Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay

Trường Xưa

 

 Đào Văn Thanh

Hôm nay, chúng ta trong số những người con của khóa 2 đang lưu lạc và sống rải rác khắp Bắc Mỹ, dù khó khăn và cách xa hàng vạn dặm, cũng tập trung về nam Cali, để chúng ta gặp nhau đánh dấu kỷ niệm 40 năm qua cùng hàn huyên tâm sự, cùng nhắc nhở nhau về Thầy, về Bạn cũ và Trường xưa. Tất cả anh chị em chúng ta, dù còn ở lại trên quê hương, hay đang sống rải rác trên mọi nẻo đường của quê hương xứ lạ quê người. Chúng ta chắc sẽ không sao tránh khỏi bao nỗi vui mừng khi gặp lại nhau, hoặc nhìn nhau qua hình ảnh thân thương về Thầy, về Bạn, về Trường, cùng những bùi ngùi luyến tiếc, nhớ về nhửng kỷ niệm trên những năm dài chung học dưới mái trường Nông Lâm Mục Blao thân yêu:

 

Nhớ về chúng tôi  

những hoa nông nghiệp mãn khai

dâng đời nguyên vẹn 

bốn mươi năm không hẹn gặp lại trên xứ lạ quê người 

ìm nhau trên đôi mắt buồn 

Vùng trời Bảo Lộc nắng vàng tuôn

(Huy Lực)

Mới ngày nào đây, khi anh chị em chúng mình, lần đầu tiên bước chân lên trường Nông Lâm Mục Blao ở Cao Nguyên Đồng Nai Thượng. Tuổi đời phần đông trên dưới đôi mươi, những mái tóc còn xanh cứng, gân đang săn, thớ thịt đang căng da, đôi mắt còn tinh anh, chứa chan bao niềm hy vọng của tuổi trẻ. Thế mà nay, thấm thoắt đã bốn thập niên trôi qua. Phần đông, nay đã trên lục tuần. Tuổi của "Tri Thiên Mệnh". Đa số đã có cháu nội, ngoại đầy đàn. Những vết hằn trên gương mặt và vầng trán đã ăn sâu với thời gian.

 

Ngoảnh nhìn lại, thời gian qua nhanh, nhìn thầy và bạn cũ đã vĩnh viễn ra đi, một số thầy bạn đang còn ở khắp bốn phương trời, mà chúng ta không còn liên lạc được, hoặc đang an phận với cuộc đời dâu bể, ở một góc trời nào đó, hay đang còn ở lại quê hương. Tất cả chúng ta, dù đang ở hải ngoại hay đang ở quê nhà cũng đều có tâm trạng chung là nhớ trường, nhớ thầy, nhớ bạn. Kỷ niệm nhớ về Thầy, về Bạn, về Trường thì nhiều nhưng hơn bốn mươi năm qua, chúng ta đã phải trải qua những ngày tháng cơ cực cả tinh thần lẫn vật chất.


ÂM HƯỞNG BLAO

Trong lúc tâm hồn đang luộm thuộm, với cuộc sống bận rộn hàng ngày, ở một nước mà kinh tế, khoa học phát triển chạy đua với thời gian, chúng ta đôi khi không đủ cho giấc ngủ! Đầu nhớ viết thành đuôi, đuôi thành đầu. Mấy chục năm qua, lo chạy và tìm cái sống, tâm hồn đâu còn thảnh thơi để viết lách như ngày xưa.

 

Còn nhớ vào khoảng giữa thu năm 1956. Người trước kẻ sau, nhận giấy trúng tuyển nhập học vào Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao, do Nha Học Vụ Kỹ Thuật Nông Lâm Súc thuộc Bộ Canh Nông. Trên chuyến xe của Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, từ Saigon-Blao, một số bạn chúng ta, bạn đến trước, đón bạn đến sau, cùng một số bạn sinh viên Khóa 1. Xe dừng bánh đã có một số bạn, kẻ chạy người đi, vồn vã xách hộ hành lý, tay bắt mặt mừng. Tuy chỉ mới gặp nhau lần đầu, mà dường như là đã quen nhau tù lâu. Anh Bắc, chị Nam, tôi Trung.

 

Từ Saigon đi Blao, xe phải chạy qua một con đường dài trên 180km, nằm trên Quốc lộ 20, Blao nối liền Saigon Đalạt, xe chạy qua một số khu vực đông cư dân như Dầu dây, Gia Kiệm, Gia Tân, Túc Trưng, Định quán, Phương Lâm, Là Ngà và những khu đồn điền cao su, cà phê của kiềâu dân Pháp, còn hầu hết xe phải chạy qua những khu rừng dài, hoặc đồi núi và đèo chuối và đèo Blao. Đèo Blao hẹp, dốc cao, cheo leo, nhiều quanh co, nguy hiểm, đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống là những vực thẳm hàng trăm thước. Dọc theo đèo từng toán người Thượng đi rải rác, mang gùi và chiếc xà gạc trên vai, thân đóng khố, đầu đội trời, chân đạp đất. Blao nằm trên cao độ 750m của Cao Nguyên Đồng Nai Thượng, cách Đalạt 110km và Saigon 187km, nên khí hậu ở đây tương đối ôn hòa dễ chịu.  Từ thủ đô Saigon nóng bức, ồn ào và náo nhiệt, đến Blao, khí hậu rất mát mẻ và yên lặng, nhất là đi qua khỏi suối Đa Hòa đến cầu Đại Lào, các đồn điền Trà và Cà phê trải rộng theo các sườn đồi. Dù vậy, phần đông anh em chúng ta cũng đã thấm mệt, vì trải qua con đường đi dài, khí hậu thay đổi đột ngột. 

Đào Văn Thanh, Nguyễn Văn Ly,

và Nguyễn Xuân Trung

 

 

Bù lại khi chúng ta bước chân ra khỏi xe, đã không ngớt các bạn hỏi thăm nhau.

 

Anh ở Tây Đô, miền đồng bằng sông Hậu, ruộng cò bay thẳng cánh, chị ở Saigon hòn ngọc Viễn Đông, bạn ở Cao Nguyên với rừng thông và rừng già bát ngát. Chúng tôi ở miền Trung, với quê hương miền cát trắng, với những vườn dừa rợp bóng, với đất cày lên sỏi đá, người dân lam lũ, hai sương một nắng. Một số bạn quê tận miền Bắc. Chúng ta là những đứa con khắp cùng của đất nước, qui tụ về đây với hơn 50 mái đầu xanh. Những ngày đầu, ḷng chúng ta rộn lên với bao hy vọng lẫn lo âu, nhất là những buổi học đầu.

 

Tôi nhớ

Ngày khai trường bỡ ngỡ

hè Cao nguyên

chiều nhẹ vút lên không

những chàng trai say gió núi mây đồng

ay nặng sách đưa mắt t́nh theo ghé

nhiều chị

giữa đồi núi bao la, thu hình nhỏ bé

làn tóc xanh

Giòng suối óng ả bình minh

trời xanh cao nắng gió dâng tình

(Thơ Huy Lực)

 

 


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

Vào thập niên 1950, ngoại trừ một số các khu Tân Bùi, Tân Phát, Tân Hà, cư dân Blao rất thưa thớt, rừng còn nguyên. Thị Trấn Blao, chiều dài không quá mấy trăm thước, nằm dọc theo Quốc Lộ 20, chỉ có một ngôi giáo đường, một ngôi chùa, một trạm xá và Trường học, một hay hai lớp đệ nhất cấp. Nguồn sản xuất duy nhất của Blao là trà và cà phê, nhất là trà Bạch Mao ở Blao. Thị Trấn Blao chỉ có một ngôi chợ bằng ván ọp ẹp, vài quán ăn, cũng là nơi dừng chân của du khách trên các chuyến xe đò xuôi ngược Saigon Đàlạt.

 

Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Blao vào thập niên đó, đối với Thị Trấn Blao ví như "Một cô gái đẹp và con nhà giàu vậy!"Xa Thị trấn Quận Blao là đồng bào Thượng. Những ngày tháng đầu tiên, sinh viên chúng ta trú ngụ trong dãy nhà gỗ cao cẳng, lợp tôn, không có ngăn vách, với trên 40 chiếc giường sắt kê cạnh nhau, chỉ chừa đủ lối đi, hành lý không ngoài chiếc rương gỗ, một vài bạn khá hơn, có được chiếc va ly bằng da, áo quần cũng chỉ vài bộ. Đêm đến, chúng ta nằm trong đệm ấm, chăn bông, hàn huyên tâm sự thâu đêm, thế mà chúng ta, vẫn thấy cái lạnh thấm buốt của Blao. Nằm nghe tiếng sương khuya, rơi đều và mạnh trên mái tôn, hòa lẫn với tiếng thú rừng, tìm mồi quanh trường, tạo cho anh chị em chúng ta bao nỗi nhớ nhà, nhớ bạn, nhớ người thân.

 

Mỗi buổi sáng, trời chưa hửng đông, sương mù còn lạnh và đang giăng khắp cả vùng, tiếng kẻng trường đã báo thức, hòa lẫn với tiếng chim kêu, tiếng vượn hú gọi đàn ban mai, âm thanh 

 vang dội khắp cả núi rừng.

 

Những sáng âm u

sương mù còn lạnh

dấu hai tay vào túi quần tà áo

đi bên cạnh nhau

hạt bụi đỏ bên đường

thổn thức bước chân mau.

(Thơ Huy Lực)

Những hình ảnh của các Thầy cũ, mãi để lại dấu ấn kỷ niệm trong cuộc đời sinh viên chúng ta.

Thầy Vũ Ngọc Tân:

Với dáng điệu khoan thai, nghiêm nghị nhưng độ lượng 

 

Thầy Đặng Quan Điện:

Bài dạy súc tích, dễ hiểu, nghiêm nghị, tình cảm. Hầu như đối với thầy 24 giờ một ngày đêm, không đủ cho thầy thực hiện những hoài bão lớn lao. Do vậy, thầy luôn tranh thủ thời gian hấp tấp bước đi.

Thầy Lê Văn Ký.

Một vị thầy khả kính, dễ mến, ân cần và yêu mến Sinh viên như con, em. Hoài bão của thầy là lo bồi dưỡng và tái tạo cho thế hệ sau:

"Rừng chồi và rừng tái sinh"

và thầy luôn luôn nhắc nhở cho môn đệ của thầy bài "Lời của Rừng"

"Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong"

Thầy Lê Thước:

Điềm đạm, hiền hậu, giọng nói nhỏ nhẹ, trầm ấm dễ mến như một nhà nho xứ Quảng.

Thầy Trương Đình Phú:

Giọng nói đặc miền Trung Quảng Trị, tình cảm nhưng ít bộc lộ.

Thầy Bùi Huy Thục:

Đạo đức và tầm thước của một nhà mô phạm.

Thầy Vương Đình Xâm, Thầy Phúc, Thầy Ngọ:

Hiền lành, vui vẻ dễ tính.

Thầy Đàm, Thầy Trực:

Nhân hậu, đạo đức và trầm tĩnh.

Thầy Hà Văn Thân:

Hiền lành, xem sinh viên như bạn với nụ cười luôn luôn "nở trên môi"

Thầy Lê Minh Tâm:

Bộc trực, ít nói, dễ mến.


ÂM HƯỞNG BLAO

Về Bạn cũ:

Mỗi người chúng ta, ít ai mà không ghi lại trong ký ức một số hình ảnh cũng như đặc tính của một số bạn cũ.

 

Về nữ:

Khóa chúng ta có 6 nàng. Các nữ sinh viên vào học năm thứ nhất ở trên gác hai, lầu làm bằng gỗ, ở dưới làm văn phòng của Ban Giám Đốc trường. Lầu gỗ này đuợc sơn trắng, nên anh em chúng ta thường gọi là "bạch cung". Vào những năm đó, nữ sinh thường trang phục cổ truyền với tà áo dài, không trang phục hoa hòe sặc sỡ, khi đi thực hành mặc âu phục, quần tây và áo chemise dài tay. Về màu sắc cũng biểu hiệu từng miền. Các cô sinh viên miền Nam và Bắc với những chiếc áo dài bông, màu lạt, cô Cẩm Tuyến nữ sinh viên miền Trung Huế, luôn luôn với chiến áo dài trắng tinh chỉ còn thiếu mái tóc thề của cô nữ sinh Đồng Khánh Huế ngày xưa.Các nữ sinh viên của Khóa chúng ta, mỗi người có một biệt tài và những đặc tính cùng một vẻ đẹp kín đáo riêng.

 

Bạn Khưu Thị Giàu và Dương Thủy Vân:

Vui tính, là đôi danh ca của Trường Blao cách đây 4 thập niên. Với giọng ca điêu luyện, gợi cảm qua các bài hát bất hủ:

"Con thuyền không bến" và "Dòng sông Xanh". Với hòa nhạc của các cây phong cầm, guitar, sáo của các bạn Ly, Hành, Tuấn, Kiệt, Mạnh, Tuyên, trong các buổi đại nhạc hội do trường tổ chức. Ước gì chúng ta được nghe lại âm thanh ngân vang tiếng hát ngày xưa của hai chị Vân, Giàu.

 

Cô Trần Thị Băng Tâm và Hà Thị Liễu:

Hiền lành, thùy mị, dễ mến với vẻ đẹp pha lẫn Âu Á.

 

Cô Nguyễn Thị Điểm và Trần Thị Cẩm Tuyến:

Kín đáo, trầm lặng, ít nói.

Khóa chúng ta, có lẽ khai khóa vào năm tháng Thủy Hỏa Tương Khắc, nên ít có được nam sinh viên nào, lọt được vào đôi mắt xanh của các cô. Thế mới lạ! dù có gặp nhau chăng nữa, cũng chỉ là giấc mơ qua.

Về Nam sinh viên:

 

Bạn Nguyễn Thiệu Dy: Có mái tóc quăn đẹp, hiền lành ít nói như con gái. Có biệt tài vẽ tranh rất đẹp, nhất là trang Bích báo của

Trường, là bạn tâm giao của Hồ Văn Tú.

 

Bạn Nguyễn Doanh: Nụ cười có duyên, thuộc loại quậy ngầm.

 

Chu Hữu Tín: Vui tính, trẻ trung, quậy có hạng.

 

Nguyễn Hữu Khiêm: Lầm lì, trầm ngâm, chân tình.

 

Diệp Vĩnh Chương: Nhỏ con, lì và quậy, có máu ngang tàng, bướng bỉnh.

 

Bùi Tiên Khôi: Ông Đồ và nhà thơ gốc Qui Nhơn, Bình Định. Diễn đạt qua giọng ngâm trầm ấm và não ruột, thương tiếc người dân Chiêm quốc xa xưa vậy.

 

Lê Văn Lịch: Chải chuốt và hơi cầu kỳ.

 

Hoàng Tổng: Kín đáo, hiền lành, thích sống ẩn dật và chân tình

 

Vĩnh Trường: Đơn giản với nụ cười điềm đạm, xuề xòa, dễ mến.

 

Lê Hữu Trung (Phi Long): Đơn giản, thích sống với thiên nhiên và thích nghiên cứu về điện.

 

Lê Văn Tuyển: Bộc trực, xuề xòa, nhưng hơi lộp chộp.


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

Nguyễn Văn Nguơn: Biệt tài ăn nhanh, không nhai, nhưng không đau bao tử.

 

Nguyễn Văn Hành, Nguyễn Văn Ly: Hai cây phong cầm có hạng của Trường Blao ngày xưa.

 

Nguyễn Văn Kiểm: Hề hà, vui tính, chân tình, gọi bạn thân mật bằng "Mày Tao"

 

Hòang Vũ: Thông minh, hay bi quan v́ bệnh.

 

Phí Minh Tâm: Thông minh, hiền lành, chuyên viên đi rừng t́m lan đẹp.

 

Phan Văn Tùng: Đẹp trai, chải chuốt, ít nói, ghẹo gái có bằng cấp ở thị trấn Blao.

 

Tôn Thất Đàm: Hiền lành, cười có duyên nhờ chiếc răng khểnh. Trung phong xuất sắc của đội bóng Blao

 

Vũ Thanh Giảng, Nguyễn Văn Tuyền: Đôi bạn xứ Trà Blao, gốc Bắc, gọi bạn bằng mày tao rất thân thiện.

 

Nguyễn Hữu Dũng, Vũ Quốc Dũng: Hai cây vợt pingpong của Trường.

Chúng tôi nhớ nhiều về đặc tính từng bạn, nhưng trang giấy có hạn không ghi ra hết được, như bạn Ngôn, Nghiệp, Thưởng, Phúc, Tài, Lê Da Tốn và Đỗ Hữu Long v.v...

 

Kỷ niệm nhiều nhất là những ngày, các thầy hướng dẫn đi thực tập vào năm thứ nhất. 

 

Với Thầy Vũ Ngọc Tân: Ng̣ai những buổi thực tập tại các chuồng trại ở trường và vui nhất là những lần cưỡi ngựa chạy chung quanh trường với những lần té từ yên ngựa. Những ngày vào các bản Thượng ở vườn số 9 và số 10 tận rừng sâu, dân làng Bản Thượng mời thầy tṛ uống rượu cần, trong một cái ché lớn. Cầm cần rượu hút lên mà thấy do dự, vì thấy thiếu vệ sinh, ai cũng ngậm miệng vào một cây cần hút rượu lên, lỡ rượu còn chảy xuống vào bình chúng ta lại uống lại. Nhưng với cuộc sống đắc

 nhân tâm và thu phục tình cảm của người dân thiểu số, Thầy đã bảo với anh chị em chúng ta: Không nên từ chối lòng tốt lời mời của người khác, nhất là phong tục của ngườøi Thượng. Rượu cần của người Thượng không cay và nồng như rượu của người Kinh.

 

Với Thầy Đặng Quan Điện:

Vơi quang trắc các biểu đồ ở trong khu đài Khí Tượng, với những đám mây có thể tiên đoán được thời tiết: Cirus, Alto, Stratus, Cumulo, Nimbus v.v... cùng những bài dạy súc tích về dinh dưỡng và di truyền (geneter)

 

Với Thầy Trương Đình Phú:

Những mẫu đất trắc diện khô khan, tập lái máy cày Ferguam trên mảnh đất trồng hướng dương (tourne-sol), tập đàm thoại Anh Văn với các bạn cùng chung lớp. Thầy Phú gọi tôi và cô Tuyến lên bảng để đàm thoại.

 

Với Thầy Trực và Thầy Quang:

Thực tập tại các vườn Trà, cà phê, phân tích loại Trà Chan và trà Trấn Ninh.

 

Với Thầy Đàm:

Đi thực tập và đi tham

quan các vùng: Ninh Thuận Bãi biển Ninh Chữ, hải cảng muối Cà Rá, đến tắm và xem suối nước Vĩnh Hảo. Xe đã đưa chúng ta qua những đèo như Belle vue (Đèo Ngoạn mục) với 200 khúc quanh nguy hiểm, nằm ở Cao Nguyên Đalạt 1500m trên xe ca của trường, anh chị em chúng ta đã vang lên bài ca "Nông Lâm Mục" hành khúc, thật là vui nhộn.

 

Với Thầy Lê Văn Ký:

Đến các Sóc và Bản Thượng ở rừng sâu, được nhìn phong tục tập quán và đời sống tập đoàn, du canh du cư của người Thượng. Chúng ta được thầy đưa leo lên núi Đại Bình, nhìn toàn cảnh của thị trấn và trường Blao, được đi sâu vào các khu rừng già, của Cao nguyên Lâm Viên Đàlạt, đến các thác nước Gougah, Pren, nhất là vào đến tận thác Pongour, đây là một trong những thác nước lớn và đẹp nhất của cao nguyên Miền Nam, đi xa hàng mấy cây số đã nghe tiếng thác reo:

 


ÂM HƯỞNG BLAO

Những chuyến thám du

trùng điệp mênh mông rừng núi bát ngát

nối vòng tay ôm non cao ca hát

mơ ngày mai nước giàu dân mạnh

chị: chăn nuôi

anh: rừng núi

Tôi: đồng ruộng.

(Huy Lực)

Những ngày nghỉ lễ hoặc cuối tuần, một số bạn có gia đình gần thì về thăm gia đình, bè bạn. Những bạn ở xa như chúng tôi, thường ở nhà đọc truyện, viết thư, hoặc từng toán ra thị trấn Blao chơi quanh quẩn hoặc vào các tiệm sách, tạp hóa, hoặc vào rừng hái lan, bất chấp nguy hiểm, có khi vì một giò lan đẹp, chúng tôi đã phải khó khăn leo lên những thân cây to, cao hàng chục thước, để hái lan, chúng tôi tập trung lan ở dưới nhà ngủ, thưởng thức màu sắc và hương của lan. Có những bạn đã ham tìm lan đẹp, nên đã lạc đường về, một số anh em chúng tôi đã huy động từng toán vào rừng kiếm bạn, 

miệng thổi còi inh ỏi, vang động cả rừng sâu. Vào thời đó, rừng Blao còn trùng điệp, nên có rất nhiều thú dữ: Cọp, voi, trăn, v.v.... Có những lần vào rừng hái lan, chúng tôi thường dừng lại bên cạnh bờ suối, nhìn các cô gái Thượng, tắm phơi mình trên giòng suối nước trong với đôi ngực căng tròn. Cùng những ngày cuối tuần, sinh viên trường chúng ta ghi tên và được xe ca của trường lên Đàlạt chữa răng. Đau răng thì ít, nhưng thích đi chơi thì nhiều. Đời sinh viên trẻ con vui nhộn, có khác chi là đời học sinh là bao? Thường khi xe trở về, chúng tôi thường yêu cầu bác tài xế của trường, ghé lại suối Liên Khương để nghỉ và được xem các cô Thái trắng, tắm phơi mình trên các suối đá, có khác chi bức tượng Thần Vệ Nữ, phong tục của cô gái trắng là vậy.

 

Có những chiều cuối tuần, những trận bóng đá thư hùng xảy ra giữa Trường Nông Lâm Mục và đội Tân Bùi, Tân Phát: khán giả bao quanh chật sân bóng, với sự cổ vũ mạnh mẽ hăng say của khán giả hai đội. Các cô nữ sinh của trường cũng

tham gia cổ vũ đội bóng của trường rất hăng say.Một số tuyển thủ của đội Nông Lâm Mục: Đàm (trung phong), Minh, Lợ, Thưởng (tiền đạo), Tuấn Hiệp, Calou ,người Thượng, (góc). Hai đội vì muốn bênh vực gà nhà, nhất là đội Nông Lâm Mục thắng trước đội khách, nên đã xẩy ra cãi vã nhau giữa khán giả hai đội, lúc đầu còn dùng chân tay, sau đó là dùng ghế sắt và gậy gộc, máu chảy đầy đầu, tôi còn chứng kiến thấy anh em sinh viên trong chúng ta, vì nóng lòng bênh bạn nên đã vào phòng tăng cường ghế sắt để đánh nhau. Sau trận bóng, đội bóng Tân Phát thua đậm, đồng bào các trại di cư Tân Bùi, Tân Phát dự định kéo nhau vào trường hành hung sinh viên, nhưng nhờ sự giànếp khéo léo của Thầy Vũ Ngọc Tân và một số thầy khác và cha sở Nguyễn Ngọc Lan nên nội vụ được dẹp yên.

 

Đội bóng của Trường Blao có tiếng, nên đội được mời đi đá giao hữu và thư hùng tại các sân bóng 

Di Linh, Đàlạt, mỗi nơi đội bóng đều đem lại vinh quang cho Trường Blao.

 

Cạo trọc đầu

Kỷ niệm khá nhiều của nam sinh viên khóa hai là màn cạo trọc đầu, để đấu tranh đòi học bổng 1500đ/tháng bị giảm xuống còn 1000đ/tháng. Những thỉnh nguyện thư của sinh viên khóa 1 và 2, không được Bộ giải quyết thỏa đáng, sinh viên đã tranh đấu quyết liệt, khóa 1 chỉ đấu tranh bằng giải pháp nhẹ, là không đi giầy dép vào lớp học; Khóa II đấu tranh mạnh hơn bằng giải pháp cạo trọc đầu nam sinh viên toàn khóa. chỉ trong một đêm, sáng ra thấy 40 cái đầu của anh em thành đầu trọc, một số anh em còn rủ nhau ra trước cổng trường ngồi chơi, dân chúng qua lại và du khách đến thăm trường lúc đầu hết sức ngạc nhiên. Vụ đấu tranh của sinh viên trường được các báo chí Saigon đăng tải, sau cùng ông Bộ Trưởng Canh Nông Lê Văn Đồng lên giải quyết thỏa đáng: vì Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao là ngôi trường Canh Nông lớn nhất của Việt Nam. 


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

Quân Trường Đàlạt:

Vào cuối hè năm thứ nhất, ngoại trừ nữ sinh viên được về quê nghỉ hè trước, tất cả nam sinh viên viên của trường phải lên học Cao Đẳng quân sự một tháng tại trường Liên quân Đàlạt, vào thời gian đó chưa thành lập Trường Võ Bị Quốc Gia: Thiếu Tá Giám đốc trường lúc đó là cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Những ngày học quân sự tại quân trường, anh em chúng mình ba lô và súng nặng trĩu đôi vai. Có những ngày hành quân, băng qua các đồi núi, leo đến gần đỉnh núi Lâm Viên sang đến rừng Ái Ân qua hồ Than Thở, thác Cam Ly. Có những lúc anh em chúng ta dừng bước quân hành, cạnh hồ Than Thở, nhìn mặt nước hồ yên lặng, dưới ánh nắng chiều, với cây thông ngả trên mặt hồ, cạnh hồ là nấm mộ của người thiếu nữ bạc mệnh, đã mượn giòng nước giải thoát, khi không được trọn vẹn với người yêu. Người con gái đó là cô Thảo. Ngôi mộ của cô, mỗi ngày càng lớn dần, do những du khách đến thăm hồ, nhất là các sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia sau này, mỗi lần dừng chân bên cạnh hồ, mỗi người nhặt một viên đá nhỏ, ném vào ngôi mộ của cô, để tỏ lòng thương tiếc người bạc mệnh, từ đó ngôi mộ càng ngày càng lớn dần.

 

Than thở làm chi hỡi 

Thảo ơi!

Đau chi nưa suốt một đời.

Kiếp sau xin chớ làm người.

Làm cây thông, đứng giữa trời mà reo.

Không biết thi sĩ nào đã cảm kích viết ra bên cây thông cạnh mộ cô Thảo. Những đêm ở quân trường, chúng ta có những màn ăn hột vịt lộn, ăn ít trả tiền, ăn nhiều khỏi trả, có những bạn ăn đến 16, 17 cái, phải bỏ cơm ở quân trường cả ngày. Cũng những ngày bị phạt cả đội chạy quanh quân trường hàng chục vòng, tay cầm súng. Trong ngày kết thúc khóa học, chúng tôi và một số bạn khoảng 4, 5 người bị bắt, dẫn độ và giam lại quân trường, vì lý do chúng tôi vi phạm quân kỷ, trốn ra khỏi trường trước 1 giờ

để về kịp chuyến tàu Đalat Nha Trang. Quân cảnh Đalạt được lệnh quân trường bủa vây mấy anh em chúng tôi như là một tội hình sự, bị đẩy lên xe và giải giao về quân trường. Về đến quân trường, mấy anh em miền Trung chúng tôi lỡ cười, lỡ khóc, vì khi về đến quân trường, tất cả anh em đã ra về từ lâu, quân trường vắng vẻ. Chúng tôi bị giam vào phòng gác, chung quanh có kẽm gai bao quanh, đến chiều chúng tôi được lệnh quân trường phóng thích. Anh em chúng tôi cầm lệnh tha, vui mừng quá, xách ngay hành trang lên vai đón xe taxi ra sân gare để về kịp chuyến tàu đêm, chẳng ăn uống gì cả.

Chơi trăng:

Kỷ niệm khá nhiều với anh chị em sinh viên chúng ta, là những đêm đi dưới trăng. Không một ai trong chúng ta, qua những chuỗi ngày dài ở Cao nguyên lại không có những phút lãng mạn thả hồn theo trăng. Cũng là trăng, nhưng trăng Cao nguyên Blao, đẹp hơn trăng các nơi khác, dù là trăng già hay trăng non. Chúng ta đi quanh 

trường, ngắm cảnh sương khuya, quên cả những buổi học tối. Trăng vắt trên ngọn cây, trăng đổ trên bước chân đi, hòa lẫn với ngàn cây, ngọn cỏ.

 

Có những đêm, chúng ta từng đôi bạn đi qua những con đường quanh co, khúc khuỷu dọc theo các đồi trà, hoặc đi chơi tận đồn điền trà Nam Phương, gần cạnh núi Đại Bình, sương khuya bắt đầu thấm ướt, ánh trăng đã ngả về tây, chúng ta mới trở về trường, cảnh vật thật yên lặng, chỉ có tiếng cú rúc, và tiếng O' Ma lai nghe tận rừng sâu. Trăng Cao nguyên đẹp. Trăng tạo cho chúng ta những giây phút quên đời, và tạo cho chúng ta những giây phút lãng mạn.

Những nàng Giáng Tiên.

Vào năm thứ hai, anh em chúng ta được di chuyển về dãy nhà mới xây. Phòng ở chung của chúng tôi gồm: Thanh, Vũ, Khôi. Phòng ở chúng tôi tương đối hiền, "ông cụ" Khôi thì thích làm


ÂM HƯỞNG BLAO

thơ, ông họ Hoàng gốc xứ Quảng, thì thích biên thơ cho các bạn Mỹ, hai ông họ Bùi và họ Hoàng này khá thông minh và chăm học, nên lo tẩm bổ thuốc thang nhiều, nhất là hằng ngày chúng tôi uống ít lắm cũng hai cốc sữa bò tươi do trường phát mỗi sáng: Thỉnh thoảng mỗi sáng thức dậy, hai ông bạn nhà tôi, thường than với tôi "Kỳ này chắc chết quá". Thật ra trong đêm qua, các bạn nằm mơ, đã được nàng Giáng tiên đến thăm, sau khi thức giấc các bạn đã thất vọng, chúng tôi hiểu ý nhau và cùng cười. Tuổi trẻ ai mà không mơ mộng, đến người trong mộng? Có những buổi trưa, trước khi anh em bắt đầu vào giấc ngủ thì ở cuối phòng đã vang lên giọng đọc truyện của mấy bạn quậy.

Chiến lợi phẩm:

Trong số bạn cũ của chúng ta, đã có một số bạn đã không quên xử dụng bớt vườn cam và chuồng trứng gà đẻ của trường cạnh nhà ngủ Khóa II chúng ta lại là vườn cam đầy trái chín và chuồng gà đầy trứng, tạo những miếng mồi ngon, như 

mỡ để bên miệng mèo. Điển hình là Trần Khánh Vân, Diệp Vĩnh Chương, Nguyễn Văn Ngươn, riêng tôi chỉ gián tiếp đứng bên này giới tuyến với nhiệm vụ chuyền chiến lợi phẩm về địa điểm. Chiến lợi phẩm được chia cho ba quân thiên hạ và họ hàng xử dụng.

Phân ngành:

Cuối năm thứ nhất, anh chị em chúng ta được phân ra ba ngành. tùy theo sở thích và sự lựa chọn của sinh viên. Anh rừng rú, chị chăn nuôi, tôi canh nông. Mỗi ngành có một giáó sư chính, như giáo sư chủ nhiệm khoa. Thầy Ký chủ nhiệm khoa Lâm, thầy Tân khoa chăn nuôi, thầy Thục khoa nông. Ba dãy nhà mới xây khang trang với đầy đủ tiện nghi được dùng cho ba ngành riêng biệt. Chúng ta theo các thầy học những năm còn lại. Thủy Lâm theo cha lên rừng xanh, Mục theo mẹ xuống biển và đồng bằng. Y như ngày xưa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ chia con vậy. Từ khi chia ngành, lớp học thấy vắng vẻ và buồn hẳn.

Đường về nghỉ hè:

Vào dịp hè cuối năm, một số anh chị em miền Trung phải đi về quê bằng đường hỏa xa và xe hơi, thật lắm gian nan. Đoạn đường từ Saigon đến Nha Trang đi bằng hỏa xa, anh em miền Trung gồm có Tổng, Trường, Thanh, Tuyền, Tùng, Long, Thưởng, Lịch, Quế và Cẩm Tuyến, trên xe lửa hạng nhì, bạn thì treo võng, bạn thì nằm, trên kệ gác hàng, bạn ngồi. Ngồi trên võng và trên kệ để hàng đu đưa thật là thú vị, nhưng cũng nguy hiểm. Đến Nha Trang lại phải sang xe hơi Lộc Thành, xe chạy đến Phú Yên lại phải chuyển sang xe khác nhỏ hơn để ra Qui Nhơn, Bình Định, rồi từ Bình Định lại chuyển xe ra đến Quảng Ngãi, để đi auto-rail ra Quảng Nam Đà Naüng. Đoạn đường từ Tuy Hòa ra đến gần Đà Naüng, Quảng Nam lúc đó hoàn toàn bị phá, nhất là đường từ Tuy Hòa ra đến Quảng Ngãi, Quảng Tín thuộc Liên Khu 5. Có những anh chị em chúng tôi phải đợi từ sáng sớm, đến chiều mới có chuyến xe trung chuyển, đôi khi phải ở lại 

đêm, ngồi trên những chuyến xe hàng chật như nêm, đường đầy bụi, có lúc phải đi bộ hàng cây số mới lên được xe. Có những đoạn đường quá xấu, xe hư trên những con đường vắng, chúng tôi quây quần nhau lại, nói chuyện vui cho qua đêm, hoặc ở lại trên những dãy nhà tranh, dùng cho khách vãng lai ở quán cạnh bến xe. Từ Quảng Ngãi đến gare Đà Naüng bằng Auto-rail là vui nhất auto-rail tương đối chạy êm, không bụi, tàu lại dừng ở mỗi gare lấy khách, anh chị em chúg tôi lại có dịp ăn vặt: Mía, ổi, bưởi, mít v.v... Xe Auto-rail chạy bằng máy auto trên đường rail, kéo 2 hoặc 3 toa nhẹ không có hàng. Từ Saigon ra đến Đà Naüng Huế, đôi khi chúng tôi phải đi mất thời gian hơn một tuần với đoạn đường không quá 1300km. Đi cả tuần, thiếu ngủ, thiếu tắm rửa vệ sinh, thế mà chúng tôi vẫn thấy vui, không một chút phàn nàn. Tuổi trẻ thần tiên!


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

Ngày ra Trường

Thấm thoát đã hơn ba năm trôi qua, ba năm chung học, sáu tháng tập sự cũng trôi qua nhanh, những ngày tháng tập sự cũng ghi lại với anh chị em chúng ta, những kỷ niệm khó quên. Tất cả chúng ta đã chia ra và đi khắp các nẻo đường đất nước, một số bạn về đồng bằng Cửu Long, ra miền Trung, lên Cao Nguyên, một số bạn khác lại đến các khu dinh điền Cao Nguyên, Darlac, Pleiku, Phú Bổn v.v...Sau những ngày ra trường, lễ Tốt Nghiệp cấp phát văn bằng của khóa chúng ta được tổ chức tại dãy nhà gỗ mà trước đây là nhà ngủ của nam sinh viên khóa II và phòng ăn của sinh viên. Trong ngày tổ chức lễ mãn khóa, phần đông anh chị em chúng ta có những tâm trạng với bao nỗi vui buồn lẫn lộn. Tiếp theo là đêm nhạc hội của Khóa IV tổ chức, cũng trên dãy nhà gỗ cao cẳng này. Lúc đại thính đường chưa xây xong.

Chỉ còn vỏn vẹn trong đêm nhạc hội cuối cùng, để rồi ngày hôm sau, tất cả anh chị em chúng ta chia tay, mỗi người một hướng, và ít có cơ hội 

gặp nhau. Những bàn tay siết chặt nhau, những đôi mắt nhìn nhau với bao nỗi buồn luyến tiếc, lỡ làng, muốn níu kéo thời gian lại. Một số bạn còn ở lại trường, để thăm lại thầy cô, thăm bạn bè ở thị trấn Blao, uống trà, cà phê và đi dạo quanh trường vắng vẻ như đếm bước với thời gian. Có những bạn kể từ đó đến nay, chúng tôi không gặp lại: Bạn Nguyễn Thiệu Dy, Xuân, Trung, Tấn Trang, Minh Trị, Khánh Vân, Hà Thị Liễu, Dương Thủy Vân và Nguyễn Thị Điểm, Khải, Nghĩa, Lai, Hữu Dũng và Quốc Dũng v.v..

 

Thật là đường đời muôn vạn nẻo:

Đồi trà mở hội hoa đăng

Đêm tốt nghiệp trăng khuya

Chia tay về run bóng

rượu trong ly, cũng nỗi buồn nổi sóng

Nhưng không bao giờ ngăn cách chúng tôi.

Chút nắng thu rừng

Vẫn ấm mãi trên môi.

(Huy Lực)

Giã từ đời sinh viên

Sau đêm nhạc hội, lần lượt chúng ta chia tay về mọi hướng. Những ngày ở quê nhà, xa thầy, xa bạn, xa trường, thời gian trôi qua một cách chậm chạp và buồn. Chúng tôi nhớù đến từng cử chỉ, từng khuôn mặt và lời nói của thầy và bạn, nhớ những con đường vào rừng hái lan, nhớ cảnh đứng bên suối nhìn các cô gái Thượng, nhớ những buổi tập nhảy trên căn gác nhà mới xây, nhớ những con đuờng đi chơi dưới trăng khuya, nhớ con đường Hoàng Hoa lộ. Tất cả không còn nữa, nhưng kỷ niệm vẫn còn mãi trong lòng.

 

Sau hai tháng ở quê nhà, anh chị em Ban Canh Nông được Sự Vụ Lệnh tuyển dụng chung của Bộ Canh Nông. Một số bạn qua Phủ Tổng Ủy Dinh Điền, một số bạn qua Nha Canh Nông, một số bạn ở cơ quan của Bộ. Riêng một số anh em học giỏi, đỗ cao được học bổng du học, đường công danh, bằng cấp cứ thế tiếp tục... Những anh em kém may mắn hơn, thì được chuyển về vùng Dinh Điền hoặc các tỉnh, có khi ở những nơi khỉ ho cò gáy, và có một số bạn buồn về số phận đã lấy hẳn binh nghiệp làm lẽ sống, và đối mặt với chiến trường cho đến ngày 30-4-75.

 

 

Thanh và Vũ Vănnh (Khóa I) đi ủng hộ

đội banh của trường đấu tại Di Linh 1957

 


ÂM HƯỞNG BLAO

Sau ngày 30-4-75.

Trong những ngày thống nhất đất nước, một số bạn được may mắn ở nước ngoài. hoặc ra đi được trong thời điểm này. Còn hầu hết học tập cải tạo hoặc vào các nông trường lao động. Một số bạn sau này, đã vượt biển ra đi sớm hơn, dù phải trả một cái giá khá đắt. riêng những bạn, cùng chúng tôi, đi sau này theo diện HO hoặc ODP một vài năm trở lại đây, thì đã lỡ làng, vì tuổi tác và sức khỏe, không còn tháo vát, sức bật như trước đây.

 

Khi còn ở quê nhà, hàng năm chúng tôi thường tập trung nhau, nhất là vào dịp Tết. Chúng tôi uống rượu và tâm tình có khi suốt ngày. Những bạn bè thường gặp là: Bạn Long, bạn Tùng, bạn Tuyền, bạn Ly, bạn Ngôn, bạn Phúc, bạn Nghiệp, bạn Tài, bạn Trường, bạn Thưởng, bạn Đàm và thỉnh thoảng mời bạn Nguyễn Ngọc Minh, bạn Thăng và một vài bạn khóa I nữa như Vinh v.v.. Riêng Diệp Vĩnh Chương có đến lại nhà chúng tôi chơi hai lần. Bạn Chương cho hay là đi buôn củi 

và gỗ xuôi dòng Cửu Long qua Campuchia. Bạn Hồ văn Tú chúng tôi có đến thăm, nhưng không còn ở chỗ cũ đường Huỳnh quang Tiên ngày trước.

Những vị Thầy khả kính đã qua đời.

Sau năm 1975, tôi thường gặp thầy Vũ Ngọc Tân, mỗi buổi sáng, thầy thường đi bách bộ một mình, áo quần vẫn chỉnh tề, dáng điệu vẫn khoai thai, vui vẻ. Tôi vẫn thầy khỏe mạnh, thầy trò gặp nhau hàn huyên trong tình sư đệ như ngày nào. Thầy hỏi thăm đến một số bạn bè của chúng ta. Thầy còn nói chuyện với chúng tôi với nụ cười hiền hòa và kín đáo. Thầy còn nhắc lại "Tập uống rượu cần của người Thượng cho quen." Tôi chỉ gặp thầy vài lần và sau đó tôi đi nông trường, thời gian sau tôi nghe thầy đã mất trong cô quạnh và nghèo túng. Tôi có hỏi xem bạn Đoàn Dương Hội là học trò cưng của Thầy và làm ở Thảo Cầm Viên Saigon, nhưng bạn Hội cũng không rõ, thầy mất ngày tháng nào. Thầy Lê Thước: Cũng sau năm 1975, tôi thỉnh thoảng

vẫn gặp thầy Lê Thước và thầy Lê Văn Đằng ở gần cầu Saigon. Thầy Đằng thường đạp chiếc xe đạp lang thang, sau này được biết thầy đã đến Nam Triều Tiên.

Nhìn lại trường cũ.

Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao năm xưa, ai trong chúng ta mà không hãnh diện với ngôi trường của mình. Vào thập niên 1950, trường Blao là một trong những trường kỹ thuật nông nghiệp nổi tiếng của miền Nam. Những vị lãnh đạo của Trường vào dạo đó là những vị kỹ sư kinh nghiệm, già dặn đạo đức lẫn tài ba như: Kỹ sư Võ Doãn Minh, Bác sỹ Võ Ngọc Tân kỹ sư Phan Lương Báu cùng những vị giáo sư giỏi và kinh nghiệm như thầy Đặng Quang Diệu, thầy Lê Văn Ký, thầy Trương Đình Phú, thầy Lê Thước, thầy Nguyễn Thành Phúc, thầy Ngọ, thầy Nguyễn Viết Thực và thầy Đàm v.v...

 

Sau ngày ra trường, dù ở tận miền giới tuyến xa xôi và bận rộn công tác, nhưng một vài năm, tôi 

thường có dịp may mắn về thăm trường vì Blao như là quê hương thứ hai của tôi vậy. Thăm Trường, dù thầy và bạn không còn, chỉ gặp lại người bạn duy nhất là Lê Thiệp làm phụ giáo trong mấy năm ở đây. Trong mấy năm đầu, trường Blao vẫn còn duy trì được vẻ đẹp và nguy nga lớn lao, những cây sao trước các lớp học của anh chị em chúng ta, vẫn còn xanh tươi, những cây đỗ mai và hai hàng cây trên Hoàng Hoa Lộ dọc con đường trung tâm của trường vẫn còn nở hoa. Đàn bò sữa vẫn chậm chạp về chuồng vào mỗi buổi chiều, vẫn còn nghe tiếng máy cày nổ dòn ở các thửa đất trồng cây hướng dương v.v...

 

Nhưng kể từ khi trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc dọn về đường Cường Để ở Saigon, thì trường thấy bắt đầu xác xơ, ngân sách thiếu hụt không đủ duy trì một ngôi trường lớn như trường Blao. Sau năm 1975, Trường càng 


KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA II NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

xuống dốc như xe hơi xuống đèo Blao không thắng. Những con đường ngày xưa, được tỉa xén nên cây cho hoa vàng rực rỡ theo lối đi. Con đường rộng rãi, ngày xưa nay cỏ mọc lan ra khắp lối đi, những cây dọc Hoàng Hoa Lộ không còn trổ bông, cành khô héo và điêu tàn, những hàng cây đỗ mai cũng đã biến mất, nếu còn sống xót cũng bị cỏ che lấp. 

 

Những dãy nhà gạch cũng như đại thính đường đều bị rêu phong phủ dầy, hầu như mấy chục năm qua, chẳng bao giờ được trùng tu, sơn quét lại, những dãy nhà gạch của các giáo sư xây theo kiểu Thụy Sĩ, nay chung quanh đều bị cỏ mọc cao hằng thước. Nhất là những dãy nhà gỗ cao cẳng, trước đây dùng làm nhà ở cho thầy Ký, thầy Tân, thầy Phú v.v... thì nay, trông thật não lòng, phía sau gỗ đã sập xuống, cỏ mọc cao hàng thước không còn lối vào, phòng học của khóa I vẫn còn nhưng cỏ mắc cở đã leo phủ chung quanh, chừa một lối đi vừa một người đi, hầu như chẳng ai buồn nhìn đến của chung. Văn 

phòng của trường cũng thật là thê thảm, mấy hàng ghế đá vỡ ra, cỏ mọc chồng lên. 

 

Vườn cam, vườn quít, vườn trà trước đây trái sai trái và xanh tươi thì nay cũng gần biến mất. Từ trường, nhìn về phía sân bóng ngày xưa, là rừng bát ngát, cũng những vườn cà phê được che với những cây muồng và cây vòng thì ngày nay cũng biến mất. Dãy nhà cạnh Quốc Lộ trước đây là nhà của thầy Tân và thầy Trực, thì nay cũng đã hư hại, dọc theo một sở đất cạnh hàng rào mặt tiền của trường gần nhà thầy Tân thì được cho tư nhân khai thác buôn bán tạp hóa và làm quán ăn. Những cây sao xanh tươi nay cũng không còn. Trước đây, ban đêm đi qua trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao như là một thành phố, điện thắp sáng muôn màu, nay ban đêm không còn ánh sáng, không ai dám bước chân vào trường ban đêm, cây rừng mỗi năm bị phá lần hồi, trường thấy trống vắng hơn, buổi sáng không còn nghe tiếng vượn hú gọi đàn như ngày xưa.

Từ trường nhìn vào hàng chục cây số cũng không còn cây rừng. Những cánh đồng cỏ gia súc ngày trước, với những giống cỏ quí, như có Mélinix (cỏ mật) cỏ Para là những cỏ dùng làm thức ăn cho bò sữa, trâu sữa, chúng ta cũng đã đổ mồ hôi trên cánh đồng 60ha này, vào những ngày thực tập.

Nay thì được xây dựng, lầu đài nguy nga với những phòng ngủ cạnh hồ dành cho khách nước ngoài và những thương gia giàu có. Sân bóng đá ngày xưa to lớn, nay thu hẹp chỉ còn bằng một sân bóng rổ. Đặc biệt hai cây Sapotier, ở cạnh vòng xoay của trụ cờ, vẫn còn sống như đang thách thức với thời gian, những dãy nhà xây cũng trơ gan cùng tuế nguyệt. cây Sapotier này trái nhỏ, nhưng ngọt, khóa chúng ta ai đã không một lần hái và thưởng thức hai cây Sapotier này. Không hiểu ai đã trồng hai cây này và trồng tự năm nào? Thôi thì chúng ta cứ nghĩ: "Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây" Các thầy đã dạy cho anh chị em chúng ta những bài học, có thể ra đời chúng ta không áp dụng hoàn toàn, nhưng đó là những bước đi căn bản, không thể không có 

trong những bước đi đầu tiên. Chúng ta luôn luôn tri ân các thầy cũ, dù còn hay mất với tất cả kính cẩn của tình sư đệ ngày xưa.

 

Đường Saigon Blao ngày xưa thật là đẹp, dọc đường với những cây rừng đủ mọi loại, ngày nay thì các rừng cây đã biến mất, thay vào đó là những dãy nhà san sát, nhất là vùng Phương Lâm lên đến Magdagouil (ma-da-gui) đến tận chân đèo. Sông La-ngà ngày xưa nước chảy qua những ghềnh đá thật đẹp thì nay khô cạn, bị ngăn lai dùng làm hồ chứa nước cho thủy điện Trị an. đèo Blao ngày xưa dọc theo hai bên đèo là cây rừng, nhất là cây tre lô ồ xanh tươi, nay thì tiêu điều, cây rừng bị phá, tre lồ ô bị chặt tận gốc để xuất khẩu làm giấy, những vườn trà ngày trước xanh tươi, nay thì vàng úa, vì thiếu chăm sóc và phân bón, chỉ có nhà xây là phát triển lên nhiều, người Thượng cũng hiếm thấy ở Blao, rừng bị phá, người Thượng hết đất sống, phải đi vào tận rừng sâu có thể cả 100 cây số. 

Vạn vật trong vũ trụ là vô thường, có sinh, có diệt, có thủy, có chung. Quá khứ dù tốt đẹp bao nhiêu cũng không thể nào kéo lại được. Bánh xe thời gian vẫn lặng lẽ trôi. Nhưng những hoài niệm về Thầy, về Bạn cũ Trường xưa, vẫn còn mãi ghi trong lòng ta. Mong rằng chúng ta sẽ có dịp may trở về gặp lại nhau trên ngôi trường cũ Blao ngày xưa, gặp lại Thầy và Bạn cũ.

 

Virginia, April 4-1996

Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay