Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay
 

HỔI KƯ

TẬP SỰ THỦY LÂM

 

 Hoàng Vũ

 (Thân tặng Hoàng Tổng và Đoàn Minh Trị)
Sau hai năm rưỡi đèn sách tại Blao, nhóm chúng tôi gồm có Tổng, Trị và tôi nhận được Sự Vụ Lệnh đi tập sự tại Nha Khảo Cứu Bộ Canh Nông Khu Thủy Lâm Biên Ḥa, Khu Thủy Lâm Cà Mau, Khu Thủy Lâm Đalat, Khu Thủy Lâm Huế và Trung Tâm Thực Nghiệm Trảng Bom. Thấm thoát đă hơn 38 năm, và trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, có những điều tôi không c̣n nhớ rơ, có những người tôi không c̣n nhớ tên, nhưng cũng có những kỷ niệm vẫn c̣n sống măi trong kư ức tôi như xảy ra mới ngày nào.

Suốt hai tuần lễ đầu tiên, chúng tôi tập sự tại Nha Khảo Cứu ở đường Mạc Đĩnh Chi cùng các nhóm khác trong Ban Thủy lâm khóa 2. Thầy Lê Văn Kư hướng dẫn 

chúng tôi viếng thăm vườn Bách Thảo để ôn về môn Dendrology - nhận dạng các loại cây rừng. Thời gian c̣n lại các chuyên viên Thủy Lâm tại Nha Khảo Cứu hướng dẫn chúng tôi viếng thăm các vườn ương, các trung tâm thực nghiệm Thủy Lâm trong các vùng lân cận.

Sau khi rời Nha Khảo Cứu,

chúng tôi tiếp tục lên tŕnh diện tại khu Thủy Lâm Biên Ḥa. Thời gian ở Biên Ḥa không có ǵ đặc biệt, ngoại trừ mấy lần đi kiểm kê gỗ Định Quán với viên Hạt Trưởng sở tại là ông Kỹ sư Nguyễn Hữu Chiện. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy các lóng gỗ đỏ, sao, dầu, mà đường kính có khi hơn 1 

mét rưỡi. Ngoài th́ giờ làm việc chúng tôi lang thang trên các nẻo đường thị xă hoặc thưởng thức món cháo đầu cá lóc độc đáo của Biên Ḥa, mà hôm nay nhắc lại c̣n làm cho tôi rỏ giăi.


ÂM HƯỞNG BLAO

Địa điểm tập sự kế tiếp là khu Thủy Lâm Đà Lạt. Thời gian một tháng ở Đa Lạt tuy ngắn ngủi nhưng ấm áp nhiều kỷ niệm. Chúng tôi được sắp xếp ở trong một căn nhà nhỏ lẻ loi ở phía sau Hạt Thủy Lâm Dalat. Con đường nhỏ hun hút đưa đến pḥng ngủ chúng tôi với cỏ dại cao lấp nửa thân người và các cây thông cao vút ở phía sau làm tăng vẻ quạnh hiu nhưng không kém phần thơ mộng. Có những đêm trời lạnh, chúng tôi quấn chăn nằm bên nhau trong khi bên ngoài gió vẫn chẳng ngại ngùng khua mạnh trên các khung cửa sổ đă gần mục nát. Chúng tôi đứa đọc báo, đứa nghe nhạc, đứa đọc tiểu

 

Hoàng Vũ và Hoàng Tổng tập sự

ở Đồng Xoài, Phước Long 1959.


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

thuyết. Tôi rất thích đọc những loại sách diễm t́nh bằng tiếng Pháp như Graziella, Paul et Virginie, La Dame aux Camelias, nhưng Pháp văn tôi c̣n kém, những chỗ nào tôi không hiểu th́ đă có cuốn tự điển sống Đoàn Minh Trị bên cạnh. Ngoài những buổi tập sự với ông Nguyễn Văn Hiệp, 

Giám Đốc Nha Thủy Lâm Cao Nguyên và ông Đào Văn Miên, Trưởng Hạt Thủy Lâm Đàlạt, chúng tôi thường hay lang thang trên các đường phố Đà Lạt, nói những chuyện tầm phào không đâu, hay lặng ngắm các cô gái Đalạt má đỏ môi hồng với mái tóc dài óng

ả cuốn bay theo gió. Tôi c̣n mang máng nhớ đến ái nữ của vị Trưởng Hạt, với đôi mắt lá dăm và mái tóc thề, là một trong những đề tài chúng tôi bàn tán trong lúc "trà dư tửu hậu". Ngày xưa tôi "ngại" đàn bà, con gái lắm, thấy người đẹp chỉ biết ngắm thôi. đến lúc đến gần bên th́ luống cuống nói chẳng nên lời.

Tôi rất yêu Đalạt với các đồi thông bát ngát, với các hồ Than Thở và Hồ Xuân Hương thơ mộng, với các thác Prenn, Gougar hùng vĩ, với các con đường thoai thoải rợp bóng anh đào. Định mệnh đă an bài cho gia đ́nh tôi định cư tại một thành phố nhỏ, bao

quanh bởi các rừng thông cao vút, các hồ nước bao la, các hàng cây anh đào rực rỡ dưới nắng đầu xuân, càng làm tôi ray rứt nhớ đến Đalạt. Nhiều đêm thức giấc nh́n qua cửa sổ, tôi tưởng ḿnh như trở về Đà Lạt. Cái h́nh ảnh "Đà Lạt đêm sương" mà thi sĩ Quách Tấn đă mô tả năm nào bỗng nhiên trở thành một hiện thực:

"Bóng trăng lóng lánh mặt hồ im

Thời khắc theo nhau lải rải ch́m

Đứng dựa non cao bờ suối ngọc


ÂM HƯỞNG BLAO

Hoàng Vũ và Hoàng Tổng tập sự

ở Cà Mâu (An Xuyên) 1959

Hồn say d́u dịu mộng êm êm."

Rời Đà Lạt chúng tôi đi ra Huế bằng xe lửa và tŕnh diện tại Khu Thủy Lâm Huế. Ngoài những buổi đi tập sự tại các cơ sở Thủy Lâm tại thị xă Huế, Hạt Thủy Lâm Thừa Lưu và Hạt Thủy Lâm Quảng Trị, chúng tôi đă viếng các lăng tẩm và các danh lam thắng cảnh của đất nước thần kinh. Huế với thành Nội cổ kính, với chùa Thiên Mụ trang nghiêm nh́n xuống gịng sông Hương thơ mộng, với bến Thượng Tứ, đồi Nam Giao, thôn Vĩ Dạ. Chúng tôi, Trị và tôi, tuy mới lần đầu ra Huế, nhưng không một chút bỡ ngỡ nào v́ bên


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

cạnh đă có "thổ công" Hoàng Tổng. Những buổi đi ăn chè đậu xanh đánh bên các quán nhỏ ven đường Tổng có c̣n nhớ không, chè vừa ngon ngọt mà cô hàng bán chè cũng chẳng kém ngọt ngào! Chúng tôi thường lang thang trên cầu Trường Tiền vào những lúc trường vừa tan học, lặng nh́n các o nữ sinh Đồng Khánh thuớt tha trong bộ áo dài trắng tinh với vành nón bài thơ e ấp che mái tóc thề lộng bay theo gió. "Học tṛ trong Quảng ra thi. Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành." Tôi bỗng nhớ đến Huy Lực Bùi Tiên Khôi với mấy vần thơ dễ thương:

"Cô gái sông Hương tóc thề bay trong nắng

Vành nón nghiêng nghiêng che cả bầu trời."

Tôi yêu mái tóc dài phủ kín bờ vai và tà áo dài quyến rũ, và cũng chính v́ mái tóc 

dài óng ả của vị hôn thê mà tôi đă quyết định không lên Yale University để tiếp tục học sau khi tốt nghiệp ở Raleigh vào năm 1962.

"Tóc nàng ôm lấy bờ vai

Ḷng tôi ngây dại, đêm dài nhớ thương

Ân t́nh gởi áng mây vương

Cùng nang dệt mộng trọn đường yêu nhau."

(Hoàng Vũ)

C̣n có một kỷ niệm mà tôi không thể quên là chuyện đi viếng thăm một khu khai thác gỗ trong tận rừng sâu thuộc Hạt Thủy Lâm Huế. Cùng với ông Trưởng Hạt Thủy Lâm Huế, chúng tôi ngược gịng Hương Giang vào một đêm trăng sáng. Trong khi chiếc thuyền con nhẹ lướt trên gịng sông Hương -vị Trưởng Hạt- có một trí nhớ lạ lùng, thao thao đọc các vần thơ trữ


ÂM HƯỞNG BLAO

t́nh của Lamartine, Alfred de Musset, etc... Ông ta nhớ cả khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng, hay là bề dài của sông Hương, sông Seine. Chưa bao giờ trong đời tôi có cảm giác thoải mái như lúc này. Vầng trăng thượng tuần như bẽn lẽn sau mấy áng mây mong manh, gịng sông Hương lững lờ trôi, các đồi núi chập chùng sau lăng Gia Long, và các mái chèo nhịp nhàng vô t́nh làm tan vỡ ánh trăng vàng, đă tạo ra một bức tranh thủy mạc tuyệt vời. Tôi bỗng liên tưởng đến thi hào Nguyễn Du với mấy vần thơ diễm tuyệt

"Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng."

Sau một tháng ở Huế, chúng tôi lại trở về Nam và tiếp tục tập sự tại khu Thủy Lâm Cà Mau. Chúng tôi tạm trú tại cư xá của ông Trưởng Khu, ngay tại thị xă Quản Long. Tôi c̣n nhớ là sau khi tŕnh diện, ông yêu cầu chúng tôi vẽ họa đồ của toàn thị xă. Sau có hai ngày, chúng tôi tŕnh diện một họa đồ tỉ mỉ của thị xă, ông rất ngạc nhiên về tốc độ làm việc và khả năng của chúng tôi. Nhưng thật ra ông không ngờ là chúng tôi đă "ma giáo" đến Ty Điền Địa mượn họa đồ của thị xă và vẽ lại.

Một buổi đẹp trời, ông đưa chúng tôi lên chiếc canô của khu để viếng các rừng đước và rừng tràm. 

Chúng tôi háo lức tiến vào các khu rừng nằm rất sâu, xa lắc xa lơ. Đến buổi chiều chúng tôi ghé lại hạt Thủy Lâm Đầm Dơi, các viên chức ở đó cho biết, là chúng tôi quá bạo, v́ những khu rừng chúng tôi đi qua không có an ninh. Sau khi rời Quản Long, chúng tôi dùng tàu đi xuống Hạt Thủy Lâm Năm Căn. Vị Hạt Trưởng sở tại là ông Huỳnh văn Tư, nhạc phụ của anh Lê Viết Dự, Thủy Lâm khóa I. Trong thời gian hai tuần ở Năm Căn, ông đưa chúng tôi đi viếng các hợp tác xă làm than đước, các rừng đước và rừng tràm lân cận. Cái cảnh sông rạch chằng chịt, bao la, và cuộc sống sung túc của miền Nam làm tôi chạnh ḷng

KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

nhớ tới quê hương "cày lên sỏi đá" của các tỉnh miền Trung.

Hôm nay sau hơn 38 năm trời, trải bao biến chuyển của thời cuộc, có những người mà tôi nhắc trong hồi kư này đă vĩnh viễn ra đi, những kẻ c̣n sống th́ phiêu bạt khắp bốn phương trời. Trong nhóm tập sự chúng tôi -Trị, Tổng và Vũ- tôi có gặp Hoàng Tổng nhiều lần lúc c̣n ở quê nhà cũng như ở Mỹ. Riêng đối với Trị, lần cuối cùng tôi gặp là rạng ngày 30/4/1975, tại ngoại vi Ṭa Đại sứ Mỹ,

 sau khi các trực thăng Mỹ đă lạnh lùng rời bỏ chúng ta. Tôi mong rằng hồi kư này sẽ nhắc lại nhữngkỷ niệm vui buồn mà chúng ta đă cùng nhau chia sẻ suốt sáu tháng trời tập sự. Tuy ngaỳ nay ba đứa chúng tôi đều phiêu bạt bên này, xin nhận miếng đất tạm dung này làm quê hương, nhưng chắc không khỏi ngậm ngùi nhớ đến Mẹ Việt Nam. 

Trong phút chạnh ḷng tôi bỗng nhớ đến hai câu thơ của Thôi Hiệu: mà nhà thơ nữ Huệ Thu đă dịch ra như sau:

"Một giờ một phút trôi qua

Nỗi đau nhói dạ của ta hay người?

Quê hương ngó lại xa vời

Câu thơ tống biệt ngậm ngùi bao lâu?"

Gia Nă Đại

Đầu Xuân 1997.


ÂM HƯỞNG BLAO

Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay