Một Chuyến Đông Du

Tại Bắc Mỹ

Nguyễn Hữu Khiêm

Ghi lại vào tháng 5/97

Từ Calgary thuộc miền Tây Canada, tôi và vợ vừa làm một chuyến Đông du để "nghiên cứu" đề án họp mặt Khóa II NLM năm 1999 tại New York của anh Nguyễn Văn Kiểm, người đã hăng hái đứng ra nhận trọng trách này trong kỳ họp mặt của Khóa II năm 1996 vừa qua tại San Diego.

Sau 4 giờ bay, chiếc máy bay phản lực 747 hạ cánh tại phi trường Toronto, chúng tôi liền mướn một chiếc xe hơi nhỏ và trực chỉ biên giới Hoa Kỳ. Xa lộ QEW chạy vòng theo Biển hồ Ontario có đủ loại xe cộ chạy đông như mắc cửi. Chỉ một giờ sau tôi đã tới thác nước vĩ đại Niagara nằm trên biên giới giữa Mỹ và Canada. Thác đúng là một biển nước vỡ bờ đổ xuống vực sâu; các bạn cứ nhân thác Cam Ly của Đà

Lạt lên 10.000 lần thì các bạn sẽ thấy thác Niagara to lớn như thế nào. Thủ tục vượt biên qua Mỹ rất mau chóng và giản dị: Viên chức di trú chỉ hỏi chúng tôi vài câu lấy lệ là đã ngoắt tay cho phép chúng tôi lên cầu biên giớùi. Chiếc cầu dài vài trăm mét, chính giữa treo cờ Liên Hiệp Quốc, hai bên là cờ Hoa Kỳ và cờ Canada. Nhìn cảnh này làm tôi nhớ lại lần ghé thăm cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải vào năm 1962: Hai bên bờ cũng có cờ Bắc Nam, cầu ngắùn ngủn mà ngàn trùng xa cách. Vừa ra khỏi thành phố địa đầu Buffalo để vào xa lộ 90 của tiểu bang New York là tôi bắt đầu phải nạp tiền đường Toll fee -Xử dụng đường sá ở đây luôn phải nạp tiền đường, giá biểu thay đổi từ vài chục xu tới vài đồng

tùy theo quãng đường đi xa hay gần. Cách biên giới khoảng 2 giờ lái xe là thành phố Rochester, và phía Nam thành phố là Thị xã Pittsford-, nơi anh Kiểm cư trú.

Thị xã là một khu rừng xanh mát bao quanh băøng những cánh đồng nhấp nhô màu nâu vừa cày sửa soạn đất. Chui vào khu rừng là các phố xá dọc ngang , và đi sâu vào các phố xá dọc ngang là những con đường vòng vèo như đường đi trong công viên Tao Đàn của Sàigon thủa nào. Nhà anh chị Kiểm to lắm, nằm trên một trong những đường vòng đó, mang tên Park Acre Dr. Nhà rợp bóng cây maples che phủ, viền quanh bởi những luống hoa muôn màu. Chính nơi đây anh chị Kiểm đã nuôi lớn năm cháu trai nay đều


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959 *


thành tài và đã đi làm ăn xa; cậu bác sĩ, cậu kỹ sư, bỏ lại hai ông bà già trong căn nhà 5 phòng ngủ trống rỗng. Nhờ cô cảnh sát duyên dáng chỉ đường cặn kẽ, chúng tôi tới ngay chóc căn nhà anh Kiểm. Tay bấm chuông mà lòng còn hoài nghi lo lắngï vì căn nhà lớn quá, không biết có phải là nhà của anh Kiểm không. Lòng hồi hộp phập phồng, ngó trộm vào khung cửa kính mà chỉ sợ nhìn thấy ông Mỹ Cao Bồi to tổ bố nào đó; may quá nhìn thấy ngay ông bạn già khòm lưng đeo kính cận ra mở cửa, tôi mừng như ông già sống lại! "À cái thằng này tài quá, sao kiếm được tới đây, sao mày không cho phôn tao, tao đợi phôn từ chiều đến giờ...". Thế là chúng tôi cười nói huyên thuyên. Anh nói muốn ở phòng nào thì ở, rồi anh đi pha rượu dọn cơm saün để chúng tôi tắm rửa xong là có cơm no rượu say liền tức khắc.

Anh Kiểm là người bạn Nông Lâm Mục đầu tiên của tôi. Tôi quen anh trước nhất vì cha mẹ chúng tôi đã ngẫu nhiên đặt tên cho tôi là Khiêm và cho anh là Kiểm, hai vần tên sát nhau nên khi thi vào Nông Lâm Mục chúng tôi được xếp ngồi cạnh nhau. Tôi không cho anh "cọp pi" bài thi màø cả hai chúng tôi cùng trúng tuyển trong số 824 người dự thí, anh đậu hạng nhất còn tôi

thùm thụp, đau muốn chết. Còn tôi thì cứ lì lợmthì hạng 32, gần bét ! Manh mối là như thế. Đến khi lên trường Blao xa lạ, tôi đeo dính lấy anh để dựa hơi của ông major. Anh lớn hơn tôi 2 tuổi trên giấy tờ và 5 tuổi trên thực tế, lại cùng là dân Băùc kỳ di cư, nên anh chiều tôi như một thằng em nhỏ. Chúng tôi ở cùng phòng ngủ tại trường Blao và tôi thấy anh hay thu dọn chiếc giường bề bộn của tôi. Chiều chiều chúng tôi đi phố Blao với nhau và anh còn tán cô Ngọc Lan ở số nhà 10 Blao giùm tôi nữa. (Hồi đó em còn nhỏ em chửa biết gì... nhưng em đã bắt đầu dậy thì và biết si gái đẹp!). Khi về Saigon tập sự thì chúng tôi không "cùng mí nhau" được nữa vì anh đi ngành Mục súc, còn tôi cho anh rơi để đi "ngành chị Giàu" thuộc Ban Canh Nông; tuy thế những ngày nghỉ tôi vẫn tới nhà anh trong cư xá Sĩ Quan Hải Quân, và có lần tôi nằng nặc vòi được chiếc áo chemise chim cò của anh do người anh sĩ quan hải quân mua từ Hawaii về để tôi có đồ lạ mặc lấy le với chị Ngọc Giàu! Đến khi ra trường, anh làm ở Nha Học vụ còn tôi làm ở Sở Thống Kê, vậy mà anh cũng xử dụng cái quyền đặt để cuả anh, gài tôi vào dậy môn Phương pháp Thống kê cho các khóa Kiểm sự học tại lớp học cuả Bác sĩ Tân trong Sở Thú Saigon, vì thế tôi mới quen Ngọc Bích khóa 8 NLM nay là vợ tôi, chúng tôi cùng tới

thăm anh ngày hôm nay tại Miền Đông Bắc Mỹ cách xa Việt Nam hàng vạn dậm.

Chúng tôi tắm rửa xong xuôi là ba anh em cơm no rượu say nói lại chuyện cũ vui như chim hừng đông , chị Kiểm đi làm ca đêm tại hãng sản xuất tròng mắt kiếng đến khuya mới về. Bỗng dưng chuông điện thoại reo vang, tôi nhanh nhẩu nói: "Chăùc chị ấy về". Anh Kiểm giải thích: "12 giờ bà ấy mới về". Tôi tuyên bố ngay: "Vậy đúng là thủ quỹ Thủy Vân rồi! ". Anh Kiểm bắt phôn và đúng là Dương Thủy Vân gọi từ Everett. Có thần giao cách cảm quái nhái gì đâu, chẳng qua là Vân đã gọi cho tôi tại Calgary để nhắc đóng tiền in cuốn kỷ yếu; tôi khất là đi thăm Kiểm rồi khi về sẽ xin đóng. Nay cô nàng phôn Kiểm là điều dễ hiểu: Vừa check xem thằng Khiêm có nói láo hay không, vừa nhắc tên Kiểm nạp tiền toll fee; cô thủ quỹ thông minh và tận tụy với chức năng của mình đã bắn một mũi tên mà giết được 2 con chim trong đầu có sạn ! Nghe thấy mấy con chim đang gáy vui quá xá, cô thủ quỹ cũng bèn gáy theo gần tiếng đồng hồ, tốn bao nhiêu tiền buôn bán tiệm để trả cho Phone Company! Mãi tới khuya chị Kiểm mới đi làm về, hai bên chủ khách lạ nước lạ cái phần thì chị cũng mệt vì mới đi làm về, còn bọn tôi cũng mệt vì đi xe suốt ngày, tất


* ÂM HƯỞNG BLAO


cả đều đồng tình đi ngủ để lấy lại sức cho ngày mai.

Sáng sớm hôm sau tôi nghe tiếng léo xéo của chị Kiểm nói với vợ tôi: "Thấy rõ ràng anh Khiêm ngủ ở phòng bìa, nên mình thản nhiên vào phòng giữa để lấy quần áo; đến khi xong mới nhìn thấy chị Bích nằm chình ình ở trên giường". Nghe thấy chuyện quần aó ở trong phòng, tôi nhớ ngay ra Phạm Mạnh Tuyên, người bạn ở chung phòng, đẹp trai ngang tàng và ngỗ nghịch. Phòng ngủ của chúng tôi ở trên Blao có 4 đứa: Tôi, Kiểm, Tuyên và Dũng cóc. Dũng cóc thì nó vắn số, thôi để cho Dũng yên nghỉ giấc ngủ ngàn thu. Bây giờ tôi nhắc lại chuyện của Phạm Mạnh Tuyên, em ruột của nhạc sĩ kiêm giáo sư Phạm Mạnh Cương. Hồi đó vào năm 1957 có phái đòan của trường Nông Lâm Súc Cần Thơ lên trường Blao trình diễn văn nghệ giao hữu, trong phái đoàn có mấy em gái Hậu Giang tròn trĩnh xinh xắn đáo để. Tới khi vãn hát vào khoảng nửa đêm, Tuyên khều tay tôi ra núp trong bóng tối ngoài vừơn cam để nhìn trộm vào các khung cửa kính lớn của dãy nhà ngủ A. Mỗi lần một mảnh xiêm y được gỡ ra phơi bày cái thân hình 

nõn nà của các cô gái đồng quê là mỗi lần Tuyên đấm vào lưng tôi  thùm thụp, đau muốn chết. Còn tôi thì cứ lì lợm chịu đấm ăn xôi, đứng ngay râu nhìn các Thần Vệ Nữ khoả thân, thờ người ra như Từ Hải chết đứng trong chuyện 

tươi tắn vui vẻ cởi mở và dễ dãi. Cũng vì cái dễ dãi của chị nên người ta đã aüüm nhẹ của chị mấy chục ngàn đô trong một vụ hùn hạp để mở tiệm ăn Tàu tại Rochester, mặc dù chị đã thẩy thẩy tinh thông các ngón kinh doanh học hỏi được tại Trường Quốc 

Anh chị Nguyễn Hữu Khiêm, và anh chị Nguyễn Văn Kiểm

Kim Vân Kiều! Cũng may là hai thằng tôi không kéo theo ông phó  cận Kiểm, ông ấy đứng đó mà rớt đôi mục kỉnh dày cả phân tây thì chắc hai mắt ông ấy phải lòi ra to như mắt con cá vàng!

Chị Kiểm và vợ tôi không hiểu lục đục thay đổi xiêm y cho nhau, ngắm nghía nhau khen nhau như thế nào mà khi bước ra khỏi phòng là đã trở thành đôi bạn thân. Đàn bà họ thế đấy: Cứ thích làm đẹp cho nhau và khen nhau phứa phựa là họ trở thành bạn chí thân, thí dụ như vợ tôi chăûng hạn. Riêng chị Kiểm thì tôi thấy chị rất 

Gia Thương Mại Saigon. Có lẽ vì thế mà bây giờ chị rất ham đi làm overtime, không phải để gỡ lại vốn, mà để mua thêm hột xoàn đeo lóng lánh đầy tay cho bõ tức! Ở sở làm thì chị hay thắc mắc không biết anh Kiểm chiều chiều ở nhà một mình đang làm gì... Thưa anh ở nhà anh chơi với mèo! Con mèo Xiêm luẩn quẩn bên anh chán rồi đi ra ngoài dạo chơi trên chiếc sàn deck rộng mênh mông, chứa được vài chục người ngồi ăn tiệc thoải mái. Mèo leo lên hòn non bộ lấy chân khều mấy con cá vàng đang lội tung


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959 *


tăng trong bể nước. Nó mơ màng đứng ngắm khu rừng maples cao vút ở sau nhà. Nó bước quanh hồ tắm nước nóng nhiều vòng như để exercise cho bớt mập. Chán rồi nó gõ cửa đòi vào trong nhà với anh. Còn anh thì đứng kêu phone long distance để than thở cho mối tình tưởng tượng với nàng Kiều Thu nào đó tại Blao cuả 40 năm về trước!

Hai giờ trưa chị Kiểm phải đi làm, anh Kiểm chở chúng tôi trên chiếc xe Toyota Land Cruiser 45.000 đô do hãng baỏ hiểm mới đền cho anh (Chiếc xe trước cuả anh bị đánh cắp khi anh lên thăm cậu con đang tùng sự tại Trung tâm Y khoa của Đại học ở New York City). Chiếc xe màu đen, có ghế da và đủ mọi options hình như quá dư mã lực để chỉ chở ba đứa ốm nhom chúng tôi, "người nước ngoài gốc Annam mít", lên hồ Finger Lake ngoạn cảnh. Hồ rộng hơn hồ Tây Hànội nhiều lần. Lênh đênh trên mặt nước có những du thuyền chở những người đi tìm chút thơ thới sau một tuần vất vả vật lộn với cuộc sống vật chất quá cao tại Mỹ. Chúng tôi đứng trên bờ cỏ ngắm hồ nước bao la, lác đác đây đó những đảo cây xanh. Mấy con vịt trời lông xanh biếc kêu quàng quạc tới tấn công đuổi chúng tôi đi để khỏi làm phiền vợ chúng đang lim dim đôi mắt nằm ấp trứng trong ổ cỏ.

Sáng ngày hôm sau anh chị Kiểm chở chúng tôi đi Hội chợ Hoa Lilac và tiện đường ghé thăm Đài Chiến sĩ Mỹ trận vong tại Việt Nam dựng trên một ngọn đồi thấp. Ngọn đồi là kỳ đài, chân đồi là bức tượng đồng một chiến binh Mỹ đứng úp mặt vào bức tường đen. Nối liền chân đồi và ngọn đồi là dải đừơng vòng, phía bên phải cắm dọc theo đường đi trên 300 cột bia bằng inox, phía bên trái là những trang sử bằng đồng ghi lại diễn tiến cuả chiến tranh Việt Nam. Tôi lẩm nhẩm đọc: 1965, Mỹ đem thêm vào VN 125.000 thủy quân lục chiến...; quay sang phải tôi đọc trên những cột bia thấy ghi: Ralph Steven, học sinh trường Hillston, sinh năm 1944, tử 1965; Rob Wilson, học sinh trường Riverside, sinh 1945, tử 1965... Tôi tưởng ra những cậu học sinh vừa học xong trung học, tuổi mới đôi mươi của thị xã xinh đẹp hiền hòa này, đã đi nửa vòng trái đất tới phương trời Việt Nam xa lạ và tang tóc để chết ở đó. Hôm nay tôi, một người Việt, đứng tại đây biết nói năng gì! Lòng tôi xúc động, mắt tôi ứơt lúc nào tôi cũng chẳng biết...

Ngày kế tiếp chúng tôi dự tính đi Montreal và Ottawa bằng chiếc xe Land Cruiser mới chạy có 2,000 miles cuả anh Kiểm , nhưng xếp cuả chị Kiểm không cho chị nghỉ nên chương trình

phải hủy. Tôi và vợ bèn từ giã anh chị để lên đường đi Hoa Thịnh Đốn và Nữu Ước để "nghiên cứu" phần hai trong dự án.

Lái xe 6 tiếng đồng hồ trực chỉ phía Nam , đi ngang qua các tiểu bang Pennsylvania có thành phố Harrisburg và vùng trận địa Gettyburg nổi tiếng hồi Nam Bắc Mỹ phân tranh, qua tiểu bang Maryland có thành phố Baltimore, chúng tôi tới vùng ngoại ô Hoa Thịnh Đốn xanh mát những khu rừng thấp chi chít cây maples. Chúng tôi tá túc tại nhà người chị vợ, một ngôi nhà tráng lệ mới ba tuổi già, để dự lễ ra trường và đám cưới cuả các cháu . Ngày ngày tôi đưa vợ đi coi Toà Bạch ốc, Quốc Hội, các đài kỷ niệm Washington,Lincoln, Jefferson, nghĩa trang Arlington và các viện bảo tàng; những nơi này tôi đã viếng cách đây 30 năm nhưng thấy bên ngoài chẳng có gì thay đổi. Có hai thay đổi tôi phải nêu ra là:

1. Cách đây 30 năm, trong 2 tuần lễ đầu chờ ngày tựu trường tại Iowa State University, tôi được thong thả rong chơi tại Hoa Thịnh Đốn. Ngày ngày thả bộ dọc theo Đại lộ Constitution để viếng các viện bảo tàng và các cơ sở cuả chính phủ tụ tập tại đây, tôi cảm thấy khu này nhỏ. Hôm nay cũng đi bộ trên đường xưa lối cũ, tôi nhận ra là đừơng Constitu


* ÂM HƯỞNG BLAO


Chị Bích tại thác Niagara (tức bà Nguyễn Hữu Khiêm)

tion dài hun hút và khu này quá lớn rộng để cuốc bộ! Tôi thấy tội nghiệp cho thằng tôi 30 năm xưa - Những người được học bổng đi Mỹ nói chung - đã xả thân cuốc bộ, phần thì không biết đi xe, phần thì đồng đô la đối với mình ở thời điểm đó quá lớn (Một đô là mấy trăm đồng, chắt chiu tháng tháng đem về VN) nên tôi đã cố gắng chắt chiu hết mức. Bây giờ tôi đã là "người nước ngoài", đã bị "hủ hoá" nên cái gì tôi cũng thấy khó!

2. Tôi vào USDA (Bộ Canh Nông Hoa Kỳ ) vẫn tòa nhà xưa để tìm lại những người cũ: Những người cũ tên Gardner, Kelly, Bradley... đã vang bóng một thời. Cô thư ký sau khi đã tận tình tìm kiếm vô hiệu quả cho tôi, hỏi lại tôi với hi vọng cuối: " Vậy thì lần cuối ông gập các

người này là vào năm nào?". Tôi trả lời năm 1970. Cô ta mỉm cười: "Năm đó tôi chưa sinh ra đời! ". Tôi cảm thấy thấm thiá câu nói của Kissinger: Lịch sử đã sang trang! Còn gì nữa mà đập gương xưa tìm bóng. Tôi bỗng nghĩ tới trường Blao và bạn Blao: 40 năm rồi nhưng tất cả vẫn còn đó. Một niềm hạnh phúc nhẹ nhàng xoa dịu hồn tôi... Tôi bèn đi kiếm nhà anh Đào Văn Thanh ở đường Cây Xồi Già thuộc vùng Springfield.

Anh chị Thanh cùng đại gia đình ở trong một căn nhà lớn rất là đầm ấm. Ngoài thì giờ đi làm dóp Part-time, anh bỏ hết thời gian còn lại vào việc dựng các cuốn video về Kỷ niệm 40 năm tại trừơng Blao. Chị và các cháu gái âu yếm đặt cho anh thêm một caí tên là "Oâng 40 năm".

Anh chị và các cháu dành cho chúng tôi 2 đêm 1 ngày thù tiếp thực hậu hĩ ân cần. Cháu gái kỹ sư còn thân ái giữ chúng tôi ở lại tới tháng 7 để dự đám cưới của cháu. Thực là một gia đình sống động vui vẻ hạnh phúc. Trái hẳn với hồi tôi vào Ty Canh Nông tại tỉnh địa đầu Quảng Trị thăm anh cách nay gần 40 năm: Một Ty Canh Nông lạnh lẽo tại vùng sỏi đá khô cằn. Chúng tôi ôn lại tất cả những chuyện năm xưa trong hai buổi tối mà vẫn chưa hết. Thôi! Xin hẹn lại anh chị trong lần hội ngộ tới.

Đề án chót mà chúng tôi phải "nghiên cứu" là đi New York City để thăm bà Nữ Thần Tự Do. Ba ngày nghỉ dài cuối tuần và trời mưa rả rích mà lưu lượng xe cộ trên các tuyến đường cũng chẳng giảm. Chúng tôi đi 5 tiếng


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959 *


xuyên qua các thành phố Baltimore, Wilmington, Philadelphia, Treton thì tới New York City. Tôi trực chỉ tới bến phà tại Jersey City để đáp tàu thủy tới coi tượng Nữ Thần Tự Do. Trời mưa

chục đô tiền đường rồi đấy!), chạy xe chui xuống đường hầm dài Holland Tunnel nằm dưới lòng biển để đi lên khu Manhattan sầm uất nhất New York. Đúng là New York! New York! Đường 

đi như mạng nhện. Những ngôi nhà chọc trời nhìn tôi như những ông khổng lồ nhìn con kiến nhỏ. Đúng là ở đây con người làm việc trên không... làm bằng chứng. Bụng thì đói, mắt thì mờ, người ngợm 

nặng hạt và màn sương mù từ không trung càng ngày càng hạ thấp. Trên bến phà chi chít những chiếc dù chống mưa đủ màu của những khách viễn phương. Họ đã lặn lội ngàn dậm tới đây để mong coi tận mắt một chút gì gọi là "Tự Do", nhưng hôm nay Thượng Đế đã không chiều lòng bọn người khao khát này: Vì điều kiện thời tiết, 

 

Nguyễn Hữu Khiêm trở lại Bộ Canh Nông ở D.C.

tất cả các chuyến tàu ra khơi tạm đình chỉ! Mọi người nhao nhao hỏi "Thế bao giờ tàu chạy trở lại?", và câu trả lời là "Chỉ có Trời biết!", Only God knows! Dieu seul le sait!...Tôi tự an ủi: Ít nhất thì hôm nay mình cũng thấy tận mắt quyền năng của Thượng Đế. Trời cho sao thì mình được vậy, đừng buồn đừng trách số phận hẩm hiu, đừng than vãn "Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu! " Và cũng ngày hôm nay tôi biết được: đi tìm "Cái gì có chữ Tự Do" không phải là chuyện dễ làm!

Tôi buồn bã đóng tiền lộ phí toll fee (Từ khi vào New York tốn hết mấy 

đi như mạng nhện. Những ngôi nhà chọc trời nhìn tôi như những ông khổng lồ nhìn con kiến nhỏ. Đúng là ở đây con người làm việc trên khôngtrung , giao thông trong lòng đất. Đang ngơ ngáo dáo dác thì tôi bị một ông Taxi xắn ngang mũi xe, stop lại rồi ung dung mở cửa xe đón khách, chẳng coi tôi ra một kí lô nào. Sự tự do ăn hiếp tôi cuả các ông Taxi cứ tái diễn dài dài trên mọi nẻo đường New York! Tôi bèn lần mò tìm tới Trụ sở Liên Hiệp Quốc, không phải để khiếu nại..., mà để coi vớt vát cho bõ một chuyến đi xem hụt Nữ Thần Tự Do. Trụ sở LHQ đóng cửa! Tôi chẳng kể gì tới mưa to gió lớn, che dù đứng cạnh toà bin đinh màu xanh chụp một "bô" để

thì tả tơi, tôi tìm tới phố Tàu để mong tìm được chút gì quen thuộc. Khu này còn dơ hơn Chợ Cầu Oâng Lãnh Saigon. Rác rưởi ngập ngụa, quán hàng ngổn ngang. May quá tìm đươc một hàng bánh mì mang tên Kinh Đôi - Đúng tủ là đồng bào ta. Nhìn ra bảng số xe cuả tôi cấp ở Canada, cô hàng trố mắt nhìn tôi tội nghiệp: "Chèng ơi! từ trển mà xuống đây mua bánh mì!" Cô ta nghĩ tình đồng hương, thương hại cho thêm hai cục xíu mại extra và một ly chè đậu. Có lẽ cô ta nghĩ tôi mọi rợ lắm thì phải. Cô có biết đâu là cách đây 30 năm tôi đã mài đũng quần trên ghế trường đaị học tại xứ này, còn cô thì chắc hồi đó đang chạy ghe đuôi tôm ở khu Kinh Đôi thuộc


* ÂM HƯỞNG BLAO


quận Hóc Bò Tó nào đó tại Việt Nam! Vậy mà bây giờ cô là Chủ nhân tại thành phố New York lớn nhất thế giới đứng bố thí cho tôi một kẻ qua đường!. Tôi chép miệng nói một mình "Đúng là thương hải biến vi tang điền... Biển cả biến thành ruộng dâu ".

Bụng no sức lực hồi phục, chúng tôi đi tìm căn nhà chọc trời Empire State Building cổ kính có trên trăm từng lầu. May quá căn nhà mở cửa cho du khách. Tôi đi gửi xe hết 9 đô một giờ và chạy bộ hết 4 block đường để tới xem Empire State Building cho hả giận! Tầng dưới cùng thì cũng giống như bất cứ bin đinh nào trong mọi thành phố, chỉ khác là có những đoàn người đứng thành hàng dài để chờ vào thang máy. Thang máy lớn bằng căn phòng master bedroom có một đồng hồ chữ đỏ nhẩy số cho mình biết đang ở tầng thứ bao nhiêu. Những con số nhẩy quá mau 10... 30... 50... 100... làm tôi nghi ngờ: dám là họ xạo mình qua!ù. Đến khi ra khỏi thang máy tôi mới tin tưởng là thực. Trời đã khuya, mưa và tối đen trên không trung, từ tầng thứ 100 nhìn xuống đất qua khung cưả kính tôi thấy những cụm mây trắng bay ngang, Mặt đất là một vùng đốm sáng khi tỏ khi mờ. Xa xa là vùng biển đen le lói một điểm sáng mà người ta nói đó là cây đuốc trên tay Nữ Thần Tự Do...

 

Chúng tôi rời New York giữa đêm  mưa vì không kham nổi tiền Hotel trung bình 100 đô la một đêm cho một người. Về tới Hoa Thịnh Đốn an tòan khi trời hừng sáng, chúng tôi ngủ li bì suốt một ngày dài, mơ thấy những giấc mộng hãi hùng về Nữu Ước. Còn hai ngày chót trong chuyến Mỹ du, chúng tôi trở lại thị xã hiền hòa của anh Kiểm để nghỉ ngơi lấy lại sức lực trước khi hồi hương... Canada.

Xin tạm biệt và xin hẹn sẽ trở lại vào năm 1999...

Xuyên qua chuyến viễn du , tôi có mấy ý nghĩ sau:

1. Cuộc họp mặt cuả khoá II NLM năm 1999 sẽ rất đầy đủ, thích thú và chẳng có gì tốn kém nếu chỉ gói gọn trong vài ngày tại thị xã hiền hòa của anh chị Kiểm. Anh Kiểm là người kính thầy mến bạn, chị Kiểm là người dễ dãi vui vẻ - Đó là điểm then chốt mà chúng ta đã may mắn có saün. Tiếp đó, nhà anh Kiểm có đủ tiện nghi để chứa tất cả chúng ta, vừa họp mặt vừa tá túc (Chỉ có 3 toilets nhưng anh Kiểm có thể mướn thêm để đặt tại khu rừng sau nhà cho chúng ta sử dụng) , khỏi phải mướn hall và tốn thì giờ di chuyển như kỳ họp tại San Diego vừa qua.

2. Chúng ta có thể đi chơi tại Niagara Falls (2 tiếng lái xe), mướn du thuyền một ngày để cả khóa lênh đênh trên mặt hồ Finger Lake (không có gì mắc) - Đây đều là thắng cảnh nổi tiếng nên chắc chắn sẽ làm vừa lòng mọi người.

3. Họp mặt gặp lại cố tri là chuyện chính, nếu ai muốn phiêu lưu mạo hiểm đi Ottawa, Washington D.C., New York như tôi vừa đi thì ... xin mời đi một mình! Tự do mà, nhưng tốn kém và nguy hiểm đấy.

4. Nên nhớ đi tìm Nữ thần tự do rất là khó, mà có thấy được tự do hay không là do ý trời! Trời cho sao thì mình được vậy. Đừng ham hố liều mạng! Hãy vui vẻ với hiện tại... đó chính là chân lý cuả Hạnh Phúc.

Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,

Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn!

Thấm nhuần triết lý an phận biết nhàn biết đủ của cổ nhân nên tôi đã xin nghỉ hưu khi tuổi vừa đúng 55.

 


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959 *

Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay