TỰ VẤN: Người Việt Mạnh Yếu Chỗ Nào?

 

Ðỗ Thông Minh

 

Chuyện quá khứ thắng hay thua, không quan trọng bằng nhìn lại mình bây giờ để hướng vào tương lai. Trong chúng ta, chắc ai cũng có dịp nhìn lại mình, nhìn lại dân tộc mình. Vui buồn lẫn lộn bởi những xấu tốt do chính mình tạo ra và tự hỏi nguyên do từ đâu? Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.

Thấy người mà nghĩ đến ta, chúng tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Ðã có hằng trăm cuốn sách khen người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế. Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.

Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 2.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?

Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết: "Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi qủy quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.".

Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68 cũng nhận xét rằng: "Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh...".

Chúng ta có rất nhiều gương bất khuất, dám hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước, dám vượt biển, vượt biên tìm tự do. Nhưng nói chung các hành vi ấy còn thụ động và tiêu cực. Không trực tiếp góp phần cụ thể trong việc phát triển đất nước. Chúng ta với những đức tính tốt, cũng đã có nhiều thành tựu, nhưng những tính xấu đã làm lu mờ hay làm tan nát ít nhiều những thành tựu đó.

Ðã từng có cuốn "Người Nhật Xấu Xí", "Người Mỹ Xấu Xí" và mới đây có cuốn "Người Trung Quốc Xấu Xí" của ông Bá Dương, do ông Nguyễn Hồi Thủ dịch ra tiếng Việt, mà tạp chí Thế Kỷ 21 và một số người cho là chỉ cần thay chữ "Trung Quốc" bằng chữ "Việt Nam" thì cũng đúng thôi. Cuốn sách xuất bản ở Ðài Loan và năm 2000 được in và phát hành tại Trung Quốc là điều chúng ta càng nên quan tâm. Tôi không đồng ý lắm với ông Bá Dương vì lối phê bình mang nặng tính tự ty mặc cảm, bài bác tất cả những gì của mình, trong khi mới nhìn của người một cách phiến diện mà đã khen ngợi một cách quá đáng. Năm 2001, có cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của ông Nguyễn Gia Kiểng, cuốn sách đào sâu nhiều khuyết điểm trong văn hóa, lịch sử nhưng có nhiều dữ kiện khó xác định và đi quá xa gây ra nhiều tranh luận và cuốn "Văn Hóa Trì Trệ Nhìn Từ Hà Nội Ðầu Thế Kỷ 21" của bà Lê Thị Huệ đã nêu lên nhiều khuyết điểm của người mình. Năm 2002, nghe nói ở Việt Nam cũng có cuốn "Người Việt Xấu Xí" của ông Trần Quốc Vượng...

Chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Ðôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữa để tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc.

Chúng tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳng thắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.

Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giầu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức, nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém. Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc. Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.

Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Ðể tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước... Trong khi họ mới lớp tuổi 40, 50 mà đã tự cho là "già rồi" không thấy tự học hành lo cho chính cuộc đời của họ và xã hội mà họ đang sống. Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!!

Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí. Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng.

Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo... Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được.

Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng động của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?

Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua "định mệnh" không hay này.

Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém, không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.

Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Ðại Học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.

Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từ mọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Ðã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được. Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?

Chúng tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau. Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiện chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.

Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Ðồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.

Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn "Tự Thán" đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi. Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được.

Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn "Tự Phán", cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm dầy xéo...

Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau.

Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Ðà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858, Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Ðà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Ðặc biệt Việt Nam hầu như chỉ dựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện. Thật vậy, khi thấy Pháp Quốc mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp Quốc, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế Chiến Thứ 2, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm. Ðiều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.

Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theo kịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?

Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Ðức... mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế Chiến Thứ 2, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thế Chiến Thứ 2, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.

Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Ðặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân... Thật là hỡi ơi!

Vài chục năm trước, chúng tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế Chiến Thứ 2 vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn. Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép.

Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn "rất nghèo tài nguyên", mà nay người Nhật xây dựng thành "giàu có", còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn "rừng vàng biển bạc" mà lại hóa ra "nghèo nàn"? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời trung cổ.

Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển.

Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Ðức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế Chiến Thứ 2, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.

Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, người Việt dù có 2 triệu ở hải ngoại hay 80 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao. Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chị khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng binh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn. Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?

Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như "sắc, huyền", uốn éo như "hỏi, ngã", rung động như "r"... thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏi nhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu Châu... Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.

Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh... Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời.

Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng "hàng ngoại" đến như vậy? Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. "Sản xuất" nếu có, "hàng nội" nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay Hoa được.

Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bầy cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được. Người Hoa Kỳ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng: "Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác.". Người Nhật thì chủ trương: "Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách.".

Sự phồn vinh rất "giả tạo" hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Trong gần 30 năm qua, Việt Kiều gởi về khoảng 30 đến 40 tỷ Mỹ Kim, cộng thêm một số tiền đầu tư của ngoại quốc 40 đến 45 tỷ MK (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này). Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) trong thời gian đó khoảng 450 tỷ Mỹ Kim. Với số tiền khổng lồ đó, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa. Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể "đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo". Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.

Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại? Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu?

Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.

Chúng tôi xin mạo muội bầy tỏ phần nào những ưu tư đối với đất nước và dân tộc. Xin tất cả chúng ta hãy cùng thành tâm nhìn lại mình, vì tương lai đất nước, để thế hệ mai sau có được cuộc sống đáng sống hơn, hãy tự chế để bỏ dần các khuyết điểm mà tăng tiến các ưu điểm.

Bài trên của Ð T Minh đã được đăng trên nguyệt san Mekong, nhật báo Tự Do, nguyệt san Diễn Ðàn Phụ Nữ, Thế Kỷ... Chúng tôi đã ghi nhận được một số phản ứng của độc giả, xin đăng tải dưới đây.

 

CẢM NGHĨ KHI ÐỌC BÀI: "TỰ VẤN - NGƯỜI VIỆT MẠNH YẾU CHỖ NÀO"

 

Trong số báo NS Mekong số 84, tôi có chú ý đến một bài hơi khác với những số báo trước, và thấy thích loại tiêu đề có nội dung như thế. Hy vọng báo Mekong sẽ có nhiều loại bài mạnh dạn như "Tự Vấn".

Theo cái nhìn của tôi, qua thời gian theo dõi , quan sát, tìm hiểu trên các phương tiện truyền thông, sách báo, tài liệu, tin tức... khi nhìn về mặt "tự vấn", người Việt chúng ta cảm thấy bi quan. Ðồng bào mình sống với đất nước bạc bẽo qúa, nhưng sống cho mình và cái gia đình con con của mình lại nồng hậu qúa. Chúng ta sống ích kỷ, hẹp hòi, đoản hậu với dân tộc, đất nước đã sản sinh ra chúng ta và gia đình chung. Nếu cứ tiếp tục tệ trạng đáng buồn này vài thế hệ nữa, nước Việt sẽ đi đến đâu???

Thời gian như thoáng mây bay. Ðời chúng ta như khoảnh khắc trên trần gian vô tận này. Dân tộc ta là trường tồn trong giòng sinh hủy của nhân sinh. Tìm đến giá trị dân tộc là loại giá trị bền lâu và đáng ngưỡng mộ. Sự vay mượn, sự bon chen vật chất, sự xa lánh cội nguồn Việt Nam chỉ dẫn đến hư không. Trừ phi người Việt muốn chối bỏ nguồn cội mình và hãnh diện mang thứ quốc tịch xa lạ với Việt Nam. Và điều này nhức nhối thay lại là hiện tượng bùng nổ trong xã hội Việt Nam hiện đại (cả trong nước và hải ngoại)...

Nguyệt san Mekong có nhiều điều hay cần đọc. Trong những số báo trước tôi thích những tin tức ở Nhật, như người Nhật quan tâm đến văn hóa Việt Nam như thế nào. Những điểm khác và giống nhau giữa hai dân tộc. Nước Nhật đi lên từ đống tro tàn chiến tranh như thế nào. Nước Nhật đánh giá thế nào về cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào năm 1975. Tuy nhiên tôi cũng chưa chú ý nhiều đối với nguyệt san Mekong trong tình hình đất nước chúng ta hiện nay. Vì theo suy nghĩ cá nhân tôi, nguyệt san Mekong chưa có những đề tài đủ mạnh đề cập tới thực trạng Việt Nam.

Trong số báo 84 ra tháng 6 năm 2002, tôi chú ý và đọc vài lần bài : "Tự Vấn - Người Việt Mạnh Yếu Chỗ Nào" của anh Ðỗ Thông Minh viết. Nhận xét đầu tiên của tôi khi chọn bài này để đọc nhiều lần là vì bài viết này mang nội dung tích cực hơn những bài khác, khi đặt vấn đề thẳng thắn về nếp sống, nếp suy nghĩ của người Việt chúng ta. Thứ hai, đề tài này hấp dẫn cá nhân tôi vì nó chứa đựng những điều liên quan đến hiện tình của dân tộc Việt Nam hiện tại mà không có nhiều người chịu nói đến hoặc thảo luận nghiêm chỉnh trên bình diện rộng rãi và dứt khoát.

Về căn bản, tôi đồng ý với tác giả là chúng ta, người Việt hãy nên tự nhìn thẳng vào chúng ta để mạnh dạn sửa chữa những tật xấu của người Việt. Bởi vì chính thói hư của chúng ta đã đẩy dân tộc, đất nước Việt Nam vào tình thế bi đát, xấu hổ như ngày nay.

Chúng ta đang sống ở đầu thế kỷ 21, nhưng đất nước chúng ta lại nghèo nàn, chậm tiến vô cùng so với đồng loại trên thế giới. Có khi nào chúng ta đi ra ngoài, ngẩng cao đầu, nói lớn một cách hãnh diện với người nước ngoài là: "Tôi là người Việt Nam" hay không. Dĩ nhiên là có, nhưng không phải tất cả trong chúng ta dám tự hào hãnh diện nói như thế. Còn lại, và số càn lại cũng không ít, thì tự ti hay mượn vỏ bọc của người khác để nói về mình. Tôi là người v..v...và v.v... gốc Việt. Hay du nhập tư tưởng của người để nuôi sống mình, trau chuốt cho mình.

Tôi còn nhớ mãi một câu nói mà tôi đã ghi nhận được từ những ngày đi học ở Sài Gòn năm xưa. Ðó là: "Kẻ nào chê ta là thầy của ta". Chúng ta sẽ làm thầy cho chúng ta khi chúng ta dám nhìn vào thói hư tật xấu của chính chúng ta - người Việt Nam. Trong những thói hư đã làm chúng ta suy yếu như ngày nay là tinh thần chia rẽ. Chính sự cấu xé - không phải cấu xé bằng nanh vuốt như loài thú mà là cấu xé bằng lời nói và hung bạo hơn khi dùng súng đạn ngoại bang - để cấu xé lẫn nhau trong cuộc sống dân tộc khiến làm phân tán, làm suy kiệt sức mạnh của người Việt.

Nhìn lại cuộc chiến trước năm 1975, người Việt Nam đánh với nhau quyết liệt hơn khi chúng ta đánh với ngoại xâm. Miền Bắc quyết liệt đánh chiếm miền Nam một cách tàn bạo nếu không muốn nói là điên rồ để rồi chỉ làm tôi mọi cho ngoại bang... Miền Nam quyết liệt chống trả để giữ vững nền tự do mong manh. Kết qủa sự chia rẽ này đẩy chúng ta vào chỗ suy vi, hèn bại thêm...

Và kẻ chiến thắng, cũng là người Việt, mà thực tế có là chiến thắng đâu? Ðã tiếp tục đào sâu chia rẽ trong lòng dân tộc. Khi quyền lực và quyền lợi của cả xã hội chỉ dem chia xẻ, phân phát cho một phe đảng. Coi quốc gia như là của cải, tài sản riêng của cha ông họ, dòng họ mình. Và còn nữa, óc địa phương có điều kiện sinh sôi nảy nở mạnh hơn. Người miền Bắc được tin cậy hơn, mặc dù xương máu người miền Nam đổ xuống không phải là ít cho cuộc "cách mang" hoang tưởng, man dại trước đây. Dân số Việt Nam được hài hòa bởi người dân ba miền Nam - Trung - Bắc, theo cấu tạo địa lý đất đai.

Ai có coi truyền hình Việt Nam ngày nay, nếu chú ý sẽ thấy điều bất bình thường. Các xướng ngôn viên, biên tập viên, phát thanh viên đài truyền hình Việt Nam như VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, phần lớn là người miền Bắc. Tại sao không tìm được các xướng ngôn viên người miền Nam để làm việc chung với người sinh trưởng ở miền Bắc hay miền Trung. Tại sao lại chỉ chọn người ở ngoài Bắc? Tại vì không tin cậy người trong Nam chăng? Tại vì người miền Nam không đủ trình độ chăng? Tại vì lo sợ người trong Nam ăn hết phần nếu để họ giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy làm việc chăng? Hay là tại thói xấu của người miền Bắc, đó là óc gia trưởng, thói bè phái, tính hẹp hòi khi dụng nhân; óc bảo thủ, mặc dù miệng luôn nói cách mạng, canh tân!?...

Dân khí chúng ta suy vi qúa rồi chăng? Ý chí dân Việt ta quá hèn rồi chăng? Chiến tranh tàn khốc trước 1975 đã làm cho chúng ta qúa mệt mỏi, chán ngán rồi chăng? Hay tại lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo đoàn thể, lãnh đạo cộng đồng bất xứng. Lãnh đạo không lương thiện đã tác động đến tinh thần người dân Việt. Nói đến đây, tôi rất đồng ý với anh Minh khi nói rằng: "Một dân tộc có nền văn hóa cao, không thể sản sinh ra lãnh đạo tồi".

Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, người Việt chúng ta tìm được bao nhiêu vị lãnh tụ anh minh, sẵn sàng hy sinh cuộc đời cho quyền lợi quốc gia dân tộc. Hầu như chúng ta không tìm được. Hoặc nếu dân tộc ta có sản sinh ra được vài vị anh hùng kiệt xuất trong vòng 100 năm nay thì cũng đã bị tiêu diệt trong trứng nước vì thủ đoạn hèn mọn, vì cái bất chính, cái không lương thiện của bọn người làm chính trị hay "cách mạng".

Vì nhiều người làm chính trị, nhiều người lãnh đạo có lối sống, lối cư xử không có lòng nhân, không lương thiện, đôi khi lại lưu manh rất tầm thường, khiến cho quần chúng mất niềm tin. Những người này coi chính trị như là một canh bạc, hên xui may rủi, coi chính trị như là phương tiện thăng quan tiến chức, để làm giàu, để ăn trên ngồi trước, để đè đầu thiên hạ, chứ không làm chính trị để đạt đến mục tiêu lý tưởng là phục vụ quốc gia dân tộc.

Người lãnh đạo, người đi làm chính trị mà có tâm địa hẹp hòi, bất nhân thì đường lối cai trị của họ cũng bất lương, bất nhân mà thôi...

Người Việt trong nước ngày nay nghèo đến nỗi phải bán con vào ổ điếm lúc con mới 12 tuổi. Có khi trong gia đình hai ba người làm điếm. Làm điếm là một thứ nghề thịnh hành hiện nay, mặc dù luật pháp không công nhận, nhưng nó được rất nhiều người chọn nghề này để làm, chỉ vì miếng cơm.

Thực trạng này chỉ đến với người dân trong nước, những người ở tận đáy xã hội. Còn tầng lớp có quyền, hay người Việt ở hải ngoại không biết có đau với cái đau của những người dân nghèo phải chịu đựng hay không. Hay chúng ta chỉ tỏ lời than thở trong những phút rảnh rỗi sau những lúc miệt mài cắm đầu cắm cổ kiếm tiền để đóng tiền nhà, đóng tiền xe v.v...

Nếu tham nhũng là quốc nạn, thì tình trạng gái Việt đổ xô đi làm điếm để kiếm cơm ăn được gọi là quốc nhục. Cái nhục này không phải của riêng ai. Trừ phi chúng ta, người Việt, không còn muốn đồng bào mình gọi mình là người Việt...

Khi tình trạng sống của người tị nạn đã chuyển đổi, quyền lợi và nghĩa vụ cũng thay đổi. Giờ đây nhu cầu có một quê hương cội nguồn giàu mạnh không gấp gáp lắm trong không ít một số người Việt hải ngoại. Vì cái đó họ đang hưởng thụ ở xứ người rồi. Còn chuyện quê hương Việt Nam giàu mạnh có thể trở thành mục tiêu xa xôi. Hoặc chỉ còn lại ở một số ít còn giữ quyết tâm. Nhưng đại cuộc không thể tiến hành thành công khi quần chúng xa rời lý tưởng và an phận với cuộc sống mới trên một quê hương không phải của ta, ngàn đời không phải của ta, nó chỉ của người mà ta chọn, ta lấy làm của ta!!!

PHẠM GIẢ, Cam-Bốt

- - -

 

Tôi vừa đọc bài TỰ VẤN của anh trong tờ nhật báo Tự Do ngày 3/7/02 ở SanJose. Rất hay... Tôi rất đồng ý. 27 năm qua ở hải ngoại, tôi đã suy ngẫm nhiều về những điều anh viết với tất cả lòng nhiệt thành yêu quê hương và người Việt. Nếu bỏ được tất cả những tật xấu nêu ra trong TỰ VẤN, chúng ta đã có một VIỆT NAM có chỗ đứng đáng nể trong CỘNG ÐỒNG NHÂN LOẠI, có một Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại rất mạnh.

Tôi đã viết trong cuốn Nổi Trôi Theo Mệnh Nước (trang 46): "Việc cấp bách mà chúng ta phải quyết tâm, tự mình làm ngay là xây dựng lại con người...". Mong rằng bài viết của anh sẽ được phổ biến rộng rãi đến tất cả mọi người VIỆT cùng đọc để rồi thành một phong trào XÂY DỰNG LẠI CON NGƯỜI VIỆT NAM...

Phạm Ngọc Lũy, Hoa Kỳ

- - -

- Tự hỏi và tự xét là việc làm quan trọng cho mỗi cá nhân. Ðứng trên một nấc cao hơn, sự tự vấn của 1 công ty, 1 đảng, 1 đoàn thể, 1 xã hội, 1 dân tộc là một điều cần thiết để tránh chủ quan, học hỏi thêm, và sửa đổi. Không tự vấn là đi đến tự diệt. Hơn ai hết, những người hoạt động nhiều cần phải tự vấn luôn luôn.

- Những tật xấu của ngày qua, nếu tìm thấy, phải có những kế hoạch để khắc phục. Chứ tự vấn không sẽ không đủ. Xã hội chúng ta hiện nay có nhiều vấn đề. Sự tự vấn đang được đặt ra cho người Việt trong và ngoài nước. Những trăn trở của Ðỗ Thông Minh và nếu nhìn những nhận định của Nguyễn Gia Kiểng, dưới một con mắt ít cực đoan và "khiêu khích" hơn, có thể được coi như những tiếng hét báo động của một xã hội đang bị nguy hiểm.

Tuy nhiên, những tiếng báo động này chỉ mới là bước đầu của quá trình sửa đổi, tiến hóa, và phát triển. Sau nhiều trăm năm nội chiến, mất chủ quyền, người Việt bắt đầu đặt vấn đề để tự nhìn mình, soi xét cá tính của dân tộc. Những nhận định bi quan, sám hối... sẽ được nối tiếp bởi những suy tư đẹp hơn, tin tưởng hơn, dẹp bớt những cái xấu mà xây những điều mới cho những thế hệ sau.

Tự vấn xong phải tự tin và tự trọng.

Trong lãnh vực chính trị, những trí thức hay cựu cán bộ trong nước đã lên tiếng. Bên ngoài nước, giới trí thức "trâu húc" đã lên tiếng. Giới thận trọng cũng đồng ý là cần phải xét lại toàn bộ tư tưởng, xã hội, quan niệm để thật sự "cầm cân, nẩy mực" cho một hệ thống mới, vượt 1 lúc những quan niệm phong kiến, Cộng Sản, thực dân, đế quốc...

Chúng ta đã có 1 xe ủi đất, và 1 xe xúc đồ phế thải. Nhưng toán xây dựng và trước đó, những kiến trúc sư, kỹ sư... phải cần có 1 mô hình tính toán cẩn thận, được mọi người đồng ý. Vì đập phá những cái xấu, cũ là điều cần thiết, nhưng xây dựng cái mới đẹp hơn mới là câu trả lời.

Không dễ! Phê bình đã không dễ, tự phê bình lại càng khó hơn, mà sửa đổi, làm mới được trong ý thức trách nhiệm là một điều cực khó.

Nhưng đó mới là cái đích sau những tự vấn, và ăn năn. Và là con đường hình như không thể không vượt qua.

Ðinh Thế Dũng, Úc

- - - - -

Ngoài các độc giả trên, chúng tôi cũng nhận được ý kiến đóng góp rất tích cực của thày Triệt Học ở Nhật Bản, nhà văn Trà Lũ và Nguyễn Ngọc Ngạn ở Gia Nã Ðại, Võ Ðại Tôn và Huỳnh Lương Thiện ở Hoa Kỳ, Nguyễn Ngọc Nga ở Úc... Xin trân trọng cám ơn ý kiến đóng góp của tất cả quý thân hữu.

Ðỗ Thông Minh

Copied from http://www.mmjp.or.jp/mekongcenter/tuvan.html