ xinh tươi,
lại hát hay, múa đẹp...Thế là, ở ẩn
nhưng vẫn cứ qua lại, vẫn yến tiệc
linh đ́nh, vẫn lả lướt, liếc mắt
đưa t́nh. Thấy vậy, vợ Tạo là Liễu
Thị rất ấm ức, cơn ghen nổi lên tắc
nghẹn ở cổ. Liễu nghĩ: Biết đâu, trong
số những người vũ nữ xinh đẹp, tài
ba kia, lại chẳng có kẻ tà tâm, muốn chiếm
doạt chồng ḿnh. Không ḱm được máu ganh tức,
Liễu đứt phắt dậy cầm gậy vụt
lấy vụt để vào tường, vào phản.
Vừa vụt, Liễu vừa kêu la, quát tháo ầm ĩ.
Các quan khách cùng các mỹ nữ hiện diện trong bữa
tiệc sợ hoảng loạn, ba chân bốn cẳng t́m
lối tháo thân. Trần Tạo biết là bất nhă
lắm, nhưng vốn là người sợ vợ, nên
không dám đứng ra khuyên ngăn. Hắn đứng im
một chỗ, hai tay khoanh trước ngực, nh́n lấm
lét vẻ đầy sợ hăi, như muốn lẫn tránh
cặp mắt hung dữ đỏ ngầu như máu
của vợ đang xói lửa nh́n ḿnh...
Được tin ấy, Tô Đông Pha, bạn Tạo,
đă đề thơ tặng Tạo:
Hốt văn Hà Đông sư tử hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên
(Bỗng nghe sư tử Hà Đông gầm,
chiếc gậy vung lên khiến cho mọi người
ngơ ngác)
Chữ "Hà Đông" ám chỉ người đàn bà
họ Liễu (Thơ Đỗ Phủ có câu "Hà Đông
nữ nhi thân tính Liễu"). C̣n "sư tử
hống" là lời của nhà Phật biểu thị
sự uy nghiêm - điều mà hàng ngày Trần Tạo
vẫn tụng niệm để mong đạt
tớị
Trong tiếng Việt, thành ngữ "Sư tử Hà
Đông" nhằm ám chỉ những người
thuộc phái đẹp có tính ghen tuông dữ dộị Khi
nổi máu tam bành có thể làm cho các đức ông chồng
kinh hồn, tán đởm, bao dũng lược của
giới mày râu cũng tiêu tan thành mây khói cả.
Tam Ṭng
Ngày xưa, người Việt Nam trọng nam khinh nữ. Quan niệm bấy
giờ cho rằng đàn bà có nghĩa phải có tam ṭng (ba
điều lệ thuộc) "Tại gia ṭng phụ,
xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử." Có nghĩ là lúc
bé thơ th́ phải nghe theo cha, khi lấy chồng phải
phụng sự chồng, khi chồng chết phải
phụng sự cho con.
Thần Tài
Theo truyền thuyết, thần tài
chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần.
Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau
đắc đạo, ông được phong làm Chính
Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi
trừ ôn dịch, cứu bịnh trừ taị Hơn
nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông th́
được giúp đỡ. Người buôn bán th́ cúng
cầu ông để được phát đạt may
mắn.
Người ta thường vẽ ông thành h́nh một người
mặt đen, râu rậm, tay cầm coi, cưỡi cọp
đen. Dân gian c̣n gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay
Triệu Công Nguyên Soáị
Trần Miên Khố Chuối
Ngày xưa có anh học tṛ tên là
Trần Miên, học hành rất thông minh và siêng năng. Tuy
vậy, anh
ta rất nghèọ Trần Miên
phải đi theo hầu hạ các bạn đồng
học để có cơ hội học lóm.
Đến kỳ thi, Trần Miên không có áo quần, phải
mang khố bằng lá chuối đi thị
Tới lúc xướng danh, các bạn đồng học
đều rớt cả, Trần Miên lại đậu
thủ khoạ
"Trần Miên khố chuối" ư nói kẻ rất
nghèo.
Trộm Gặp Trộm
Ngày xưa ở tỉnh Hải
Dương có một tay trộm lành nghề. Khách qua
đường ai ai cũng bị anh ta lấy trộm.
Một hôm có một người khách ghé qua phố ngủ
trọ. Ông ta đếm tiền, bỏ vào hầu bao,
đặt trên đầu giường kê làm gối
ngủ.
Tên trộm giả tiếng mèo, ṃ vào pḥng. Khách nghe
động, ngồi dậy đuổi mèọ Lúc nằm
xuống th́ túi bạc đă biết mất.
Khách bèn lấy một cái nơm bắt cá, t́m đến
một căn nhà có đèn, nh́n vào th́ thấy hai vợ
chồng đang đếm tiền. Khách bèn mở cửa
bước vào đ̣i chia củạ Tên trộm bèn vác
gậy đuổi theo kẻ lạ mặt. Khách bèn nấp
chỗ tối, thừa lúc đó lấy cái nơm chụp
lên đầu vợ kẻ trộm, lấy lại túi
bạc, rồi theo đường tắt về lại
quán trọ.
Sáng hôm sau tên trộm mang xôi gà đến ra mắt khách xin
làm đệ tử. Khách nói ngày xưa vốn cũng là
một tên trộm khét tiếng, nay đă hoàn lương.
Khách khuyên tên trộm nên đổi nghề làm ăn, giúp ích
cho đờị
"Trộm gặp trộm" ư nói những kẻ mưu
kế gặp kẻ c̣n mưu kế hơn.
Tứ Đại Mỹ Nhân
Người Trung Hoa ngày xưa chọn
bốn người con gái có sắc đẹp tuyệt
nhất trong lịch sử, gọi là "Tứ
Đại Mỹ Nhân", đó là Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu
Thuyền, và Dương Quư Phị Cho nên trong nhân gian c̣n
truyền tụng:
"Tây Thi nhạn lạc,
Chiêu Quân trầm ngư,
Điêu Thuyền Bế Nguyệt,
Dương Ngọc Hoàn tu hoa"
(dịch là chim nhạn thấy Tây Thi đẹp phải
rớt xuống. Con cá đang bơi thấy Chiêu Quân
phải lặn ngaỵ Mặt trăng đang sáng thấy
Điêu Thuyền phải hổ thẹn che mặt
lạị Hoa đang nở thấy Dương Ngọc
Hoàn (Dương Quư Phi) phải cúi đầu)
Tứ Đức
Người xưa đánh giá đàn bà
con gái phải có đủ "Tứ Đức"
mới gọi là hiền. "Tứ Đức" ấy
là "Công, Dung, Ngôn, Hạnh"
+ Công: Là nghề khéọ Đàn bà phải cần biết vá
may nấu nướng. Ai giỏi nữa th́ biết
cầm kỳ thi họa
+ Dung: Là diện mạọ Đàn bà phải biết
chải chuốt gọn gàng sạch sẽ, đi
đứng phải khoan thaị
+ Ngôn: Là lời nóị Đàn bà ăn nói phải dịu
dàng nhỏ nhẹ
+ Hạnh: Là tính hạnh. Đàn bà phải ăn ở
nết na, kính trên nhường dưới, không hợm
hĩnh cay nghiệt với aị
Tứ Hỉ
Tứ Hỉ phát xuất từ quan
niệm của người Trung Hoa, cho rằng trong
đời người, có 4 điều tốt lành mà ai cũng
đáng vui mừng:
Cữu hạn phùng cam vũ
Tha hương ngộ cố tri
Động pḥng hoa chúc dạ
Kim bảng quải danh th́.
Có nghĩ là: Hạn hán lâu ngày nay có mưa - Nơi xứ
lạ quê người gặp được bạn cũ
- Đêm động pḥng hoa chúc của vợ chồng
mới cưới - Lúc thi đỗ bảng vàng.
Vắng Như Chùa Bà Đanh
Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của
chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với
viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng
Thụy Chương, Hà Nộị V́ để tránh húy
miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương
phải đổi thành Thụy Khuệ Vào thời đó,
viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho
những người Chiêm Thành được đưa
về sau các cuộc chiến tranh, c̣n chùa Châu Lâm là nơi
dành cho họ cúng lễ (v́ hầu hết những
người này đều theo đạo Phật).
Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ
đă chiếm khu vực đất này để lập
trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là trụ
sở của trường trung học Chu Văn An, v́ thế
chùa Châu Lâm phải dời về phía Tây Nam, ở cuối
làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm.
Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện vẫn c̣n giữ
lại được tấm bia ghi rơ: Bà Đanh tự
(chùa Bà Đanh). Theo tục truyền, Bà Đanh là một
người đàn bà đă có công dựng lên chùa này, v́
thế mà ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị
băi bỏ, số người đến lễ bái chùa này
ngày một ít đị Chính v́ thế mà không khí ngôi chùa này
ngày càng trở nên vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây
Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại
cảnh vắng của chùa này:
Dấu bố cái rêu in nền phủ
Cảnh Bà Đanh hóa khép cửa chùạ
Cảnh vắng vẻ, thiếu người đến
lễ bái của chùa Bà Đanh dần dần đă trở
thành một h́nh ảnh để so sánh với bất
cứ một cảnh vắng vẻ nàọ "Vắng
như chùa Bà Đanh" là một sự vắng vẻ yên
tĩnh gợi nên vẻ lạnh lẽo, cô quạnh,
thiếu hơi ấm của con ngườị Ca dao Hà
Nội có câu:
C̣n duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh.
Xướng Ca Vô Loài
Người Việt Nam xưa chia tầng lớp xă hội ra làm 4: Công,
Nông, Binh, Thương.
Công là những người làm nghề công nhân nhà máy, chuyên
về công nghiệp. Nông là những người sống
băng nghề trồng trọt chăn nuôi, sản
xuất nông nghiệp. Binh là những người trong quân
đội, làm lính đánh trận. Thương là những
người sống bằng nghề buôn bán.
Trong 4 tầng lớp đó, nghề hát xướng không
thuộc vào lĩnh vực nào cả nên được coi
như là "vô loài", thường bị coi
thường. Thậm chí, người xưa c̣n coi
nghiệp hát xướng là đáng khinh rẻ chê
cười nữa.
Copied
from http://www.kientruc-vn.org/giaithoai.htm
|