Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay

 

TỪ Ý THỨC KHOA HỌC

ÐẾN TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN

Ngày 07 tháng 09 năm 1990

                                   THIÊN CẢM LÊ HỮU TRUNG

 

Thiên nhiên, con người, đời sống, suy tư, hệ thống. hòa lẩn trong những ý tưởng mông lung hổn độn khi đầu óc nhỏ bé này phải ngẫm nghĩ về 2 chữ KHOA HỌC. Thật là một điều khó khăn và hầu như nan giải khi chúng ta phải minh định ý nghĩa trung thực của khoa học. Chúng ta cảm được khoa học qua tác dụng và hậu quả nhiều hơn là ngay ở chính danh của nó. Bởi vậy khoa học ít khi đứng trong tư thế lẻ loi mà thường bổ túc cho một ý tưởng hay sự kiện mang tính chất ta gọi là Khoa học.

Thiết tưởng chúng ta không thể bận

 tâm đến chính danh mà chỉ cần tìm hiểu những yếu tố tạo thành ý thức khoa học tức là những dữ kiện về người về đời sống, về thiên nhiên kết thành một ý niệm, một tương quan, một hệ thống mang tên khoa học.

Nhìn khoa học theo chiều hướng này, xin tạm chi các yếu tố tạo thành ý thức khoa học thành ba phần:

  -  Yếu tố "Người"

  -  Yếu tố về sự truyền thông và xúc tiếp giữa người và thiên nhiên

  -  Yếu tố về "Trật tự" của thiên nhiên.


TUNG CÁNH CHIM BAY                                       TUYỂN TẬP KỶ NIỆM 40 NĂM TỐT NGHIỆP 

KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 

Thu nhận qua giác quan những tác động của thiên nhiên chỉ là khả năng thị giác đầu tiên. Cảm nhạy và thu nhận chưa hội đủ yếu tố ý thức sự kiện; nói một cách khác cảm giác về màu sắc, đường nét, âm thanh, hương vị và chuyển động qua giác quan mới chỉ là hình thức nhạy sơ đăng. Ở giai đoạn này ta cảm thụ chứ chưa ý thức được sự kiện, chẳng hạn như ta cảm được màu xanh lục của sinh cảnh, màu thiên thanh của bầu trời; nghe và nhận được tiếng thác đổ, tiếng gió lộng, rờ và cầm được hòn đá tròn trịa, vỏ cây sần sùi.

Tiến xa hơn, chúng ta so sánh hình ảnh thực tại với hình ảnh của ký thức (kinh nghiệm) để cân nhắc và quyết định. Kế đến chúng ta vận dụng trí năng để phán đoán và trải rộng sự kiện ra hầu có thể đi sâu vào chi tiết. Chúng ta cố gắng liên kết các yếu tố để suy diễn và đưa ra một quyết định. Chúng ta đã phân tích và tổng hợp.

Tiến trình đến đây mới có thể gọi là "Ý thức sự kiện". Con người suy tư và lập luận một sự kiện, một hiện tượng theo hệ thống là con người đã tham gia phần nào vào mặc khải ý thức khoa học. Nhưng suy luận mới chỉ là khả năng vô hình. Chúng ta cần tận dụng hết thiên tính trời cho và các năng tính do ta phát huy thì

mới đến gần khoa học được.

Tìm hiểu các sự kiện và hiệm tượng thiên nhiên theo lớp lang, có hệ thống, chưa phản ánh hết tinh thần khoa học theo ý nghĩa phong phú của nó, dù đó là những khả năng thượng đẳng hay là những khả năng siêu việt. Còn thiếu một chất liệu nuôi dưỡng năng tính, một động lực thúc đẩy chúng ta cảm thông với trời đất: "Tình yêu thiên nhiên".

 Ðịnh hướng khoa học thường bắt nguồn từ say mê kỳ quan. Tình yêu nầy xuất phát ngay từ tuổi thơ. Có đứa trẻ nào lại không mê say màu sắc rực rỡ, âm thanh lạ tai, trò chơi cơ động. Nếu tình yêu khoa học của người lớn khởi phát từ sự mê thích kỳ quan, tôi nghĩ rằng họ sẽ là người bạn chung thủy của khoa học, họ sẽ là mẫu người kiên trì phục vụ lý tưởng cho cả cuộc đời, vì đó là xu hướng mang đầy nhân tính của con người ái tri và đam mê.

Ðộng lực của tình yêu, nếu đặt trên căn bản tranh đua, lợi lộc, sẽ tan biến ngay khi không còn đối tượng nữa. Trái lại động lực hiện thân cho khoa học của Pierre và Mari Curie cũng như của bao khoa học gia khác là tình cảm bất diệt tức là sự say mê kỳ quan tạo vật. Tình yêu mến kỳ quan kéo con người lại gần với thiên


TUNG CÁNH CHIM BAY                                       TUYỂN TẬP KỶ NIỆM 40 NĂM TỐT NGHIỆP 

KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 

nhiên, biến họ thành người bạn tri âm của trái đất. Ðó là một thứ tình bạn cởi mở và sáng suốt vì khoa học là cách cảm thông minh mẫn và sâu xa với vạn vật. Tình yêu khoa học có thể được ví như chiếc chìa khóa của thánh Phêrô đứng mở cánh cửa u mê cho ta bước vào thiên giới của mặc khải và hiểu biết.

Năng tính thứ hai của con ngưới khoa học là sức mạnh bắp thịt. Gần hết các khoa học gia đã vận dụng đôi bàn tay một cách khéo léo và hữu hiệu. Một Piccard cha với chiếc khinh khí cầu, do ông tự phác họa và chế tạo, một Piccard con với chiếc tiềm thủy tầm dương do ông tự vẽ kiểu và chế tạo; một Edison với chiếc máy hát, bóng đèn tim do bàn tay ông hình thành; rồi đến Bell, Marconi, Carnot đã vận dụng đôi bàn tay khéo léo cho những công trình sáng chế lẫy lừng.

Tóm lại điều kiện hình thành ý thức khoa học ở mỗi cá thể là khả năng huy động thiên tính (tình cảm) và năng tính (Lý trí, sức mạnh bắp thịt).

Con người chưa vận dụng toàn diện thiên tính và năng tính chưa trưởng thành ý thức thức khoa học. Con người khoa học phải chăng là con người biết truyền thông với trời đất, vạn vật qua khả năng vô hình và hữu

hình. Họ biết sữ dụng một cách tuyệt diệu những phương tiện liên lạc và xúc tiếp để định được cương vị của mỗi tạo vật trong đó có cả họ nữa và hiểu được tương quan giữa những sự kiện theo một thứ tự nào đó dựa vào quy luật của trời đất.

Những khả năng trí tuệ là một cái gì đó vô hình trong khi thiên nhiên được ví như một kho tàng vật chất khổng lồ. Chúng ta có một thí cụ thích ứng đào xới, quật khai kho tàng này để có cái khả năng vô hình trên cơ thể bắt nhịp với tất cả những huyền bí thâm sâu của trời đất, khí cụ này là đôi bàn tay. Khí cụ càng hiệu dụng khi con người mang nó biết rèn luyện cho thích ứng cới đà tiến hóa của sinh vật đầu tiên được trời ban cho ân sủng độc quyền sử dụng để tìm hiểu và khắc chế thiên nhiên. Dù cho khối óc biết suy tư mà không xúc tiếp được với ngoại giới bằng tác động vật chất, thì chắc gì năng tính vô hình này có thể xuyên phá được huyền bí và kỳ quan của tạo vật.

Chúng ta đã thấy 3 thứ hành trang bất phân của con người khoa học: Tình cảm, Lý trí và Sức mạnh vật chất. Thiếu 1 trong 3, cuộc hành trình mạo hiểm sẽ mất


TUNG CÁNH CHIM BAY                                       TUYỂN TẬP KỶ NIỆM 40 NĂM TỐT NGHIỆP 

KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 

đi hào hứng, lý thú. Chúng ta sẽ không khám phá hết tất cả những tinh túy của trời đất, không cảm được cái thâm thúy của con người, của đời khoa học và thiên nhiên. Bởi vậy con người khoa học cần có một thái độ nhân tính, mang màu sắc thi vị, nhưng không kém phần sâu sắc và tinh tế trong việc liên lạc và xúc tiếp với các sự kiện và hiện tượng của trời đất. Ta thử theo dõi phản ứng và phong thái của con người có khuynh hướng khoa học trước một hiện tượng thiên nhiên:

 1. Khứu giác phát hiện hương thơm

 2. Bộ óc thu nạp dữ kiện và quyết định hành động

 3. Ðôi chân bước về nơi tỏa hương

 4. Khứu giác tầm hương và thị giác định hướng

 5. Cá thể hành động theo bản năng

 6. Ký ức hoạt động và tác động hệ cảm

 7. Hệ cảm hồi tác về não bộ, quyết định hành động

 8. Bàn tay tách cánh hoa thơm

 9. Toàn thể giác quan phối hợp hoạt động 

 10. Bánh xe suy tư chuyển vận.

Tiến trình  trên diễn đạt từ xu hướng tự nhiên đến thái độ ý thức của sinh

vật có giác quan, biết suy tư và rung cảm, có khả năng điều động bắp thịt. Ta thấy xu hướng động của thú vật chỉ tiến đến giai đoạn 5 là cùng. Tình cảm khô khan, năng tính hạn hẹp khó mà đi hết tiến trình, hoặc đôi lúc nhảy vọt một cách vô ý thức đến giai đoạn 8. Có những đầu óc sáng suốt nhưng nhân tính cằn cỗi đi tắt đến giai đoạn cuối của tiến trình.

