Theo bản thống kê dân số của nước Mỹ năm 2010, hiện
nay có 1,737,433 người Việt đang sinh sống trên nước Mỹ. Chúng ta
những ai hiện nay đang sống, học hành, làm việc hay dưỡng già ở đây,
đều đã trải qua một phần đời mình trên mảnh đất này, thường gọi là
“tạm dung,” nhưng thực tế là vĩnh viễn.
Từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975, những đứa trẻ sinh ra
lớn lên ở đây, ngoài huyết thống ra, chúng không khác gì những đứa
trẻ Mỹ. Những người trung niên còn mang theo cả một thời thơ ấu và
những kỷ niệm không quên từ nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn lăn lộn
với cuộc đời trên đất khách này để mưu sinh, có người thời gian sống
với quê hương ngắn ngủi hơn là ở nơi quê người.
Tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh
sống nhất đã rộng lớn bằng diện tích cả nước Việt Nam, nên cũng chưa
có ai trong chúng ta tự hào đã đặt chân đến hết 50 tiểu bang của
nước Mỹ, cũng như không ai dám nghĩ rằng mình hiểu hết những gì về
nước Mỹ, dù đây chỉ là một nơi mới lập quốc hơn 200 năm. Có người
cho Mỹ là anh chàng trẻ tuổi, xốc nổi, dại khờ, nhưng cũng có người
công nhận nước Mỹ là ông cụ thâm trầm thường triển khai những bước
đi tính toán trước cả trăm năm.
Ðối với những người già đã đến nơi này muộn màng, nhưng cả cuộc đời còn lại coi như sống chết với nước Mỹ, thường gọi là quê hương thứ hai, mà không bao giờ còn cơ hội trở về nằm trong lòng đất quê mẹ, nếu sự thực khốn nạn, chế độ Cộng Sản còn tồn tại trên quê hương vài ba mươi năm nữa.
Một người Việt về thăm lại quê hương, nơi họ đã từ bỏ
tất cả để ra đi, lúc đặt chân trở lại nước Mỹ, cho rằng tâm hồn lại
cảm thấy an toàn, nhẹ nhàng hơn như lúc về nhà. Một người Việt xa
quê hương đã lâu trở về Sài Gòn, có dịp vào Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, ông
thú nhận khi nhìn những hình ảnh tổng thống hay ngoại trưởng của Hoa
Kỳ, ông lại có cảm giác quen thuộc, an toàn hơn là những lúc lang
thang ở Hà Nội nhìn hình lãnh tụ và quốc kỳ Cộng Sản. Ðó không phải
là vong bản, mất gốc mà chế độ này đã nhân danh đất nước, tạo hận
thù, kỳ thị, xô đẩy biết bao nhiêu người xuống biển, bỏ quê hương ra
đi. Gần như chúng ta không còn lệ thuộc gì với đời sống nơi quê nhà,
ngoài những tình cảm sâu đậm trong máu huyết, làm cho chúng ta gần
gũi với ngôn ngữ, đời sống Việt
Quê hương ngày nay chỉ còn là nơi thăm viếng mà không
phải là nơi để trở về. Nước Mỹ đã là nơi quen thuộc chúng ta đang
sống, có gia đình, nhà cửa, công việc, bà con, bạn bè, thì làm sao
chúng ta lại không có những suy nghĩ, có những câu chuyện buồn vui,
hay những trăn trở về nước Mỹ. Cách đây 38 năm, chưa lúc nào, chúng
ta, những người dân ở một đất nước xa xôi bên vùng trời Ðông Nam Á,
cách biệt nơi này đến nửa vòng trái đất, lại có ý nghĩ rằng, một
ngày kia chúng ta sẽ đến đây, sống lâu dài nơi đây, sinh con đẻ cháu
nơi này, để tạo ra một nhánh người Việt lưu vong. Ðời sau, còn giữ
được ngôn ngữ, phong tục hay không, lại là một điều mà nhiều người
khác đang trăn trở, lo âu làm sao để duy trì, gìn giữ!
Trong cái cộng đồng gần gũi, thân mật gắn bó này, với
sách vở, báo chí, truyền thông, quán xá, chợ búa, tiệm buôn, món ăn
thức uống, cả cái tên vùng đất hay bảng hiệu Saigon chúng ta mang
theo, đôi khi gần như quên hẳn là chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Cả
cái bữa cơm, cá mắm, canh rau, đôi đũa, chén nước mắm ớt, có khác gì
ở Việt Nam. Cả cái bàn thờ nhang khói, hình ảnh tổ tiên, ông bà,
cành mai, chậu lan, những cô thiếu nữ, trẻ em mặc quốc phục lên chùa
ngày Tết, hồi trống, tiếng pháo Mùa Xuân làm chúng ta quên mất là
chúng ta đang sống thật xa quê nhà.
Ðiều tôi muốn nói ở đây là chúng ta thường quên chúng
ta đang sống trên đất Mỹ.

Ông Khổng Tử của nước Trung Hoa có ví von: “Ở chung
với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi
thơm, tức là mình cũng đã hóa ra thơm vậy.” Một kẻ vào vườn hoa lan
đầy hương thơm, lúc đầu còn nhận ra mùi hương nhưng dần dà trở thành
quen thuộc, trở thành bình thường, không còn thấy hương thơm, như kẻ
tiểu nhân sống với người quân tử dần dần được cảm hóa lúc nào mà
không hay biết. Nước Mỹ có nhiều hương thơm như thế mà cảm giác
chúng ta bị dung hòa lúc nào không hay đến nỗi không còn cảm nhận
được mùi thơm nữa. Hương thơm đó là những điều tốt lành, thấm nhập
vào con người chúng ta lúc nào chúng ta cũng không biết, không hề
quan tâm hay nhận ra được sự khác biệt trước và sau.
Chúng ta học hỏi được ở nước Mỹ tính bảo vệ đời sống
riêng tư, tôn trọng luật pháp, sống an hòa, sự tử tế và mối tương
quan giữa con người và con người trong xã hội. Ðiều này không chỉ có
ông Bá Dương (1920-2008), sau khi đi New York, Las Vegas hay San
Francisco về, đã tường thuật lại trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu
Xí,” mà bất cứ người Việt Nam nào khi đi du lịch nước Mỹ về cũng
nhận ra. Có người thắc mắc sao lái xe trên đường vắng vào một hai
giờ sáng, gặp bảng “stop” cũng phải đừng lại, sao một đứa bé phải đi
tìm cái thùng rác để vứt cái giấy kẹo nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, sao
ở đây xe hơi nhiều như thế mà không nghe một tiếng còi? Trong cái
không khí dễ chịu, thanh thản, an lạc người ta cảm nhận ra khi bước
chân trở lại một nơi, có một chút mỉa mai, không phải là quê nhà của
mình.
Chúng ta bước đi từ môi trường tử tế, trong lành của miền Nam qua giai đoạn “thống nhất” để bước đến một xã hội hỗn loạn như hôm nay, khi mà con người tốt đẹp dần dà trở thành vô cảm, lừa lọc, gian trá, đạp lên nhau mà sống, để mưu tìm một đời sống ích kỷ cho riêng mình, mà không thấy đó là bất thường, bất nhân và vô loại.
Thì chúng ta, trong xã hội này, cũng theo lời ông
Khổng Tử:
“ Ở chung với người
bất lương, như vào trong chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết mùi hôi, vì
mình cũng hóa ra hôi vậy!”
Như
người mới vào chợ cá, lúc đầu còn nghe mùi hôi tanh, dần dà quen
thuộc, không còn nghe mùi tanh tưởi khó chịu nữa, như người quân tử
sống với kẻ tiểu nhân, dần dần đồng hóa bởi cái xấu mà mình không
hay biết.
Thử hỏi một viên chức trong chế độ Cộng Sản Việt Nam
hiện nay, xem những chuyện cường quyền áp bức, mạng sống của người
dân xuống hàng súc vật, con người chỉ biết có đồng tiền và dục vọng,
tráo trở, vô đạo lý hiện nay có là điều gì làm cho con người lạ
lùng, khó chịu không? Hay đó là chuyện bình thường, thấy đã quen
mắt, nghe đã quen tai, đầu óc đã xơ cứng, chai đá như khứu giác của
con người ở lâu trong chợ cá, còn đâu phân biệt được mùi hôi nữa!
Ðiều cuối cùng chúng tôi muốn nói là sự may mắn đã
giúp ta có cơ hội không phải chỉ cho riêng mình mà cả con cháu đời
sau, tránh khỏi được kiếp oan nghiệt, ra khỏi được cái chợ cá ấy,
được sống trong cái “chi lan, chi thất” cái vườn lan thơm ngát, mà
qua một thời gian chúng ta không còn cảm nhận được mùi thơm nữa,
nhưng trên thực tế, mùi thơm đó vẫn hiện hữu.
Nhiều kẻ hãnh tiến vẫn cho rằng nước Mỹ nợ chúng ta
mà quên rằng, món nợ của chúng ta, và cả con cháu đời sau đối với
nước Mỹ thật khó lòng trả nổi.
Hãy CÁM ƠN bằng cách sống thật có ý nghĩa cho đời
sống này!
Huy Phương