Chỉ số IQ (Intelligence quotient)

BS Hồ Văn Hiền

 

 

IQ viết tắc từ chữ Intelligence Quotient trong tiếng Anh. Nguồn gốc của nó là tiếng Đức vì Wlliam Stern, người Đức , năm 1912 đề ra phương pháp tính trí thông minh bằng một thương số (quotient) như sau: IQ=100xMA/CA, áp dụng suốt đời, không lệ thuộc vào tuổi tác.

MA là “mental age”, “tuổi tâm trí”, là tuổi của mức trưởng thành tâm trí, CA là chronological age, tuổi tính theo năm sanh. Ví dụ, đứa bé 10 tuổi lúc test thì đạt mức phát triển tâm trí MA là 12 tuổi, IQ của trẻ đó tính ra là IQ=100x12/10=120. Trong lý thuyết, thì người trung bình sẽ có IQ là 100, nghĩa  là theo định nghĩa, đứa trẻ trung bình đạt được MA ngang với tuổi đời của nó. Một trong những test loại này là Stanford-Binet Intelligence Scales.

Hiên nay thì người ta không dùng công thức trên để tính IQ nữa vì những giới hạn của phương pháp này: khó áp dụng cho người đã trưởng thành, vì sau một tuổi nào đó , chúng ta không thể giả định là mức phát triển của tâm trí có tăng với thời gian hay không (ví dụ cùng một người, lúc 30 tuổi người đó có “khôn “ hơn lúc mình   25 tuổi hay không, hoặc là lúc 60 tuổi mình có khôn hơn lúc mình 40 tuổi hay không). Ngoài ra, phương pháp cũ cũng cho quá nhiều những kết quả IQ cao quá đáng có thể không hợp với thực tế.  .

Những phương pháp trắc nghiệm mới (ví dụ Weschler  Intelligence Scale)  có lối tính phức tạp hơn và cho một chỉ số tuy vẫn gọi là IQ nhưng không dùng thương số (quotient) tuổi tâm trí chia cho tuổi đời như vừa nói. Hiện nay , IQ là một chỉ số có tính cách so sánh thành quả test của một cá nhân với điểm  trung bình (median score)  của những cá nhân khác với những đặc điểm  tương tự, và xếp hạng xem cá nhân đó ở phần trăm nào (percentile) hoặc ở bao nhiêu độ lệch chuẩn [standard deviation] (SD) (thường là 15) trên hay dưới điểm trung bình đó. Ví  dụ nếu IQ mình là 100, thì số người hơn IQ mình bằng số người IQ thấp hơn mình. Nếu IQ 120, thì trong 100 người IQ mình cao hơn chừng 90 người (chừng 90 percentile), IQ 137 thì 100 người có một người, và IQ 150 thì hiếm hoi (1/000), và cở IQ 190 thì  75-100 triệu người mới có một người (ví dụ cả nước Vn hy vọng có một người IQ cở 190)). Trên một biểu đồ phân phối tỷ lệ số người theo IQ từ thấp đến cao thì cho đường biểu diễn giống hình cái chuông, với chop ở giữa, bè ra hai bên. Do đó trong tiếng Anh “The Bell Curve” thường dùng để chỉ biểu đồ của IQ trong một tập thể nào đó.

Trong y khoa thường IQ được dùng để đánh giá các trẻ gặp vấn đề về học vấn cũng như những trẻ chậm phát triển về tâm trí. Ví dụ một trẻ học kém  ở lớp, ngày xưa thầy cô than phiền là “học dốt’.

 Môt số trường hợp học kém  , nếu cháu test có IQ mức trung bình hoặc đôi lúc cao hơn trung bình, nhưng cháu khọc kém trong lớp vì cháu không đọc được các mặt chữ một cách bình thường (dyslexia, ví dụ đọc ngược “top” thành “pot”), hoặc cháu bị bịnh thiếu chú ý (attention deficit), hay quá năng động (hyperactivity), hoặc bị chứng trầm cảm (depression), thì sẽ cần những biện pháp đặc biệt để chữa trị những bịnh đó.

Trẻ có thể học dốt vì khả năng tâm trí (cognitive abilities) về tính toán, về ngôn ngữ (verbal skills), về trí nhớ (memory), về suy luận (reasoning). Trường hợp này trẻ có thể có IQ thấp, các chuyên gia tâm lý phụ trách về trắc nghiệm tâm lý  test sẽ cho thấy những vùng yếu kém  (như toán, hoặc ngôn ngữ) của đứa trẻ  và người ta sẽ cho cháu học những lớp đặc biệt để nâng đở cháu về những mặt khiếm khuyết.

Những đứa trẻ trì trệ tâm trí (mental retardation) được xếp loại như sau:

IQ 70-80 “Vùng ranh giới” (Borderline), có thể học đến lớp 6, sống tự lập được, đi làm việc được, có lúc cần giúp đỡ

IQ 50-69 Nhẹ, MA 9-11(tuổi tâm trí 9-11lúc đã trưởng thành, học đến lớp 4-5, nếu huấn luyện, có thể tương đối sống độc lập, đi làm

IQ35-49 Vừa (moderate), MA 5-8, chừng lớp 1-2, tự mặc áo, đi toilet, soạn thức ăn

IQ 20-34, Nặng (severe), MA 3-5 tuổi, tập biết tiêu tiểu, cần nâng đỡ rất nhiều.

IQ dưới 20: Sâu đậm (profound), MA dưới 3 tuổi. Không nói được, cần phụ để tiêu tiểu. Không học được.

Nguyên nhân:

Di  truyền (Down syndrome, fragile X syndrome), bịnh lúc còn trong bụng mẹ (mẹ dùng thuốc xì ke ma túy,uống rượu (fetal alcohol syndrome),  bị nhiễm trùng), sinh non, bịnh nội tiết nhất là bịnh suy tuyến giáp, bịnh biến dưỡng  (được ngăn chặn rất nhiều nhờ những chương trình neonatal screening thử máu tất cả các trẻ sơ sinh ở Mỹ). Ở VN có lẽ nên để ý các trường hợp ngộ độc chì (lead poisoning).

Chữa trị:

Hiện nay không có thuốc trị bịnh tâm trí trì trệ. Những biện pháp huấn luyện, dạy dỗ giúp bịnh nhân có một cuộc sống ít nhiều độc lập và có ích cho xã hội tùy theo mức độ phát triển của mình. Có thể cần thuốc để kiểm soát các triệu chứng liên hệ như làm kinh (epilepsy), thiếu chú ý, quá năng động…

Những yếu tố có thể giúp IQ cao hơn:

1.      -Cho con bú sữa mẹ. Trong 90 % các trường hợp, sữa mẹ có một chất enzyme giúp tạo ra chất  DHA và AA cần thiết cho não bộ. Do đó bé nhờ bú sữa mẹ có thể có IQ cao hơn chừng 7 điểm. Gần đây, một số formula có cho thêm chất DHA và  AA với hy vọng lấy được lợi thế này của sữa mẹ.

2.      -Cải thiện môi trường gia đình và xã hội: môi trường phong phú thuận lợi cho phát triển tâm trí của em bé.

3.      Môi trường càng nghèo nàn thì tiềm năng di truyền trên IQ càng khó bộc lộ ra. Cho nên , đối với trẻ nhỏ ảnh hưởng của môi trường trên IQ rất lớn, nhất là ở các xứ đang phát triển, ở đó môi trường sống của các em còn rất nhiều mặt chưa đạt tiêu chuẩn thế giới, sau đó khi đến tuổi trưởng thành thì yếu tố di truyền quan trọng hơn cả.

4.      Như cách ngôn xưa : “ Một trí óc minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện”. Điều này đã đưiợc khoa học chứng minh. Những vận đông cơ thể loại aerobic exercise (chạy nhảy, chạy bộ, chạy trên máy chạy tại chỗ treadmill) làm tăng IQ của các em cũng như tăng khả năng giải quyết bài toán của các thú vật thí nghiệm.[1] các thú vật này có bộ óc to hơn và khi thi test thử trí thông minh của chúng, chúng giỏi hơn các con thú “ăn không ngồi rồi”. Trong một công bố của Đại học Illinois ở Urbana- Champaign,[2] người ta cho trẻ em 9-10 tuổi chạy treadmill và theo dõi óc của chúng bằng MRI và test khả năng trí óc của chúng. Kết quả cho thấy một số bộ phận ở đáy não (basal ganglia) lớn hơn và khả năng về thần kinh và tâm trí các trẻ này gia tăng, các em chú ý giỏi hơn, phối hợp tư tưởng và hành động tốt hơn (executive control). Đây là một trong những khám phá quan trọng , nhấn mạnh đến vai trò  của vận động để giữ cho cơ thể khỏe, tráng kiện (fitness) đối với sức khỏe tâm trí của các em. Hiện nay, điều này lại khẩn thiết hơn,  vì càng ngày các em càng ăn uống quá nhiều, quá mập, ít vận động cơ thể mà phụ huynh thì có thể muốn nhồi nhét mọi thứ vào đầu các em , không dành thì giờ cho các em chạy nhảy, vui đùa và giữ cho cơ thể các  em  khỏe (tráng kiện).

5.      Cuối cùng , vì một phần không nhỏ quí vị thính giả có thể là Việt kiều, hoặc ở VN có con cái đi học thêm một ngoại ngữ , tôi xin bàn vài điều về song ngữ và IQ.

·         Một số trẻ em tiếng mẹ đẻ không phải là Anh ngữ , nếu thi test IQ, phần về ngôn ngữ của chúng có thể rất thấp và chúng có thể bị dán lên cái nhãn “ mentally retarded” một cách sai lầm.

·         V ì vậy một số nơi, người gốc  Mỹ la tinh đòi hỏi con cái họ được test IQ bằng tiếng Spanish .(tuy nhiên dù có dịch ra tiếng mẹ đẻ của thi sinh, như tiếng Việt chẳng hạn, còn nhiều vấn đề khác, ví dụ test bằng tiếng Việt, thì bản dịch tiếng Việt có chuẩn hay không, dùng tiếng Việt nào, tiếng Việt ở VN, hay tiếng Việt ở Mỹ..)

·         Điểm thứ hai, các giáo viên của một số em có IQ thấp có thể không cho em học them tiếng nước ngoài vì sợ nhiều quá, em kham không nổi, tuy nhiên, thực tế cho thấy không có gì trở ngại mà còn giúp các em mở rộng chân trời hiểu biết, ngôn ngữ của mình.

·         Cuối cùng, có những nghiên cứu cho thấy những người song ngữ (bilingual) (được học hành đàng hoàng) thi test IQ có điểm cao hơn (có thể do họ có hai, ba từ cho mỗi đồ vật hoặc ý niệm , và do đó có khả năng suy nghĩ đa dạng hơn (heterogenous set of abilities), sáng tạo hơn, uyển chuyển (flexibility) hơn là người ràng buộc trong một thứ tiếng). Trẻ chưa biết nói nhưng tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ  có vẻ “lanh lợi” (executive control, khả năng kiểm soát động thái) hơn các bé khác.

 

Bác sĩ Hồ VănHiền

Fellow, American Academy of Pediatrics

Ngày 15 tháng 9, 2010



[1] http://well.blogs.nytimes.com/2010/09/15/phys-ed-can-exercise-make-kids-smarter/?scp=1&sq=aerobic%20xercise%20IQ&st=cse

[2] Basal ganglia volume is associated with aerobic fitness in preadolescent children.

Chaddock L, Erickson KI, Prakash RS, VanPatter M, Voss MW, Pontifex MB, Raine LB, Hillman CH, Kramer AF.

Department of Psychology, Beckman Institute for Advanced Science and Technology, University of Illinois at Urbana-Champaign, Urbana, IL 61801, USA.