Con người mang danh khoa học gia, theo thiển ý, phải trải qua hết đoạn đường cảm thông với thiên nhiên, phải đi từ A đến Z trong tiến trình khai phú thiên nhiên, vì bỏ đi giai đoạn 6 - 7, làm sao cảm được cái thi vị của cuộc đời, quên đi giai đoạn 9 - 10, làm sao hiểu được cái tinh diệu và vẻ đẹp của vạn vật. Trong tiến trình trên, người khoa học không những thích nghi với thiên hình vạn trạng của trời đất mà còn biết dùng khả năng sáng tạo để khắc phục thiên nhiên. Ðấy chính là tinh thần và thái độ đầy nhân tính của con người ý thức được khoa học.

Yếu tố hình thành khoa học sau cùng không do con người chủ động, đó là bản chất của thiên nhiên hay trật tự của trời đất


TUNG CÁNH CHIM BAY                                       TUYỂN TẬP KỶ NIỆM 40 NĂM TỐT NGHIỆP 

KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 

Chúng ta chỉ có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc tiếp và suy nghĩ nếu chúng ta 

sống trong trật tự  ấy, nếu chúng ta thâu nhận theo một hệ thống, một mô thức ta gọi là định luật thiên nhiên. Giả sử trong chân không, tia sáng truyền theo đường ngoằng ngoèo bất định, thì làm sao biết được vận tốc của ánh sáng và ta cũng không bao giờ cảm nhận được hình ảnh do loại ánh sáng nầy kích thích. Ta chỉ thấy một mớ hỗn độn không đường nét, không mày sắc hay có thể ta không thấy gì cả, ta cũng không còn là ta nữa, sinh vật hết là sinh vật, vũ trụ chỉ là sản phẩm của ông trời điên!

Nếu vật chất thay đổi tỷ trọng một cách bât thường, tùy hứng, không do một nguyên nhân kỹ thuật nào can dự, thì chắc đến ngày hôm nay chúng ta chắng nghe thấy tên các đại danh: Archimède, Bernouilli.

Chúng ta bắt buộc suy luận các hiện tượng thiên nhiên theo một trật tự , một hệ thống. Chúng ta ép mình vào khuôn khổ của trật tự ấy. Thích ứng với tư tưởng, với trật tự  của trời đất là chúng ta đã ý thức được khoa học và khi chấp nhận đi theo con đường suy luận hợp lý ấy, chúng ta đã hướng về chân lý vì khoa học là cái sườn của ngôi nhà chân lý. Con người khoa học không chấp nhận những sự kiện gọi là "tâm linh", nhưng không đặt trong khuôn khổ trật tự của trời đất. Những lập luận về siêu khoa học, thần học không thể xếp vào hệ thống của ý thức khoa học được. 

Luật trời đất, luật thiên nhiên được ví như chậu nước trong ấy đàn cá đang tung tăng bơi lội một cách thăng bằng và an bình. Ý thức khoa học đến với người nào cảm nhận và ý thức về sự thăng bằng và an bình nầy, lẽ dĩ nhiên không phải là đàn cá vô ý thức, và cũng không phải là những sinh vật đứng ngoài chậu nước.

Khi chấp hành luật trời bằng yêu mến, tìm hiểu và hành động, chúng ta đã cảm thông được ý thức khoa học. Ý thức nầy đến với ai biết sống thuận lẽ với thiên nhiên, hợp với thiên tính và thiên năng của người.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 

Như ánh lửa lóe lên giữa đêm tối mịt mù. Như làn gió mát thổi qua sa mạc khô cằng. Tâm tư của người đam mê gióng lên giữa những vô tri, bạc tình và bất động. Phải chăng khoa học chưa hấp dẫn được những suy tư lạc lỏng, những thể xác mệt mỏi. Phải chăng nhân tính còn đắm đuối trong mê muội u tối. Phải chăng năng tính đang bận bịu với nông cạn tầm thường.

Làm sao ý thức khoa học đến với mọi ngừơi biết nhìn trời, nhìn người, nhìn đời với thành khẩn và nhiệt tình.

 

Viết trễ, V. 5.9.1975

  Lê Hữu Trung.


TUNG CÁNH CHIM BAY                                       TUYỂN TẬP KỶ NIỆM 40 NĂM TỐT NGHIỆP 

KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 

Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay