XUÂN QUÍ MÙI 2003

TẠP GHI CUỐI NĂM

Người ghi : Miệt Dưới Dũng Trần

 

 

Ðề thích sở kiến xứ

Khứ niên kim nhựt thử môn trung

Nhơn diện đào hoa tương ánh hồng

Nhơn diện bất tri hà xứ khứ 

Ðào hoa y cựu tiếu Ðông 1phong

(Thôi Hộ)

Mình phải thú thiệt là cái bài thơ thất ngôn ngắn ngủn của chàng thơ sanh Thôi Hộ đời Ðường, một ngày đầu xuân, đề trước cổng nhà của một tiểu thơ sweetheart vào cái thuở trời đãt còn chưa nổi cơn gió bụi, cứ ám ảnh mình dai dẳng từ lúc còn áo trắng quần xanh ở sân trường Pê Ký. Nhứt là mỗi độ xuân về. Cũng tại sư phụ Cổ Văn của mình hồi đó giảng bài thơ này xuất thần, hay siêu phàm thoát tục, đến nỗi gần năm chục tên mới lớn lúc đó cứ nín thở há miệng ra mà nghe không chớp mắt. Mèn đét ơi ! Sao trên đời lại có cái chuyện tình gì mà lãng mạn rả rời rơi rụng như vậy chớ ? Thôi tiên sanh năm sau trở lại nhìn thấy hoa đào lại nở mà tiểu thơ má đào thì hởi ôi mất biệt, bèn sầu đời mà để lại đời sau bài thơ Ðường bất hủ này. Ðề thơ xong tiên sanh đi thẳng. Chẳng dè mấy bữa sau tiểu thơ tình cờ bắt gặp bài thơ này trước cổng. Mới đọc thử lần đầu đã thấy trái tim đổi nhịp, đọc thêm lần nữa thì trái tim rung rinh. Bèn sai ả hoàn lấy giấy bút ra copy lại rồi đem vô nhà, đêm đêm thắp đèn cầy lên nghiền ngẫm cho thấm. Chẳng dè nghiền riết rồi bị trúng độc tình, lăn đùng ra phát bịnh tương tư tới thời kỳ cụ lang bỏ chạy. Cũng may chuyện tình kết thúc có hậu, người hữu tình được kết tóc se duyên. Có thể là Ông Tơ lúc đó còn trai trẻ nên làm việc cũng hăng hái mau lẹ hơn chăng ? Rồi sư phụ của mình đã kết thúc bài giảng như vầy. Bài thơ sở dĩ ngắn ngủn và không có nối tiếp, returns hay sequels gì hết ráo, là tại vì bái đường xong thì còn chuyện gì mà nói nữa ? Tiểu thơ thì cứ tà tà sản xuất nhi đồng theo nhịp đầu năm, cuối năm rồi lại đầu năm... Thôi tiên sanh từ đó tức nhiên quăng bút lông để tập cầm bình, cầm muổng, thay tã, ẵm con... Sáng sớm gặp tiên sanh thần sắc trầm ngâm, tay xách thùng tã, chưn thả bộ ra bờ sông, hỏi tiên sanh tên gì tiên sanh cũng quên tuốt, còn nói gì mà mần thơ nữa ! Chớ giả tỉ như tiểu thơ rủi ro thẳng cẳng, ôm trọn khối tình đi thẳng xuống chốn tuyền đài làm tang chứng, thì thế nào Thôi tiên sanh cũng để lại, không những chỉ vài bài, mà rất có thể là vài tập thơ Ðường lâm ly bi thãm kịch cho đời sau tha hồ ngâm cứu mệt nghỉ. Kết luận của sư phụ quả thiệt tàn bạo lạnh lùng trần trụi khiến bao nhiêu tâm hồn mới lớn đang bay bỗng theo cơn gió lãng mạn, tự nhiên đứng gió rớt lịch bịch. Nhưng nghĩ kỹ thấy không hẳn sư phụ vô lý. Nhứt là bây giờ mình cũng đã vào tuổi của sư phụ năm xưa, thê tử đùm đề, tối ngày nghe bầy khỉ con giỡn đã uýnh lộn rồi réo Daddy ơi Daddy hỡi, bèn nhớ lại lời sư phụ năm xưa mà càng khâm phục sư phụ suy luận chí lý.

Câu chuyện tình cực kỳ lãng mạn đầy màu sắc hoa đào này đến nay đã là chuyện cổ tích. Các nhơn vật chánh lẫn phụ của câu chuyện đã ra người thiên cổ tự đời kiếp nào, chỉ có hai món đào hoa và Ðông phong thì tuyệt nhiên không chịu biến thành cổ tích. Nên mỗi năm xuân về các văn nhơn tài tử vẫn còn được ngắm hoa đào tiếu ngạo gió Ðông, nâng chén bồ đào mà nhắc lại sự tích cụ Thôi năm xửa năm xưa. Nhưng đó chỉ là sự biệt đãi trời ban cho các tài tử đãt Bắc. Người xứ Ðàng Trong và Lục Tỉnh Nam Kỳ nếu không có dịp ra Bắc, kể cả có dịp đi mà lại không nhằm mùa xuân, thì cả đời cũng không biết hoa đào là cái thứ bông gì ? Bởi vậy các tài tử miệt Lục Tỉnh ngày đầu năm trong lúc ngồi chờ mai nở, bèn nhắp chén cà-nhắc lấy trớn rồi đọc Ðường thi, ngâm tới bài thơ cụ Thôi thì thấy có cái gì không suông sẻ, càng ngâm càng thấy lãng xẹt, trong ngoài trớt quớt ! Ðầu đuôi cũng tại cái giống hoa đào trong bài thơ của cụ khiến tài tử Lục Tỉnh đang uống cà-nhắc khi không mắc nghẹn.

Không có hoa đào nhưng xứ Ðàng Trong mùa xuân mai vàng trổ bông đầy rừng đầy nội. Cũng không làm ỏng làm eo như cây đào đòi hỏi phải được ướp lạnh trong suốt mùa đông thì sang xuân mới chịu trổ bông, cây mai đặc biệt dễ tánh thích ứng với nhiều vùng khí hậu khác nhau. Nhiều giống mai vẫn sống tươi tốt trong điều kiện mùa đông lạnh cóng ở vùng Giang Nam Trung Quốc cũng như ở các vùng núi xứ Ðàng Ngoài. Các bạn ta chắc cũng nhiều lần bắt gặp bóng dáng cây mai xuất hiện trong thi từ của Trung Quốc lẫn Ðại Việt. Nhưng một trong những bài thơ có nhắc tới cây mai mà mình cho là vừa hay nhức tim mà cũng vừa khiến nhức đầu là một bài thơ rất ... thiền ! Xin tắt ngang một chút để nói về bài thơ độc đáo này.

Bài thơ nếu như có đượm mùi thiền thì cũng là việc tức nhiên. Tại vì được sáng tác bởi một thiền sư Ðại Việt sống vào đời nhà Lý. Ðó là thiền sư Mãn Giác. Nếu như mình nhớ không lầm thì sư cụ trụ trì ở một ngôi chùa trên núi. Trước hiên chùa có một cây lão mai. Thời gian là khoảng cuối đông. Trời rất lạnh và tuyết đã rơi liên tiếp mấy ngày trước. Sáng hôm đó tuyết đột nhiên ngừng rơi và trời hưng hững nắng. Sư cụ bèn cao hứng chống thiền trượng đi dạo. Ra tới trước hiên sư cụ bắt gặp trên một cành mai, dù nhiều chổ vẫn còn phủ tuyết, đã trổ một bông mai tươi rói rung rinh trong gió sớm. Và bài thơ Cáo tật thị chúng vì vậy đã được chào đời.

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa tận lạc

Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai

Hay nhức tim thì chắc các bạn ta đều đã có dịp tự cảm nghiệm. Nhưng không biết có huynh đệ tỉ muội nào đã thấy nhức đầu như mình chưa ?

Chuyện nhức đầu thứ nhứt là sư cụ than thở cái già đã tới trên đầu (Lão tòng đầu thượng lai). Người đời mà nói vậy thì tự nhiên mình sẽ hiểu là tóc xanh nay đã phai màu, hoặc hiểu theo ý nghĩa của thế kỷ 21 thì gentleman đã tới lúc phải tới beauty salon hằng tháng để tô màu mái tóc của mình rồi. Nhưng sư cụ sáng ra vốn không cần soi gương chải tóc thì sao lại than thở bi bạch phát ? Hay tại vì đang mùa đông nên sư cụ tạm để tóc cho ấm đầu ? Nhức đầu !

Chuyện nhức đầu thứ nhì là các tài liệu của các nhà ngâm cứu thi từ Thiền học mà mình có dịp xem qua đều giải thích là niềm hứng khởi sáng tác của sư cụ là một đóa mai mới trổ kiêu hãnh trong gió tuyết. Nhưng từ trước tới nay cho dù mình đã cẩn thận đeo kiếng đọc tới đọc lui đọc xuôi đọc ngược bài thơ này cả trăm bận (chỉ có kiểu đọc upside down là chưa thử) cũng không hề thấy sư cụ có nhắc tới đóa mai nào trong bài thơ này. Sao kỳ vậy cà ? Ðình tiền tạc dạ nhứt chi mai. Quả nhiên tuyệt bút ! Nhưng sư cụ rõ ràng nói là cành mai chớ đâu phải bông mai. Hay là sư cụ lại chơi chữ theo cái kiểu mà mấy trăm năm sau cụ Yên Ðỗ đã xài lại, khiến mấy trăm năm sau nữa có tên học sanh Pê Ký bí lù ?

Nhắc tới mới nói. Bữa đó sư phụ giảng bài hát nói Mẹ Mốc của cụ Yên Ðỗ. Sau khi giải nghĩa các chữ khó và cặp câu đối chữ nho, sư phụ ra hạn nội trong mười lăm phút cả đám gần năm chục tên nửa đười ươi phải quảng diễn bài hát nói này thành văn xuôi. Nhưng không đầy năm phút sau thì có tên học sanh xuất hạn mồ hôi dầm dề khăn tay lau không kịp. Học sanh đau bụng chăng ? Không phải. Học sanh đang bí lù vì không biết làm sao diễn ra văn xuôi câu kết Khôn em dễ bán dại này. Mèn đét ơi ! Sao mà cụ Yên Ðỗ nói chuyện gì mà sâu sắc hóc búa quá cỡ vậy ? Vái ông địa lát nữa sư phụ đừng kêu mình. Van vái túi bụi vậy mà vừa hết mười lăm phút thì sư phụ đã chỉ ngay học sanh bắt đọc bài quảng diễn văn xuôi của hắn. Chẳng đặng đừng học sanh đành phải đứng dậy cà lăm cà lắp một hồi rồi cuối cùng tới câu kết học sanh liều mạng thú thiệt với sư phụ đệ tử ngu muội thiệt tình không hiểu ý cụ Yên Ðỗ muốn nói gì ! Tưởng đâu sẽ bị sư phụ dũa một trận vì tội dốt, ai dè sư phụ đắc ý cười khà khà rồi giải thích là câu kết của bài hát nói vốn là một thành ngữ rất phổ thông ở xứ Ðàng Ngoài thời bấy giờ, Khôn em dễ bán dại này khó mua. Tên học sanh xứ Ðàng Trong, vốn dốt thành ngữ xứ Ðàng Ngoài, nghe xong muốn té ngữa ! Thì ra toàn bộ sâu sắc hóc búa ở đây là chỉ vì theo luật thơ thì câu kết của bài hát nói phải vừa đúng sáu chữ, nên cụ Yên Ðỗ cứ khôn em dễ bán dại này rồi tỉnh bơ chấm hết !

Trở lại chuyện cành mai của thiền sư Mãn Giác. Có lúc mình đã đoán mò là có thể sư cụ định nói Ðình tiền tạc dạ nhứt chi mai, nhứt hoa khai. Nhưng cũng tại vì câu kết của bài thơ phải vừa đúng bảy chữ nên sư cụ cứ Ðình tiền tạc dạ nhứt chi mai rồi dứt ngang cho vừa đẹp ? Thời trai tráng mình còn có một suy đoán táo bạo hơn nữa, căn cứ trên cấu trúc văn phạm của chữ nho ở thế kỷ 11 (dốt hay nói chữ mà !). Theo chữ nho thì một cành mai phải nói là nhứt mai chi. Sư cụ tinh thông chữ nho như vậy thì không thể có chuyện nói ngược là nhứt chi mai được. Mà chữ nho vào thế kỷ 11 thì chưa có các dấu chấm, phết, hai chấm hay ngoặc đơn ngoặc kép cho câu văn được rõ nghĩa. Như vậy nhứt chi mai có thể nên hiểu là một cành đã trổ bông mai. Nên câu kết của bài thơ có thể viết lại với quốc ngữ hiện đại với đầy đủ các dấu đại khái như vầy : Ðình tiền tạc dạ nhứt chi: mai . Chữ mai cuối được hiểu ngầm là bông mai. Nhưng bàn gì thì bàn, tóm lại hậu sanh thì cứ tiếp tục đoán mò. Có phải vậy không thì chỉ có sư cụ mới có đủ thẩm quyền trả lời. Mà đời sau thì còn biết tìm sư cụ ở đâu mà hỏi ? Cho nên trong đám hậu sanh hễ tên nào bị trời ban cho cái tánh thứ gì cũng muốn biết tới căn nguyên nguồn cội, mà rủi đã xem qua bài thơ này thì nhứt định sẽ bị độc bông mai của thiền sư hành cho te tua.

Thiền sư ơi hỡi thiền sư !

Cành mai sư cụ, bể đầu hậu sanh !

Có tên hậu sanh đã uống thuốc nhức đầu từ thuở opthalidon dài dài tới panadol. Một bữa chải tóc phát hiện lão tòng đã khởi sự đầu thượng lai mới giựt mình tỉnh ngộ, nhớ lại chặng đường bao nhiêu năm qua hao phí tinh thần nghĩ ngợi chuyện hư vô (nếu không muốn nói là vô duyên), bèn đổ quạu rồi tự dũa mình rằng :

Thiền sư chống gậy thưởng mai

Mắc chi các hạ thày lay nhức đầu ?

Thiền sư cỡi hạc đã lâu

Mắc chi còn đứng lầu bầu cành mai ?

Thôi mình stop, không lầu bầu cành mai của sư cụ nữa.

Trở lại chuyện phân bố địa lý của cây mai. Mặc dù sống được ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, nhưng sống hùng, sống mạnh, sống dai, phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ thì vẫn là cây mai ở xứ nhiệt đới. Xứ Ðàng Trong, từ Xứ Quãng vào tới Lục Tỉnh Miền Ðông, là phúc địa của họ nhà mai. Lý do là cây mai ưa đãt thịt, xốp, thoáng, không úng nước. Chỉ có lúc trổ bông cây mai mới cần nhiều nước, những giai đoạn sinh trưởng khác cây mai chịu hạn khá giỏi. Vì vậy, Lục Tỉnh Miền Tây thì chỉ có những nơi đãt cao như Châu Ðốc, Hà Tiên hoặc đãt cồn nhiều cát mới thích hợp cho cây mai. Những vùng khác đa số đãt sét nặng, phù sa ngập nước, muốn chơi mai phải trồng trong chậu.

Tới đây xin nhắc lại một chút về các tài tử miệt Lục Tỉnh vào đầu thế kỷ trước. Ða số đều là các công tử của các đại điền chủ tiền rừng bạc biển, ruộng vườn cò bay. Họ có thể không được chăm chỉ học hành cho lắm nhưng rất chuyên cần trong các nghề ăn chơi, trong đó có nghề chơi cây kiểng. Có thể nói trong đám tài tử miệt Lục Tỉnh, trong khi rất i-tờ về hoa đào, thì lại có rất nhiều cao thủ trong nghề chơi mai. Nhớ thời gian còn ngao du ở miệt Lục Tỉnh, trong một dịp tình cờ mình đã có duyên quen biết được một cao thủ chơi mai ở đãt Phụng Hiệp2. Người ở đây gọi cụ là ông Ba Kiểng. Kiểng không phải là tên thiệt của ông. Chỉ vì ông chơi kiểng nên người ở đây gọi như vậy để phân biệt với các ông Ba khác ở vùng này. Cụ Ba Kiểng vốn là một thầy giáo đã về hưu trước năm 70. Có thể nói ông cụ là hình ảnh tiêu biểu của tài tử miệt Lục Tỉnh vào thập niên 20 - 30; phong lưu tao nhã; nói năng từ tốn; cử chỉ khoan thai khuôn thước; ưa nói thơ Lục Vân Tiên; rất sành hát bội; tinh thông chữ nho, lưu loát tiếng Pháp-Lang-Sa; sáng sớm uống trà, chiều tối uống rượu đế bằng cái chung sứ nhỏ, khi uống với bạn luôn luôn hai tay nâng chung ngang mày; sành các nghề ăn chơi, đặc biệt là chơi đồ cổ, cây kiểng, chim, cá. Còn cái nghề tứ đổ tường thì mình xin miễn bàn tới. Mình gặp ông cụ khoảng năm 81, lúc đó tuổi ông cụ đã xấp xỉ bảy bó.

Bữa đó là lần thứ ba mình theo ghe hàng bông3 tới rẩy của nhà cụ mua mía cây. Lúc tính tiền vì người nhà của cụ không có tiền lẻ để thối nên họ mời mình vào phòng khách uống trà trong khi chờ họ đi đổi tiền. Lần đầu tiên bước vô phòng khách nhà cụ mình đã giựt mình. Hàng cột gỏ cả ôm, bộ tủ thờ ông bà và bàn ghế cẩm lai bóng láng, bộ ván ngựa bốn miếng dày cả tấc. Gia thế ông cụ có lẻ một thời rất hiển hách. Nhưng điều đặc biệt nhứt là trên vách treo rất nhiều tranh vẽ và liễn đối lộng kiếng mà trên mỗi bức đều có dấu triện son của tác giả. Các tranh vẽ thì có các bộ mai lan cúc trúc, xuân hạ thu đông, ngư tiều canh mục, tùng hạc, đám cưới chuột và vinh qui bái tổ. Các cặp liễn tức nhiên đều viết chữ nho và cũng tức nhiên là mình...ngọng ! Thiệt ra cũng đọc được ít chữ. Và cũng nhờ ít chữ này mà mình được ông cụ kết bạn vong niên ! Mặc dù không biết đẹp thế nào là rồng bay phượng múa nhưng mình thấy nét chữ trên các cặp liễn rất vuông vắn đều đặn, bút lực hùng hậu. Các nét sổ thẳng băng, nét hoành bay bướm, nét móc gọn gàng sắc sảo. Ðang lúc ngắm nghía và lẩm nhẩm đọc vài chữ quen mặt thì nghe có tiếng guốc lốp cốp bước lên bực thềm, nhìn ra thấy ông cụ đang bước vô nhà. Ông cụ mặc bộ bà ba trắng, râu tóc muối nhiều tiêu ít và cao lạ thường, có lẻ cao hơn mình một cái đầu. Mình bị cái thần sắc rất tiêu sái của ông hớp hồn nên theo phản xạ tự nhiên liền xá ông cụ một cái. Ông cụ nhìn mình có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng cũng cười vui vẻ rồi mời mình ngồi xuống uống trà trò chuyện. Tới lúc đó mình mới biết ông cụ là đại lão gia nhà này và ông cụ nói mình cứ gọi cụ là ông Ba như những người trong vùng này gọi cụ cho tiện. Nói chuyện nắng mưa một lát dần dà ông cụ mới nhập đề:

‘Không phải qua tò mò, lúc nảy qua mới bước vô nhà thấy chú em đây đương đọc liễng. Qua nghe láng cháng chú em đọc cái gì minh nguyệt. Qua hỏi thiệt tình chớ không có ý gì khác. Có phải chú em đây có từng học chữ nho ?’

Mình thất kinh vội vàng khai thiệt vốn liếng chữ nho đếm không đầy mười đầu ngón tay mà dám nói chữ trong nhà tấn sĩ thiệt là thất kính ! Ông cụ nghe xong cười khà khà rồi nói để ông cụ đọc hết mấy cặp liễng cho mình nghe. Mình chưa kịp trả lời thì người nhà ông cụ đi đổi tiền về tới. Mình nhận tiền thối rồi cáo từ ông cụ vì sợ thầy Bá, con rể của chủ ghe, đang ngồi ngoài ghe sốt ruột chờ mình. Ông cụ đưa mình ra tận ghe. Mình giới thiệu thầy Bá với ông cụ xong, ông cụ mới ân cần mời mọc:

‘Qua gặp hai chú em bữa nay thiệt cũng là duyên bèo nước. Vậy qua mời hai chú em chiều nay cỡ năm giờ tới nhà qua ăn cơm’.

Ðang nghĩ trong bụng coi bộ ông cụ kết mình rồi, chưa kịp trả lời thì thầy Bá đánh hơi thấy có mùi ăn nhậu nên khỏi cần hỏi ý mình đã vọt miệng nhận lời liền.

Tối hôm đó sau khi đã vô mấy chung trước kính ông cụ sau kính các chú bác con của cụ, mình để thầy Bá ở lại chống giữ mặt trận miền tây, còn mình thì theo ông cụ lên nhà trước để nghe ông cụ vừa đọc vừa khoe liễn. Sau khi nghe cụ đọc, giải thích và kể lai lịch từng cặp liễn mình mới biết ngoài ông cụ ra, các tác giả còn có cụ thân sinh của cụ, thầy đồ dạy cụ chữ nho và các bạn bè của cụ nữa. Hết liễng rồi cụ nói về tranh vẽ. Sau khi kễ lai lịch từng bức tranh, ông cụ đã nói một câu rất triết lý:

‘Người có hùng tâm tráng chí thì ưa vẽ rồng vẻ cọp. Qua ưa cây kiểng nên chỉ vẽ bông huê tùng hạc cho vui’.

Sẵn đây mình kể sơ một chút về thời kỳ mình đi tiếu ngạo sông nước Lục Tỉnh. Ngày hôm sau thì ghe đã lên đầy mía, dừa, trái cây đủ loại, mình với thầy Bá nhổ neo chạy suốt một ngày xuống chợ Cà Mau đậu lại bán vài bữa. Rồi xuống tới chợ Cả Nẩy (Năm Căn) bán thêm một ngày nữa thì ghe sạch láng nổi phình. Sáng hôm sau hai tên chạy thẳng xuống tận cửa Ông Trang mua cá khô và tôm khô. Xế trưa hai tên thả neo ở gần xóm nhà sàn ở cửa biển rồi chèo xuồng nhỏ lên xóm để mua khô. Xin nói ngay cho các bạn ta rõ. Ở đây không có đường bộ. Trên thì trời, dưới thì biển, sau lưng là rừng đước. Trong rừng cũng không có đường đi. Chỉ có trước sình, sau sình, chính giữa cũng sình. Mỗi nhà đều lót thêm sàn bằng cây đước trước nhà, nhà này nối nhà kia tạo thành con đường đi từ đầu xóm tới cuối xóm. Hai tên vừa cặp xuồng vô cầu jetty thì bà con trong xóm, con nít lẫn người lớn liền bu tới wellcome nồng nhiệt. Chuyện này cũng thường thôi. Cái xóm cửa biển này ngoài mấy tên lái khô ra ít khi có khách tới thăm. Mà ngay cả lái khô miệt trên (tức từ miệt Cần Thơ đổ lên Sài Gòn) cũng ít khi chịu khó mò xuống tận cửa biển mua khô nên dân trong xóm mỗi tháng đều phải chở khô lên chợ Cả Nẩy bán cho các chủ vựa. Bữa nay có hai tên lái khô chịu khó mò xuống đây dĩ nhiên được bà con cả xóm hoan nghinh nhiệt liệt. Rồi tấp vô một căn nhà có quen biết với thầy Bá. Bà con lối xóm kéo vô chật nhà. Vợ con chủ nhà lăng xăng nấu nước pha trà đãi khách. Sau vài chén trà hai tên lái khô bắt đầu nói chuyện business với cả xóm. Nói một hồi nhìn ra thấy nước ròng, mé nước đã rút khá xa. Mình bèn để thầy Bá ở lại chống đỡ mặt trận miền đông rồi đi ra ngoài hú các nhi đồng xà lỏn đen thui lại. Ðược tám em, đầu trọc cũng có, kẹp tóc cũng có. Mình đưa cho các nhi đồng hai chục (tiền năm 81) nhờ các em ra bãi sò huyết hốt cho anh Hai một mớ sò. Mình nghĩ sò huyết ở đây rẻ, với số tiền đó chắc mấy em cũng hốt cho mình được một thúng. Mãy đứa nhỏ mừng nhảy tưng tưng rồi cứ hai đứa một xuồng lập tức chèo đi. Chừng xế chiều thì đám xà lỏn đen thui trở về với bốn xuồng sò huyết ! Không những vậy, mà toàn sò huyết cỡ ba bốn ngón tay, tức loại thượng hạng, không quá lớn (thịt dai) cũng không quá nhỏ (chưa đủ huyết). Các em vừa về tới đã lăng xăng hốt sò huyết dưới xuồng đổ vô cần xé. Xong xuôi được hai cần xé đầy nhóc rồi bàn giao lại cho anh Hai. Một xà lỏn kẹp tóc hỏi anh Hai:

‘Như dầy đủ ăn chưa anh Hai ? Như mà anh Hai thấy chưa đủ để sáng mơi nước gòng4tụi em đi hốt thiêm nữa’

Anh Hai bèn á khẩu luôn không nói được tiếng nào. Thầy Bá bước ra cười hề hề hỏi:

‘Anh đưa tụi nó bao nhiêu vậy ?’

‘Hai chục’

‘Hèn gì ! Thứ quỉ này ở đây ghẻ ghề. Cho tụi nó mười đồng là quá gồi’

Mèn đét ơi ! Trong đời mình chưa bao giờ thấy sò huyết loại thượng hạng ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này mà lại rẻ như vậy.

Tới chiều tối thì tôm khô, cá khô đã lên đầy ghe và như thông lệ hai tên lái khô ở lại xóm nhà sàn nghỉ đêm. Chủ nhà lên hai cây đèn măng-xông sáng trưng và cả xóm kéo tới chật nhà. Ca sĩ, nhạc sĩ vọng cổ, đờn kìm, đờn gáo đều có mặt. Mọi người ngồi trên sàn quây thành hai vòng lớn. Thức ăn dọn ra ê hề, đủ thứ tôm cua cá và nếu không nướng thì luộc. Nước chấm thì có nước mắm sống dầm gan cá dứa. Món này thiệt hết ý, nếm qua một lần là nhớ hoài. Sau khi mọi người đã an toạ, chủ nhà kiêm chủ xị mới lấy cái can rượu đế 25 lít ra rồi rót vô mấy cái chai, rồi từ chai mới rót ra chén. Không phải mình viết lộn, đó là cái chén ăn cơm. Mùi rượu đế bốc lên mình chưa vô đã thấy muốn xỉn. Ngó thấy sau lưng chủ xị còn ba cái can 25 lít nữa. Mình thúc cùi chỏ thầy Bá dặn nhỏ:

‘Lát nữa tui xỉn trước ông nhớ bỏ tui vô mùng, đừng để muổi tha tui nha’

Thầy Bá chưa kịp trả lời thì chủ xị đã cầm chén rượu lên hô to:

‘Chăm phần chăm nha bà con !’

Mọi người, dỉ nhiên kể cả mình, đều cầm chén lên rồi một hơi chăm phần chăm. Rượu chảy xuống tới đâu mình ‘nghe’ tới đó. Vừa để chén xuống, không nhịn được mình khè một cái như rắn hổ. Một thiếm ngồi kế bên hỏi:

‘Chú em ở miệt Cần Thơ chắc hổng quen uống gượu bằng chén phải hôn ?’

Vừa nói thiếm vừa thò tay bốc một con cua móc 5 tổ chảng rồi tách cái mai cua đầy nhóc gạch cua đỏ tươi ra, đưa cho mình nói:

‘Chú em làm miếng gạch đi ! Bảo đảm chén sau ngọt xớt liền.’

Chén sau có ngọt xớt hay không hạ hồi phân giải, nhưng gạch cua đỏ tươi và cứng như miếng cheese thì ngon hết lời diễn tả. Chưa xong cái mai cua thì bà thiếm này đã đưa cho mình một tô cháo.

‘Chú em húp miếng cháo cá dứa đi ! Giã gượu mau cấp kỳ.’

Mau cấp kỳ hay không cũng hảy để hạ hồi phân giải, nhưng cháo cá dứa mà mình tin chắc là không có MSG (bột ngọt hay mì chính là cái quái quỉ gì ở đây không ai biết !) thì quả nhiên ngọt xớt bởi vì chỉ có mấy mẹ con hột gạo mà có tới mấy con cá dứa trong đó.

Quên kể các bạn ta nghe là ở miệt Cà Mau, Năm Căn này phụ nữ từ đời cố hỉ cố lai đã được đối xử bình đẵng, ít ra là bình đẵng về mặt ‘chăm phần chăm’. Ngồi quanh sàn rượu không phải chỉ có các chú các bác hoặc thanh niên trai tráng mà còn đủ mặt các mợ các thiếm các dì. Và cái chén rượu của họ cũng không hề nhỏ hơn bất kỳ cái chén nào khác. Có nhìn tận mắt các thiếm các dì một hơi cạn hết chén không hề nhăn mặt mình mới tin lời thầy Bá là thiệt, không hù mình chút nào.

Mới xong nửa tô cháo thì chủ xị lại rót đầy chén rượu rồi lại chăm phần chăm. Cũng chưa thấy ngọt xớt nhưng lần này mình khè nhỏ hơn một chút. Rồi ca sĩ Út Lớn mở đầu chương trình văn nghệ với bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu.

‘Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên con kinh Ngã Bảy, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ga ư ư...’

Ra để làm gì thì mình chịu thua vì tới đó thì mình đã làm đào binh bỏ mặc thầy Bá chống đỡ cả mặt trận miền đông lẫn miền tây. Sáng ra thức dậy thấy mình đang nằm trong mùng chớ không phải giữa rừng. Coi như thầy Bá đã không phụ lời gởi thác của mình. Ðiểm tâm, trà lá xong xuôi hai tên ra cầu jetty từ giã cả xóm cửa biển rồi chèo xuồng ra ghe. Mình lấy mấy thùng chứa nước biển để dọc đường tắm cho đám sò huyết. Chiều hôm đó về tới Cà-Mau thì đã hết giờ hành chánh, hai tên phải đậu lại một đêm để sáng hôm sau đóng thuế và xin giấy chứng nhận được chở tôm cá khô đi Cần Thơ. Xế chiều hôm sau hai tên về tới Phụng Hiệp, bèn chạy thẳng tới nhà cụ Ba Kiểng. Nhờ được tắm nước biển dọc đường nên đám sò chỉ chết chừng một góc tư. Hai tên khiêng lên một thúng sò tặng ông cụ. Ông cụ coi bộ mừng lắm. Sò huyết Cà-Mau từ lâu đã vắng bóng ở đây tại vì không còn mấy người chịu chở cái giống thuế cao mau chết này nữa.

Tới lui nhà ông cụ vài lần mình mới được biết ông cụ là một cao thủ chơi mai. Vườn mai nhà cụ lúc đó có gần ba chục gốc. Tãt cả đều trồng trong chậu sành tráng men mà ông cụ nói là hồi xưa phải đặt mua tận trên Thủ Dầu Một, mổi chậu lớn cỡ cái lu. Ðiểm độc đáo nhứt là tất cả đều là lão mai. Gốc nào cũng không dưới ba chục tuổi và coi rất đẹp ‘lão’, da dẻ sần sùi, lốm đốm rêu phong và đều được cắt tĩa uốn nắn thành các hình thù rất đẹp mắt mà ông cụ đặt thành nhiều tên nghe rất hay như là phu thê, mẫu tử, tam đại đồng đường ... Về loại thì bộ sưu tập mai của ông cụ cũng không thiếu thứ gì. Hoàng mai, Bạch mai, Tứ Quí, Chiếu Thủy đều có đủ và đi theo từng bộ. Mỗi bộ đều theo số chẵn, như bộ hai, bộ bốn, bộ sáu, bộ tám. Tuổi của các gốc trong cùng một bộ phải xấp xỉ bằng nhau mới quý.

‘Thầy đồ của qua hồi xưa có dạy là người chơi mai trong chậu rất kỵ chơi mai bộ lẻ. Phải là bộ chẵn mới có ý may mắn tốt lành. Cũng có ngoại lệ tỉ như mình kiếm được một gốc mai cả trăm tuổi đẹp thất kinh cả làng mai, không dễ gì kiếm được một gốc khác tương xứng với nó, lúc đó mới chơi mai độc chiếc.’

Cặp Chiếu Thủy thì ông cụ đặt ở hai bên hòn non bộ, bởi vì, theo như ông cụ nói thì bông mai Chiếu Thủy hướng xuống mà ở dưới không có thủy thì thiệt là thất cách. Lúc mình thường tới lui nhà ông cụ thì đã khoảng giữa năm nên trong vườn mai chỉ có bộ Tứ Quí gồm bốn gốc là đang trổ bông. Mai Tứ Quí thì trổ bông cả bốn mùa. Riêng bộ Tứ Quí của ông cụ thì trổ toàn bông mười cánh và có hương thơm rất đượm. Ðó cũng là lần đầu tiên mình thấy bông mai Tứ Quí. Ông cụ còn kể cho mình nghe rất nhiều chuyện trong nghề chơi mai mà nếu mình còn nhớ đủ chắc kể hoài không hết. Chỉ kể vài chuyện mình còn nhớ.

‘Qua học cách thúc và kềm cho mai nở đúng vào chiều ba mươi hay sáng mùng một Tết từ thầy đồ dạy qua chữ nho. Mánh lới thì tới lui cũng cỡ bao nhiêu đó. Tưới nước, tuốt lá, che tối, cắt thân. Ăn thua là trồng lâu riết rồi quen tánh từng gốc mà gia giãm thì nở bông đặng như ý. Qua còn học hỏi thêm trong sách vở. Hồi xưa xứ mình chưa có sách vở canh nông nên qua mua sách của Tây về coi. Thấy họ dạy cách dùng các loại phân bón theo phân lượng khác nhau thì cũng có thể thúc hay kềm cây ra bông. Qua có lên Sài Gòn mua phân bón của tây về pha nước tưới thì thấy có hiệu nghiệm.’

Nghe ông cụ bàn về cách sử dụng các phương pháp vật lý và hóa học để thúc đẩy hay làm chậm trổ bông mình cũng thấy ngứa ngái canh nông dữ lắm ! Nhưng hoàn cảnh lúc đó không cho phép một tên lái buôn hàng bông thuyết trình cho cao thủ chơi mai miệt Lục Tỉnh về đề tài phân bón nên mình đành ráng nhịn.

Có lẻ ấn tượng sâu đậm nhứt mà mình còn nhớ là lối phân tách của ông cụ về mùi hương của mai.

Cây mai quí thì bông phải có mùi thơm tỉ như mỹ nhơn phải có hương có xạ. Nhưng mà thơm quá nồng thì cũng không quí. Mùi thơm phải thang thảng kín đáo mà đượm lâu. Ðêm khuya ngồi giữa vườn mai đang nở khề khà vài chung tới khuya về tới nhà áo quần còn phảng phất mùi thơm. Thơm như vậy mới là mai thượng hạng. Nhưng mà nói gì thì nói, mùi mai thì phải đợi tới lúc mai nở mới biết, không thể chỉ nói suông miệng vài ba câu mà hai chú em đây hiểu hết được. Tết năm nay cỡ chiều ba mươi hai chú em tới đây rồi mình vừa lai rai ba sợi vừa coi mai nở. Qua coi đã mấy chục năm rồi mà vẫn không biết chán. Trước khi nở chừng một tiếng thì đã thấy phảng phất mùi thơm. Rồi canh tới lúc cánh bông đầu tiên từ từ xoè ra, thiệt là hồi hộp dữ đa !’

Hai tên lái mía dạ dạ không ngừng miệng. Chiều ba mươi Tết năm nay tụi cháu nhứt định tới coi mai nở với ông Ba. Nhưng cả hai tên rốt cuộc đều hứa lèo với ông cụ, tại vì tháng chín năm đó chiếc ghe hàng bông rời cửa Ông Trang rồi một đi không trở lại. Tối ba mươi hai tên lái khô lái mía ngồi uống cà phê trên bãi biển đảo Bí-Ðồng nhìn ra khơi tối thui, gió thổi lồng lộng. Thầy Bá hỏi mình:

 ‘Anh Dũng nè ! Vậy chớ giờ này ở Việt Nam là mấy giờ vậy ?’

‘Cũng cỡ giờ ở đây thôi. Chuyện gì mà hỏi vậy ?’

Thầy Bá chắc lưỡi, giọng như hơi nghẹt mủi:

‘Cỡ này chắc ông Ba đương ngóng anh với tui dữ lắm. Hổng chừng đang gủa tụi mình hứa lèo’.

Tức nhiên là vậy rồi.

Họ hàng nhà mai tới thế kỷ 18 thì được vua Gia Long ơn tứ thêm một tên em nuôi nữa, đó là cây Nam Mai. Nhưng đối với bà con miệt Lục Tỉnh thì trước sau nó vẫn là cây mù u. Tương truyền thì vào thời Gia Long Tẩu Quốc, nói nôm na là thời kỳ vua Gia Long bị vua Quang Trung rượt chạy có cờ khắp miệt Lục Tỉnh, một lần vua Gia Long đang trốn trong rừng Cà Mau thì năm hết Tết đến. Chạnh nhớ tới kinh đô Phú Xuân giờ này mai vàng đã nở đầy rừng, khắp nơi rộn rịp đón xuân, còn mình thì trốn chui trốn nhủi trong rừng Cà Mau, mặc tình cho muỗi cắn. Nhà vua đang lúc sầu đời thì bắt gặp đám mù u trong rừng bắt đầu trổ bông trắng xóa. Nghĩ là lòng trời chưa muốn diệt họ Nguyễn Phước nên giữa chốn rừng hoang đã ban cho mình cành mai thưởng xuân, vì vậy mà nhà vua đã đặc cách phong con nhỏ lọ lem mù u lên hàng công chúa Nam Mai, được đứng chung với họ hàng nhà mai vương giả.

Cây mù u thân mộc nhưng không lớn lắm và mọc hoang khắp miệt Lục Tình chỗ nào cũng có. Bông mù u màu trắng, năm cánh, tương tợ như Bạch Mai. Vào dịp Tết bông mù u nở trắng xoá cả cây coi cũng khá đẹp. Trái mù u không biết có ăn được không vì mình chưa hề nghe nói có ai ăn. Chỉ nhớ lúc còn nhỏ ở quê ngoại Long An, đám con nít xà lỏn đen thui chơi trò nhà chòi, đứa nào làm bà nội bà ngoại thì ưa lấy trái mù u cắt ra làm ống ngoáy trầu. Hột mù u thì dân nghèo rất hoan nghinh vì có thể ép lấy dầu thắp đèn. Ðèn mù u cháy lù mù và khói bay mù mịt hôi rình. Lúc nhỏ năm nào mình cũng theo bà ngoại đi thăm ruộng và năm nào cũng được hửi mùi đèn mù u ở nhà các tá điền mệt nghỉ. Tới giờ vẫn chưa quên được cái mùi hôi rình bất hủ đó. Sau này dầu lửa viện trợ của Mỹ bán tràn đồng, rồi tới Ngưới Cày Có Ruộng, nông dân bắt đầu thấy đèn mù u làm ô nhiễm không khí nên đã không ngần ngại tiễn đưa cây đèn này đi thẳng vào lịch sử.

Ðể chấm dứt mục Tạp Ghi này mình xin được kể một câu chuyện trích trong một hồi ký của cụ Vương Hồng Sển. Cụ Vuơng xuất thân từ một gia đình điền chủ ở Bạc Liêu và cũng là một tài tử miệt Lục Tỉnh cùng trào với cụ Ba Kiểng. Là một cao thủ chơi mai có tiếng, cụ Vương còn là một tên tuổi lừng lẩy trong giới sưu tầm đồ cổ. Mình rất thưởng thức các công trình biên khão của cụ Vương. Nhưng đáng tiếc là cho tới lúc cụ qua đời, thủy chung mình chỉ được đọc sách và xem hình của cụ, chưa bao giờ được hân hạnh gặp mặt. Trong một hồi ký, cụ Vương có kể lại một câu chuyện rất thú vị của một anh nông dân tá điền nhà ông.

Ảnh mãn năm lục đục trong ruộng ít khi ra chợ. Ngày rằm tháng Chạp, Vương công tử đi vô ruộng thăm tá điền và tặng quà chợ. Vô chòi nhà ảnh Vương công tử thấy ảnh đang làm cữ sốt rét, nằm trùm mền rên hừ hừ. Sẵn mang theo cà phê, Vương công tử bèn pha cho ảnh một ly xây chừng. Ảnh uống xong, lát sau chỗi dậy lăng xăng chạy tới chạy lui, miệng cười tít toét. Thứ này là thuốc đa ! Hổng phải đồ uống chơi. Rồi ảnh lấy lá chuối khô gói kỹ bịch cà phê lại cất để dành. Bữa đưa ông Táo ảnh xách một cặp vịt mập lù ra tặng Vương chủ điền. Vương công tử lúc đó vừa mua được một cặp mai rất ưng ý bèn đem ra khoe ảnh. Ảnh hỏi công tử giá bao nhiêu. Công tử nói hai đồng. Ảnh tròn xoe cặp mắt ngó công tử ý chừng dân ngoài chợ sướng quá phát khùng nên mới chịu bỏ ra hai đồng để mua cái thứ chưng mấy ngày rồi bỏ. Mãy bữa sau ảnh trở ra ôm theo một bó bông mù u mới cắt còn tươi rói đầy búp trắng xóa tặng Vương công tử. ‘Thứ này cũng đẹp đâu có thua mấy cành mai kia. Mà khỏi tốn tiền !’

 

CHÚ THÍCH

1. Theo sư phụ giải thích thì chữ Ðông ở đây là tên Ðông Quân, vị thần cai quản mùa xuân. Thành ra Ðông phong lại là gió xuân chớ không phải gió đông. Vì vậy, khi viết chữ Quốc Ngữ, chữ Ðông nên viết hoa mới đúng cách.

2. Phụng Hiệp là một thị trấn buôn bán rất phồn thịnh, thuộc Cần Thơ, nằm trên đường sông nối liền Cần Thơ - Cà Mau, cách Cần Thơ chừng ba mươi cây số. Ðây cũng là chổ gặp nhau của năm nhánh kinh khác nên còn có tên là Ngã Bảy.

3. Ở miệt Lục Tỉnh, đồ hàng bông bao gồm rau, trái, mía, dừa...

4. Người dân miệt Bạc Liêu, Cà Mau không phát âm được phụ âm r mà đổi thành g hết.

5. Cua móc là loại cua ở hang. Mỗi hang chỉ ở một con. Người ta dùng một cái móc để bắt cua. Cua móc thịt chắc, ngọt và nhiều gạch hơn cua biển.