Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay
 

MỘT CHÚT G̀ ĐỂ NHỚ ĐỂ THƯƠNG

 

 Hoàng Vũ

(Riêng tặng Bùi Tiên Khôi)

Tôi c̣n nhớ rơ một buổi sáng đẹp trời vào khoảng cuối tháng 9/1956, tôi lên Văn pḥng Giám Học trường Quốc Gia Sư Phạm Saigon để xin từ biệt. Vị Giám Học với mái tóc bạc phơ, đôi mắt ngạc nhiên nh́n tôi và hỏi: "Em định đi đâu, sao lại có ư rời bỏ ngôi trường mà bao nhiêu người ao ước được bước chân vào mà không có dịp may." Ḷng tôi hơi xao động v́ giọng nói ngọt ngào và đầy cảm t́nh của vị Giám Học. Tôi khẽ nh́n ông rồi chậm răi thưa rằng: "Em muốn rời bỏ Saigon v́ lư do riêng, dịp may em được đỗ vào trường Quốc Gia Nông Lâm Mục, nên em quyết định từ giă Saigon để lên Blao". Tôi tần ngần bắt tay ông mà tâm hồn xao xuyến, bước chân ra khỏi cổng trường, ḷng vẫn nao nao, nửa vấn vương phải  ĺa bỏ mái trường yêu dấu, nửa bồi hồi v́ sắp phiêu lưu đến một nơi xa lạ.

Một trong những lư do mà tôi không lưu luyến Saigon là chán ngán cho t́nh đời đen bạc. Lúc đó tôi đang ở trọ nhà một ông chú họ ở Saigon, vốn có nhiều thâm t́nh với gia đ́nh tôi, và đă từng được thân phụ tôi giúp đỡ trong những ngày đầu chạy giặc. Chiến tranh làm cho gia đ́nh tôi sa sút, phải 

đến nhờ vả người chú họ. Sự đối đăi lạnh lùng và bạc bẽo của gia đ́nh ông, nhất là khi tôi bị ốm nặng thập tử nhất sinh, đă làm tôi tủi thân. Tôi tự nhủ rằng nếu có dịp may nào là tôi sẽ rời bỏ ngay. Dịp may đó đă đến khi tôi được đậu vào trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao. Ngoài lư do trên, cái học bổng

 1500 đồng một tháng là một khích lệ lớn lao đối với tôi, một học sinh nghèo vừa mới từ vùng kháng chiến về chưa được bao lâu.

Tôi xuất thân từ một gia đ́nh khá đặc biệt. Ông cố tôi là Tổng Đốc Hoàng Diệu, đỗ Phó Bảng dưới thời vua Tự Đức. Ngoài Ngài ra, ba anh em khác của Ngài đều đỗ Cử Nhân và cùng làm quan tại Triều Đ́nh Huế. Năm 1882, Ngài là Tổng Đốc Hà Ninh kiêm trấn nhậm thành Hà nội. Sau khi thành phố Hà Nội thất thủ vào tay người Pháp ngày 25/04/1882, ngài thắt cổ tuẫn tiết cùng thành. Trước cái chết cao cả 

của Ngài, các giới sĩ phu, văn thân và nhân dân Bắc Hà và cả nước


ÂM HƯỞNG BLAO

khâm phục thương tiếc. Tôn Thất Thuyết một đại biểu nổi tiếng của những sĩ phu kiên quyết chống Pháp đă ca ngợi Ngài trong hai câu đối:

"Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện,

B́nh sanh trung nghĩa, dương niên đại cuộc khởi vô tâm."

Dịch:

Một chết đă thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước.

B́nh sanh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm."

Mặc dầu không ủng hộ Ngài trong

 

Anh chị Hoàng Vũ và con gái cưng Canada 1981


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

việc chống với quân Pháp tại thành Hà nội, vua Tự Đức vẫn phải hạ chiếu khen Ngài đă tận trung tử tiết, sai quan Tổng Đốc Quảng Nam làm lễ quốc táng. Sĩ phu Hà Thành lập đền thờ Ngài ở phố Văn Tân, sau thờ chung với ông Nguyễn Tri Phương trong Đền Trung Liệt trên G̣ Đống Đa với câu đối như sau:

`Thử thành quách, thử giang sơn 

Bách chiến phong trần dư xích địa

Vi nhật tinh, vi hà nhạc

Thập niên tâm sự vọng thanh thiên

Dịch:

Ḱa thành quách, ḱa giang sơn

Trăm trận phong trần trơ đất đỏ

Là trời sao, là sông núi 

Mười năm tâm sự thấu trời xanh."

Ông nội tuy đỗ đạt nhưng không chịu ra cộng tác với người Pháp và triều đ́nh Huế. Ông lo kinh doanh ruộng đất, nuôi tằm ươm tơ, trồng mía và làm nhà máy đường, chẳng bao lâu trở nên một trong những đại điền chủ ở Quảng Nam, giàu có và

phong lưu một thời. Thân phụ tôi là con út, được nuông chiều trong

cảnh giàu sang, không chịu học hành, sống sa hoa với của cải của ông bà để lại. Rồi chiến tranh bùng nổ, gia đ́nh chúng tôi bị kẹt ở vùng kháng chiến trong thời gian chống Pháp 1945-954. Gia đ́nh tôi bị kiệt quệ sau 9 năm gian khổ, trải qua bao nhiêu thử thách, gian 

truân, một phần vừa chạy giặc Pháp, phần khác phải bám lấy mảnh đất cằn cỗi c̣n lại để sinh nhai. Gia đ́nh chúng tôi phải tần tảo lắm mới sống được qua ngày.

Vào khoảng tháng 9/1954 tôi theo một ông bác họ vào Saigon. Lênh đênh trên một tàu buôn người Hoa suốt ba ngày đêm, tàu cập bến Saigon trong một buổi sáng đẹp


ÂM HƯỞNG BLAO

trời, giữa sự ngạc nhiên tận cùng của tôi về cảnh náo nhiệt, phồn hoa và lộng lẫy của Ḥn Ngọc Viễn Đông. Tôi theo học lớp đệ tứ trường trung học Hồ Ngọc Cẩn trên đường Bùi Thị Xuân, và thi đậu trung học đệ nhất cấp vào tháng 6/1955. Tôi tiếp tục học lớp đệ tam cùng trường cho đến khi thi đỗ vào Quốc Gia Sư Phạm và trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao.

Tôi c̣n nhớ rơ một buổi sáng vào khoảng tháng 10/1956, với chiếc ba lô trên vai và không một người thân đưa tiễn, tôi tŕnh diện Bộ Canh Nông, cảm thấy lạc loài giữa đám đông người đang ríu rít đưa tiễn nhau đi. Bước chân lên chiếc xe Cosara ḷng tôi mới thấy nhẹ nhàng, phơi phới, nhưng chẳng khỏi bâng 

khuâng. Chiếc xe lăn bánh rời Bộ Canh Nông, chạy theo hướng Biên Ḥa, rồi mấy chốc Saigon chỉ c̣n là một bóng mờ kỷ niệm, mất hút sau các rừng cao su cao vút của Dầu Giây, Xuân Lộc.

Bầu trời xanh ngắt không một áng mây, ánh sáng d́u dịu của những ngày cuối thu len lỏi giữa các tàn cây xanh mướt hai bên đường. Một cơn 

gió nhẹ thoảng qua, rừng cây vẫn xào xạc xen lẫn với những líu lo của mấy cánh chim rừng, tạo nên một cung đàn tuyệt diệu. Say mê trong cảnh rừng hùng vĩ của đồi núi chập chùng, chẳng mấy chốc xe đă vượt qua Định Quán, đèo Chuối và các đồi trà thơ mộng của Tân Phát,

Blao. Xe chầm chậm lướt qua cổng trường, hai hàng chữ "Trường

Quốc Gia Nông Lạm Mục" và "National College of Agriculture Forestry and Animal Husbandry" nổi bật giữa các tàn cây cao vút và các thảm cỏ mượt mà. Vừa bước chân xuống xe, chúng tôi đă thấy khóa đàn anh -Khóa I- ào ra đón tiếp, ríu rít chào mừng, và hướng dẫn chúng tôi đến căn nhà gỗ, nơi mà gần 50 anh em chúng tôi chen chúc nhau sống gần một năm trời cho đến ngày dọn qua pḥng ngủ mới. Do t́nh cờ, chiếc ghế bố tôi năm bên cạnh Bùi Tiên Khôi. Sau đôi câu chuyện hàn huyên, tôi được biết Khôi quê ở B́nh Định, cùng ở vùng kháng chiến trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

1945-1954. Do đặc điểm tương đồng về cảnh ngộ và tính t́nh chúng tôi đă trở nên đôi bạn chí thân. Suốt ba năm trời ở Blao, nằm cạnh bên nhau và chia sẻ ngotï bùi, tôi xem Khôi vừa là người bạn thân và cũng là người anh thân mến. Cái bề ngoài của hai chúng tôi c̣n phảng phất h́nh ảnh nghèo nàn của những ngày ở Liên Khu 5, đă làm cho một số bạn bè cùng khóa châm biếm và "chọc quê". Ngày xưa tôi bực tức lắm, nhưng tự nhủ rằng gia thế của ḿnh chẳng kém ai, chỉ khác nhau là thời thế đă tạo nên cái nét đặc thù của những người vừa rời bỏ quê hương "cày lên sỏi đá". Hơn bốn mươi năm qua cuộc thế đổi thay, con người cũng thay đổi. Những kỷ niệm ngày xưa dù buồn hay vui cũng là những nỗi tiếc của những ngày hoa mộng. 

Hiện nay gia đ́nh tôi sinh sống tại một thành phố nhỏ thuộc tỉnh British Columbia, Gia Nă Đại. Những hồ nước phẳng lặng ẩn hiện sau các đồi thông chập chùng càng làm cho tôi ray rứt nhớ đến Bảo Lộc và Đalạt. Có những đêm trăng sáng không ngủ được, ngồi tựa lan can trên sân thượng, nh́n ra bầu trời đầy sao lấp lánh. Xung quanh tôi là một sự im lặng hoàn toàn, chỉ có ánh trăng sao vằng vặc và dăy Rocky Mountains hùng vĩ nằm ngủ yên ở dưới chân trời, tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ của Lamartine trong bài: "L'étoile du soir" mà tôi học ở trường Quốc Gia Sư Phạm hơn 40 năm trước, và tôi đă phỏng dịch ra như sau:

Sao khuya vằng vặc chơi vơi

Phải chăng cô lữ bên trời xa xôi

Lung linh ánh ngọc tuyệt vời

Ngân hà một dải mịt mờ khói sương

Sao ơi c̣n có vấn vương

T́m ai trên bến Tầm Dương... mỏi ṃn.

Nhân nghĩ đến trăng sao, tôi không khỏi liên tưởng đến mấy vần thơ trác tuyệt của nhà thơ Vũ Hoàng Chương:

"Hoa đợi trăng lên trả bóng ḿnh

Ḱa hoa run rẩy bóng rung rinh

Vầng trăng hữu ư lên cao măi

Đẩy bóng về hoa nhập với ḿnh."


ÂM HƯỞNG BLAO

Rồi tôi bỗng nhớ đến dẫy núi Đại B́nh mà chúng ta đă nhiều lần thưởng ngoạn:

Đại B́nh hùng vỹ đỉnh mờ khói sương

(Trích thơ của chính tác giả)

Rồi trí tôi miên man nhớ đến những con đường dài hun hút dẫn sâu vào trong các khu rừng phía sau trường, ăm ắp đầy kỷ niệm với những buổi đi bộ tuyệt vời cùng với các thầy Kư, thầy Phú, thầy Tân, những tiếng la hốt hoảng của một vài kiều nữ khóa II khi bị mấy con vắt thám hiểm các đôi chân ngà ngọc. Rồi con đường Hoàng Hoa Lộ thơ mộng đă là một nguồn thơ bất tận, mà chính tôi cũng đă ngậm ngùi nhắc đến: 

Nhớ Hoàng Hoa Lộ mà ḷng ngẩn ngơ

Hơn bốn mươi năm qua trải qua 

bao nhiêu cảnh vật đổi sao dời Blao chắc chắn đă đổi thay nhiều. Con đường Hoàng Hoa Lộ thơ mộng ngày xưa, các thảm cỏ xanh mướt ẩn dưới tàn cây cao vút bên cạnh các giảng đường c̣n thơm mùi sơn mới, các đồi núi chập chùng phía sau trường từng là chứng tích của nhiều cuộc t́nh thơ ngây, vụng dại, ngày nay chắc cũng phôi phai theo năm tháng! Chúng ta mới ngày nào mái tóc c̣n xanh, c̣n tung tăng như cậu học sinh hồn nhiên mà nay đă điểm sương hay trắng bạc. Một số thầy và bạn chúng ta đă vĩnh viễn ra đi dưới ḷng đất lạnh. Những người c̣n lại th́ phiêu bạt khắp bốn phương trời; kẻ c̣n ở quê nhà phải vất vả mưu sinh, những người bên kia Đại Tây Dương này vẫn ray rứt nhớ quê hương, vừa bị cuốn xoay trong cuộc sống mới mà những giá trị tinh thần cố hữu đă bị thử thách và chi phối bởi kinh tế thị trường, bởi nếp sống vật chất đua chen, bởi những tấm bills hàng tháng phải trả không bao giờ chấm dứt. 

Những phút giây sung sướng nhất có phải chăng là lúc vọng về quá khứ với những mộng mơ của tuổi xuân th́. Tôi xin mượn mấy vần thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu để chấm dứt mấy trang hồi kư "Một chút ǵ để nhớ để thương" này:

"Giấc mộng mười năm đă tỉnh rồi

Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi.

Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng

Tiếc mộng bao nhiêu để chán đời." 

Gia Nă Đại, đầu Xuân 1997

 


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay