Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay

 

Blao-Huế

 


 Đồng Sĩ Quế

Kỷ niệm đầu tiên mà mình ghi nhận được tại trường là đêm văn nghệ chia tay nghỉ Tết cuối năm Bính Thân 1957. Mình tham gia vở hài kịch "Thằng Ngọng và Thằng Điếc". Mình là Ngọng đối đáp với thằng điếc Châu Văn Hạnh. Nếu không có "thông dịch viên" Nguyễn văn Kiểm thêm thắt dí dỏm thì cũng kém phần hào hứng. Kiểm đã tinh nghịch lồng vào những chuỗi từ chuyên môn vừa học được của quý thầy Vũ ngọc Tân, 

Trương đình Phú, Lê văn Ký, qua các môn học tổng quát về bệnh gia súc,Thổ nhưỡng và Lâm học, khiến quý thầy không thể nín cười. Xuất sắc nhất là Châu văn Hạnh, mỗi lần xuất khẩu là ai nấy đều ôm bụng, thật đáng tôn vinh là một danh hài.

Người bạn ở chung phòng khó quên là Nguyễn Văn Hành, tính đôn hậu dễ mến. Hành học rất chăm, mê đàn và chuyên cần khổ luyện võ nghệ để có 10 ngón tay sắt! Mỗi lần nhìn Hành liên hồi thọc 10 ngón tay vào cối muối sống trộn mã tiền để luyện chúng trở thành 10 mũi nhọn phòng thân, thật lợi hại. Trách chi bây giờ Hành đã là tiến sĩ, nhạc sĩ kiêm võ sĩ ở Mỹ.

 

Gia đình Anh Đồng Sĩ Quế 1997 ở Huế

 

 

Hai nhà thơ của quê hương Hàn Mạc Tử nữa là Bùi Tiên Khôi và Hoàng Vũ. Chẳng những học giỏi, thơ hay mà còn mang dáng dấp của một yểu điệu thục nữ nên đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng. Ngày nay sống trên đất Mỹ, khí hậu hiền hòa, thổ nghi phong phú chắc hai bạn cũng đã thay đổi nhiều! 


ÂM HƯỞNG BLAO

Riêng nhóm bạn 10 tên đồng hương của tôi gồm: Tuyến, Tuyên, Tùng, Thanh, Lịch, Quế, Tổng, Tuyển, Trường, Đàm thì làm sao quên được những kỷ niệm sâu sắc qua những chuyến đồng hành đầy gian nan vất vả trong những lần về quê nghỉ hè hoặc ăn Tết ! Nhớ lại những lần sang xe, đợi tàu, qua phà lội nước, những cuộc hành trình kéo dài 3, 4 ngày ăn đường ngủ trọ vất vả thế mà chúng tôi vẫn hăng hái tham gia, không bỏ sót một chuyến nào, phải chăng vì tình quê hương 

thúc dục và quyến luyến gia đình quá nặng của thời niên thiếu?

 

Tôi nhớ mãi cái đêm đầu tiên ngủ trọ tại Quảng Ngãi. Cả nhóm nghịch ngợm lên xe ngựa du ngoạn một vòng quanh thị xã đổ nát của thời hậu chiến. Suốt lộ trình, cả nhóm vui miệng reo hò, vỗ đàn đánh nhịp khiến dân địa phương lầm tưởng là có đoàn văn công lưu diễn, nên tối ấy có một số trẻ tò mò đã đến xem hụt.

 

Hai bạn thân nhất của tôi là Tổng và Lịch. Tôi và Tổng cùng chung cảnh ngộ từ ngày đầu tiên bỡ ngỡ đặt chân xuống đất Saigon.

 

Sau gần 4 tiếng đồng hồ vượt không gian mưa bão trên chiếc phi cơ Air VN 3 máy, chúng tôi hạ cánh xuống phi trường Tân sơn Nhứt với tai ù, đầu choáng cùng tâm trạng lo lắng bồi hồi. Sau khi lên xe car về hãng nhận hành lý, chúng tôi thuê xích lô máy chạy về Chợ Lớn tìm nhà bà con ở đường Nguyễn Thiện Thuật khu Bàn cờ. Tôi rủ Tổng cùng về ở lại với tôi cho đỡ bơ vơ lạc lõng!

 

Đây là nhà người em họ của tôi: Ông Đồng sĩ Nga, cựu tỉnh trưởng Thừa Thiên đã đổi vào đây làmgiảng huấn trường Công Binh. Tuy bà con nhưng chúng tôi chưa hề gặp nhau lần nào cả nên cảm thấy xa lạ. Tôi và Tổng đến gặp lúc hai ông bà đi làm vắng. Chúng tôi ngồi đợi trước cửa và mệt quá nên ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Cho đến lúc ông bà đi làm về chúng tôi mới được đánh thức và mời vào nhà. Sau vài câu chào hỏi và tự giới thiệu, chúng tôi được ông bà ân cần niềm nở đón tiếp. Cơm tối xong ông đích thân chở chúng tôi đi dạo một vòng quanh thành phố Saigon và Chợlớn rồi sáng hôm sau đưa chúng tôi đến Bộ

Canh Nông 59 Nguyễn Bỉnh Khiêm để theo xe Cosara lên trường NLM Blao khai giảng. Ngày nay ông bà Nga đã qua đời song chúng tôi vẫn nhớ mãi.

Thế rồi từ đó chúng tôi bước vào một cuộc đời mới,một đời sống tập thể của sinh viên nội trú. Cùng ăn ngủ, cùng học hành, cùng sinh hoạt, xem bạn bè như anh em ruột thịt, thầy cô như cha mẹ, cùng nhau chia ngọt, xẻ bùi, vui buồn có nhau, chung sống dưới một mái trường từ buổi hoang sơ tiện nghi thiếu thốn, nhưng cảnh trí đầy thơ mộng và tình nghĩa dạt dào. Tuy 40 năm qua rồi nhưng trong tâm trí vẫn còn khắc ghi rõ nét. Mỗi lần được đọc lại những trang hồi ký của các bạn tôi vô cùng nhớ thương và nuối tiếc!

 

Trở lại với đời tư thì định mệnh đã an bài cho tôi một số phận khá long đong qua một quãng đời nhiều sóng gió. Nhưng cũng cám ơn Trời Phật đã ban cho tôi một sức khỏe dồi dào, một nghị lực bền vững, luôn biết an phận để thích nghi với mọi hoàn cảnh, không chán nản buông xuôi. Tôi đã 

 

nhìn đời với đôi mắt lạc quan, không coi đời là bể khổ hay một bãi chiến trường, mà đời là một bức tranh, trong đó buồn vui là màu sắc, thịnh suy là cảnh trí.

 

Buồn vui tô điểm sắc màu,

Thịnh suy cảnh trí thấp cao ngắn dài.

Cho nên buồn vui càng nhiều thì màu sắc càng đậm đà, thịnh suy càng lắm thì cảnh trí càng phong phú. Tôi đã tóm lược đời tôi qua bài thơ lục bát mà tôi đã gởi kỷ yếu hải ngoại. Tôi tán đồng quan điểm của Hoàng Tổng "Nếu tách rời cuộc đời của một con người ra khỏi biến động xã hội thì cuộc đời không còn ý nghĩa, vì con người là sản phẩm của xã hội". Cho nên đời tôi cũng không thể tách rời khỏi những biến động xã hội trong những thập niên qua mà cần phải thi vị hóa những lúc gian nan, thanh cao hóa những lúc khổ cực để bức tranh đời thêm ý nghĩa.


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay