NHÂN LỄ THANKSGIVING, THỬ BÀN VỀ CÁC THỨ ƠN NGHĨA TRONG CUỘC ĐỜI
Nguyễn Châu, Nov 30, 2004

(Theo VNNB)- Trong cuốn "Văn Minh VN" ở phần Sinh hoạt tình cảm, tác giả Lê Văn Siêu đã băn khoăn đặt câu hỏi:

- Cái gì làm cho con người thành một con người ?

Câu hỏi mới nghe qua thấy có phần ngờ nghệch, vì
đã gọi là "con người" sao lại còn hỏi: cái gì làm "con người thành một con người ?".Trong quá trình tiến hóa của muôn loài trên trái đất, có lẽ loài người là phức tạp nhất. Chính vì sự phức tạp này mà từ thời thượng cổ, người ta đã đi tìm một định nghĩa cho con người. Câu hỏi: "Thế nào là người ?" đã được đặt ra. Và trong Lịch sử Triết học, đã có khá nhiều chuyện lý thú về định nghĩa con người.

Chuyện thứ nhất: "Một hôm, nhà hiền triết Platon, khi giảng sách cho các môn
đệ, đã bảo rằng "người là một con vật có hai chân, mà không có lông vũ. Triết gia Diogène đã châm biếm câu nói đó một cách tài tình và dí dỏm. Đó là vào hôm sau, ông mang đến một con gà sống, vặt trụi lông, quăng ra giữa lớp học của Platon mà bảo:

- "Đấy! Con người của Platon !"

Platon bị Diogène chế nhạo là vì
đã đưa ra một định nghĩa quá ư thô thiển và thiếu sót về con người.Diogène là một nhà hiền triết Hy Lạp một thời được nhiều người biết đến, vì ngay giữa ban ngày sáng sủa, ông cầm đèn đi lang thang ở ngoài đường; hỏi đi đâu, Diogène đáp: "Tôi đi tìm con người". Thái độ này của Diogène đã làm cho nhiều người đương thời nghĩ rằng ông ta là một kẻ khùng. Vì đối với đa số thì chung quanh Diogène toàn là người cả, sao lại còn đi tìm người? Diogène khùng điên, ngớ ngẩn hay Diogène quá sâu sắc? Thế nào là một con người đầy đủ nhân tính? Những sinh vật gọi là người trong xã hội đầy tranh chấp, hận thù, ngu muội, kiêu căng, hung tàn, độc ác và đầy dục vọng từ bản năng chung với loài thú, có xứng đáng với danh nghĩa con người đích thực chăng? Thì ra công cuộc cầm đèn lang thang giữa ban ngày đi tìm"con người" của Diogène là một hành trình tìm nhân tính, tìm một con người đầy đủ đặc tính làm người. Cũng nên biết thêm: Diogène là một hiền triết không có nhà cửa, vợ con, ông sống lang thang như một người tiền sử, mọi rợ, chỗ ở là một cái thùng đựng rượu trống.

Triết thuyết của Diogène là thuyết coi thường cuộcđời. Ông không có dụng cụ,
đồ đạc gì ngoài cái bát để ăn cơm và uống nước. Nhưng, một hôm, nhân khi đi qua một con suối, ông thấy một người đàn bà chụm tay lại vốc nước lên uống, ông đã suy tư và nhận thấy cái bát của ông không còn là cần thiết nữa, ông đập vỡ cái bát và từ đó bốc cơm bằng tay, vốc nước uống.

Đông Phương xưa, Khổng Phu Tử
đã từng than: "Vi nhơn nan! Vi nhơn nan!" Làm người khó thay! Cái Gì Làm Cho Con Người Thành Người Trở lại với nỗi băn khoăn của nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Lê Văn Siêu. Sau khi đặt câu hỏi trên, cụ Lê Văn Siêu đã đưa ra câu trả lời rằng:"- Không phải cái mặt, mà là cái lòng người ta ăn ở với nhau."- Vậy thì cái gì làm cho xã hội loài người thành một xã hội của loài người?"- Nhất định cũng không phải những dụng cụ chứng tỏ một trình độ tiến hóa kỹ thuật mà là những tình người khi sử dụng những dụng cụ ấy trong cuộc sống chung với nhau." (Lê Văn Siêu, Văn Minh VN, trang 101).Trên đây là đoạn "Khai lối" của Lê Văn Siêu vào nếp sinh hoạt tình cảm của xã hội VN. Lê Văn Siêu đã bắt đầu từ tình vợ chồng, thứ đến là tình cha con, thứ ba là tình anh em, họ hàng, thứ tư là tình thầy tớ, thứ năm là tình thầy trò và bè bạn. Nội dung của năm chương sách tác gia? Lê Văn Siêu đã phân tích và làm nổi bật những nét độc đáo và đặc thù của những mối liên hệ tình cảm và cách bộc lộ tình cảm trong cuộc sống. Theo Lê Văn Siêu, nếp sống tế nhị này của người Việt chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim trong khung cảnh tế nhị của nếp sống dân tộc, không thể dùng phương pháp duy lý Tây Phương để phân tích một cách gọi là khoa học thực nghiệm được...Theo Lê Văn Siêu thì "cái lòng ăn ở với nhau" là yếu tố cần thiết để con người thành người, nghĩa là biểu lộ đầy đủ nhân tính.Cái lòng ăn ở với nhau ở đây phải chăng là Tình, Nghĩa và Lòng Biết Ơn?

Ơn Là Gì ?

Ơn cũng thường gọi là Ân (gốc Hán Việt).
Ơn là những việc làm, những hành vi giúp ích, đem lại phúc lợi cho người khác (tha nhân) do lòng thương yêu, từ ái thúc đẩy, chứ không bắt nguồn từ một ý chí vụ lợi nào cả. Ơn là một biểu lộ cao quý của tình yêu, một tình cảm ban bố vô điều kiện...Chữ Ân này Hán tự viết theo lối hội ý gồm chữ Nhân(có nghĩa là: do từ, bởi do...) phía dưới là chữ Tâm (có nghĩa là trái tim, là lòng yêu thương), như vậy "ơn" là hành động phát xuất từ lòng ["do tâm"]. Hán tự còn một chữ Ân có bô. Tâm nữa với ý nghĩa là sự lo lắng, là tình cảm đậm đà như trong từ ngữ "ân cần".Một chữ đồng âm "ân" khác có nghĩa là thịnh vượng,đầy đủ, chẳng hạn: "ân phú" là giàu có. Chữ "ân" này không có bộ tâm, nghĩa là không thuộc về tình cảm.

Những Tiếng Kép Có Chữ "Ân"

Hình như
Ơn hay Ân từ ngàn xưa và khắp đông tây đều đã rất phổ biến trong mọi sinh hoạt hàng ngày của loàingười. Quốc gia nào dường như cũng có tiếng cảm ơn vàcó nhiều cách để bày tỏ lòng biết ơn. Có lẽ vì thế cho nên trong ngôn ngữ Trung Hoa và VN đã có khá nhiều từ ngữ để chỉ các hình khái khác nhau của hành vi gọi là Ơn hay Ân.

Theo thứ tự mẫu tự xin trình bày lần lượt như sau:

1. Ân ái: theo từ
điển Thiều Chửu thì "ân ái" là vợ chồng cùng yêu nhau và cho nhau tất cả. Có khi nói là ái ân có nghĩa là những hạnh phúc, vui sướng vợ chồng ban cho nhau. Từ điển Đào Duy Anh ghi là "ái tình rất thân thiết" (affection mutuelle).

2. Ân ba: nguồn ân lâu bền như sóng (bienfaits inépuisables)

3. Ân cần: lo lắng chu
đáo.

4. Ân
điển: Sự ban thưởng của vua nhân ngày khánh tiết (dịp vui mừng lớn).

5. Ân
đức: Lòng hay làm ơn, ban ơn.

6. Ân hận: lòng thấy hối tiếc về hành vi sai phạm của mình kèm theo ý hướng muốn
đền bù.

7. Ân huệ: Việc tốt, phúc lợi
đem lại cho tha nhân vì lòng thương bao dung... Chữ "Huệ" cũng có nghĩa là lòng thương cao quý đối với con người. "Huệ" là cho ơn,thể hiện Ơn bằng hành vi cụ thể (faveur, favor).

8. Ân khoa: Khoa thi
đặc biệt dành cho sĩ tử thời quân chủ nhân dịp vui mừng của quốc gia

9. Ân nghĩa: Mối tương quan giữa người ra
ơn và người nhận ơn. (sẽ bàn thêm trong phần Ân Nghĩa).

10. Ân nhân: người làm
ơn (cũng gọi là ân gia).

11. Ân sủng:
Ơn huệ từ vua ban xuống (faveur impériale).

12 Ân tình: những cho nhận, ban phát do tình yêu (favors of love).

13. Ân trạch:
Ơn vua dành cho triều thần.

14. Ân tứ:
Ơn vua.

15. Ân xá: tha thứ một cách quảng
đại, vô điều kiện.

Những Thứ Ân Hay
Ơn Trong Cuộc Đời

Đời sống tình cảm của con người ở-đời rất phong phú và phức tạp. Sự phức tạp của tình cảm thường phát xuất từ vấn
đề tình nghĩa. Tình là lòng yêu thương và nghĩa là ý thức về điều hay lẽ phải, về những cái nên làm, đáng làm. Tình là những biểu lộ của trái tim, nghĩa là những hành vi từ khối óc, trí tuệ. Con người có đủ tâm trí thì tình nghĩa mới điều hòa và cuộc đời mới hạnh phúc an vui.Xưa nay, người đời sợ nhất là những kẻ vô tình và bất nghĩa, hoặc những người bội nghĩa vong ân. Vì nhân loại đã chịu biết bao nhiêu nỗi đau thương do hành vi vô ơn bạc nghĩa gây nên! Do đó vấn đề "Ơn nghĩa" rất cần tìm hiểu sâu xa. Tuy xuất phát từ Tâm, nhưng mỗi hoàn cảnh biểu lộ đều có một số dị biệt, cho nên cần khảo sát xem có bao nhiêu thứ Ơn trong cuộc đời.

1)
Ơn Cha Mẹ

Ca dao VN ghi nhận:

"Ơn cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là
đạo con."

Ơn cha mẹ thường
được nói đến một cách tổng quát như "ba năm dưỡng dục, chín tháng cưu mang", hoặc "Cha sinh mẹ dưỡng đức cù lao"... Chúng ta có thể tạm liệt kê như sau:

-
Ơn sinh sản: mẹ mang thai 9 tháng 10 ngày... chịu đủ thứ nhọc nhằn , vất vả khi con nằm trong bụng. Khi con ra đời,mẹ phải chịu nhiều đau đớn, khổ sở. Cha thì phải lo ngược xuôi để nuôi sống và sắm sửa vật dụng cho đứa con tương lai, lo chu toàn cấp dưỡng cho người mẹ,
cầu mong cho "mẹ tròn con vuông".

-
Ơn nuôi nấng: bú mớm, bồng ẵm, chăm sóc, nâng niu...mẹ cha phải thường trực lo lắng cho đứa bé.

-
Ơn thuốc thang, canh thức, dỗ dành khi ốm đau.

-
Ơn dạy bảo: từ sơ sinh đến lớn khôn, cha mẹ đều luôn luôn lo uốn nắn, dạy bảo để trau dồi đức hạnh và trí tuệ để con nên người.

2)
Ơn Thầy Và Bạn

-
Ơn Thầy: con người sinh ra nếu không được giáo dục thì đời sống sẽ rất gần với bản năng thú vật, do đó con người phải học tập, phải được giáo huấn.(Sách xưa có câu "Dưỡng nam bất giáo như dưỡng lư, dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư: nuôi con trai mà không dạy thì như nuôi lừa, nuôi con gái mà không dạy thì như nuôi heo!"). Trong quá trình giáo huấn để nên người,thầy là người nhiều công lao và hao tổn tâm trí nhất.Thầy khai sáng kiến văn và đạo lý.

-
Ơn Bạn: trong quá trình thành nhân, bạn cũng là một thành phần rất cần thiết. Con người cần có bạn như"chim có đàn cùng hót, tiếng hót mới hay, ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh". Bạn là người đồng trang lứa, cùng thanh khí, tức là cùng một ước mơ, sở thích, chí hướng với mình... thường chung vui, chia buồn,khuyến khích, cổ vũ mình trong những lúc gặp trở lực,nghịch cảnh hoặc thất bại. Trong học vấn, bạn có khi giúp ta hữu hiệu hơn thầy: "Học thầy không tầy học bạn".Tình bạn càng thắm thiết chân thành bao nhiêu thì ơn bạn càng sâu xa bấy nhiêu.Ở đây cũng cần phân biệt rõ hai thành phần thường haybị nhầm là một, đó là bạn và bè. Người ta thường gọi chung là bạn bè, nhưng thực sự thì Bạn và Bè rất khác nhau.

- Bè, nghĩa
đen là nhiều khúc gỗ, nhiều cây tre, cây nứa hoặc cây chuối kết lại với nhau trong lúc khẩn cấp hoặc cần cấp để vuợt qua sông, để chạy nước lụt... Qua cơn khẩn cấp thì bè không cần thiết nữa, người ta rã bè ra, gỗ tre rời sẽ đem về làm những việc khác. Trong cuộc sống con người cũng vậy, lúc nguy nan khẩn cấp, vì vấn đề sống còn và tự vệ, nhiều người khác nhau về nhiều mặt, vẫn có thể kết bè với nhau để giải quyết hoặc đối phó với những việc xảy ra trước mắt. Chẳng hạn, mọi người trong khu vực bịnước lũ đe dọa, kêu gọi nhau ra cùng đào đất đắp bờ ngăn nước; trên đường dài nhiều người tụ với nhau thành bè nhóm để cuộc đi đỡ lẻ loi, để vui, để đối phó với những bất trắc trên hành trình... Khi thủy nạn đã qua, cuộc đi đã đến nơi, đến chốn... nhóm người đã đồng hành này sẽ tan rã, ai lo phận nấy, ai về nhà nấy, không có trách nhiệm gì với cuộc sống của nhau cả. Đó là tính chất của "Bè": kết hợp với nhau vì một mục đích và tư lợi nhất thời và trước mắt.

- Trái lại, Bạn
đúng nghĩa phải là những người đồng cảm, đồng tâm, cùng một chí hướng, kết hợp với nhau vì tình nghĩa, có trách nhiệm hỗ tương đối với cuộc sống của nhau, chia buồn, chung vui, vinh quang cùng hưởng,hoạn nạn cùng chia... Kinh nghiệm và sách sử đã cho ta thấy rất nhiều tình bạn cao quý, keo sơn, ân nghĩa tròn đầy, thủy chung như nhất.

3)
Ơn Tình Nhân (Ơn Lòng)

Sau
ơn sinh thành, dưỡng dục, ơn thầy, ơn bạn là ơn người tình. Đây là một loại ân sâu nặng, nhưng người đời thường ít quan tâm để nhắc nhở. Thật vậy, bình thường, con người khi đến tuổi yêu đương, ai cũng khao khát có được một Tình nhân đích thực, nghĩa là một người bạn khác phái "tâm đầu, ý hiệp", tức là có chung một tần số rung cảm của tâm hồn trước cuộc đời và vũ trụ. Một đôi tình nhân đích thực phải là hai tâm hồn hòa hợp một cách tự nhiên, chứ không phải là cố gắng điều chỉnh cá tính của mình cho thích hợp với cá tính khác biệt của người kia, nhằm mục đích chiếm hữu cho được những gì mình thích nơi người mà mình cho là yêu. (Sự điều chỉnh để cho vừa lòng đối tượng đang chinhphục, qua thời gian sẽ bị lệch lạc trầm trọng hơn, vì tính tình cố hữu chỉ có thể che giấu, chứ không thể nào thay đổi được. Một nhà tâm lý học Pháp đã nhậnđịnh rằng: "La nature chassée, revient au galop" nghĩa là "Bản tính tự nhiên bị xua đưổi, nó sẽ phi nước đại trở về". Thật vậy, tính tình con người bị ý chí khống chế vì hoàn cảnh, khi có dịp bộc lộ nó sẽ rất vũ bão.)

Tình nhân hoặc vợ chồng là những nguồn ân ngọt ngào và tha thiết nhất trong cuộc sống của một con người bình thường. Người tình
đích thực là một người biết cho và biết nhận, sẵn sàng ban ơn và chịu ơn của đối tượng. Ân tình là sự thông cảm, bao dung, tha thứ,an ủi, vỗ về... khi gặp gian nan nghịch cảnh...

"Xin chàng chớ có giận hờn,
Đổ mồ hôi em chặm, ngọn gió lồng em che."

Ơn lòng là
ơn của sự tương tri... hiểu biết nhau một cách chân thật.
Kiều
đã nói Thúc Kỳ Tâm:

"Nàng rằng: "Muôn
đội ơn lòng..."
Và Thúc sinh
đã khẩn khoản:
"Sinh rằng:"Từ thuở tương tri
Tấm riêng riêng những nặng vì nước non..."

Câu chuyện "Phạm Công - Cúc Hoa" là một
điển hình về ơn lòng: Phạm Công là một học trò nghèo, Cúc Hoa là con một quan Tri Phủ bề thế, cao sang. Trọng tài, mến đức và thương cảm hoàn cảnh người học trò mồ côi cha đang lo nuôi dưỡng mẹ già... Cúc Hoa đã đem lòng yêu thương tha thiết. Tình yêu mãnh liệt của Cúc Hoa đã buộc quan Tri Phủ phải gả nàng cho Phạm Công. Cúc Hoa đã giữ đúng đạo làm vợ, làm dâu... để chồng rảnh rang lo học hành.

Truyện kể rằng
đến ngày lên Kinh đô ứng thí, Cúc Hoa đã dốc hết tiền của dành dụm đưa cho chồng làm lộ phí. Phạm Công đã rớm nước mắt chia đôi với vợ số tiền nhỏ ấy, để cả hai cùng sống còn... Cái khăn quàng cho đỡ rét Cúc Hoa trao cho, Phạm Công cũng xin vợ được xé làm đôi mỗi người một nửa... Ôi! Ân tình này làm sao quên được! Cho nên, sau khi đỗ Trạng Nguyên, vua ép gả công chúa hai lần, Phạm Công đều xin vua tha mạng vì đã có người vợ nghèo và hai con nhỏ ở quê nhà. Tức giận, vua đã toan dùng đến cực hình để trị tội "khi quân", nhưng Phạm Công vẫn một mực từ chối... Phạm Công - Cúc Hoa là truyện hư cấu để nói lên những ân tình sâu nặng của tình yêu đích thực. Chuyện thực xảy ra trong đời, chúng ta có bà Trần Tế Xương và nhấtlà bà Phan Bội Châu. Cụ Phan đã khóc và kể ơn người bạn đời một cách thảm thiết! Cụ Phan đã viết thư chocon, trước khi cụ bà mất như sau:

"Này con! Chúng con ôi! Cha mày e chết ở rày mai, có lẽ mẹ mày không
được một phen gặp nhau nữa! Nhưng nếu Trời thương ta, cho hai ta đồng chết, thì gặp nhau ở suối vàng cũng vui thú biết chừng nào!

"Nhưng
đau đớn quá! Mẹ mày e chết trước ta, Ta hiện giờ nếu không chép sơ những việc đời mẹ mày cho chúng con nghe, thời chúng con rồi đây không biết rõ mẹ mày là người thế nào, có lẽ bảo mẹ ta cũng như người thường thảy cả.......
"Bây giờ ta
ư lúc sắp sửa chết, mà chưa chết, đem lịch sử mẹ mày, nói với mày:
"Mày nên biết, nếu không có mẹ mày thời chí của cha mày
đã hư hỏng những bao giờ kia!

.....................

"Bây giờ nhắc lại, trước khi ta xuất dương, khoảng hơn mười năm, nghèo
đói mà lại bạn bè nhiều, khốn cùng mà chí vững, thiệt một phần nữa là nhờ ơn mẹ mày.Mối ân tình ấy làm sao cầm được giọt nước mắt biết ơn? Ôi! những người tình, người vợ, người chồng... tìm nhau, đến với nhau, chẳng phải vì tiền, vì của, hay vì những hào nhoáng bên ngoài... mà là vì những tình cảm cao cả và cao quý, vì những rung động tâm thức chung, riêng giữa trường đời thường đầy vị kỷ, nhỏ nhen!

Ôi! những người tình, những cặp vợ chồng
đã chỉ biết trải lòng ra để thương yêu và thông cảm nhau, không hề mảy may đặt vấn đề quyền lợi với nhau, mà chỉ thấy có một trời thương yêu không bờ giới... Không những chỉ lo cho thân thể và linh hồn của nhau... mà còn lo lắng cho cả dòng họ của nhau... để rồi tự nguyện hy sinh hết thân tâm vì nhau... Người tình đích thựcthường cảm thấy vui thú, hạnh phúc khi được hy sinh cho người mình yêu.

Xin trích vài câu khóc vợ của cu. Phan Bội Châu
để tạm kết phần "Ân tình":
"Tình cờ gặp khách năm châu, hơn ba mươi năm, chồng có như không, cố
đứng vững mới ghê, ngậm đắng, nuốt cay tròn đạo mẹ.

"Khen khéo giữ nền tứ
đức, ngoài bẩy chục tuổi, sống đau hơn chết, thôi về mau cho khỏe, đền công trả nợ nặng vai con.

"Ba mươi năm cầm sắt khéo xa nhau, mưa sầu gió thảm chỉ bóng làm chồng, ngồi ngó trẻ con rơi lệ nóng.

"Dưới chín suối thân bằng như hỏi
đến, lấp biển dời non, nào ai giúp bác, chỉ còn mình lão múa tay không".

4)
Ơn Tri Ngộ

Đây cũng là một nguồn ân
đem lại nhiều hạnh phúc và lạc thú trong cuộc đời, nhất là đối với những ai từng gặp đổ vỡ vì nhầm lẫn hoặc bị nhiều ngộ nhận. Có một người bạn tâm giao là điều mà hầu hết mọi người đều ao ước. Bạn tâm giao không phải là để nhờ vả gì nhau trong cuộc sống vật chất. Đây là sự gặp gỡ kỳ diệu giữa phần tâm linh của hai người tuy sống riêng biệt mỗi người một phương, một cảnh...khác nhau, cách xa... nhưng cứ nghĩ đến nhau thì lại thấy vui, thấy được ấm lòng và không thấy mình cô đơn,trống vắng. Trông thấy nhau thì vui, vắng nhau thì nhớ,cùng vui, cùng buồn...

Trong các ngành nghệ thuật như cầm, kỳ, thi, họa... có một tri kỷ là
điều thật cần thiết. Vì nếu không gặp được tri kỷ thì lấy ai mà "tỏ nỗi hàn ôn", lấy ai "gởi gắm niềm tâm sự", tìm đâu ra người hiểu đượcmình qua một khúc đàn, một nước cờ, một lời thơ,một nét họa... Không có ơn tri ngộ, ta sẽ rơi vào tâm trạng cô đơn, khắc khoải của Tố Như:

"Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?"
(Xưa nay những buồn hận trời khó hỏi
Thời thế vần xoay ta vẫn trong nỗi oan này
Không biết ba trăm năm sau
Trên
đời có ai sẽ khóc Tố Như chăng?)

Gặp
được một người bạn hiểu được tâm sự của mình, ai mà không cảm thấy sung sướng, thấm thía tình người và biết ơn tri ngộ?Ơn tri ngộ sẽ làm cho cửa lòng ta mở rộng đến những tình yêu bao la và cho ta gặp được chính lòng ta... giúp ta trở thành con người đầy đủ nhân tính hơn... "yêu em anh bỗng từ bi bất ngờ!"
Cuộc tri ngộ của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê trong văn học sử VN là một tình bạn tâm giao thắm thiết
đến nỗi khi Dương Khuê tạ thế, Nguyễn Khuyến đã cảm thấy mất đi hầu hết hứng thú của cuộc đời:

"Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua, không phải không tiền, không mua!
Câu thơ nghĩ
đắn đo không viết,
Viết
đưa ai, ai biết mà đưa?
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia có gảy, ngẩn ngơ tiếng
đàn..."

(Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê)
Ơn tri ngộ cũng có tác dụng xóa hết biên thùy của giai cấp...

5)
Ơn Xã Hội - Quốc Gia

Đây là những
ơn thiên về lý trí. Không ai có thể sống mà không cần đến xã hội vì sống đích thực là sống-cùng và sống-với người khác. Do đó, mọi người trong xã hội đều phải biết ơn lẫn nhau. Cơm ăn, áomặc, nhà ở, xe cộ, thuốc thang, giải trí... vân vân,đều là những công ơn trong cuộc đời. Trong cảm thức này, người đời đã luôn luôn cảm ơn nhau trong các sinh hoạt hỗ tương hàng ngày. Ơn quốc gia tức là ơn những người khai quốc và trị quốc, lo mở mang bờ cõi, giữ gìn an ninh, thăng tiến cuộc sống vì phúc lợi của muôn người. Ngày xưa trong thời quân chủ, ơn này được gọi là "ơn vua lộc nước" hoặc là "ơn mưa móc" vì vua thường được đồng hóa với quốc gia, vua là con trời cho nên có mưa, có sương (móc)... thấm nhuần thần dân.

6)
Ơn Trời, Ơn Thiên Nhiên, Súc Vật

Hầu hết người VN thuần túy
đều tỏ ra biết ơn tất cả những gì đem lại an sinh cho loài người.

Ca dao ghi nhận:

"Ơn Trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu..."

đối với con Trâu, người nông dân đã xem như một thành viên trong sản xuất, một "người" bạn:

"Trâu
ơi! ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với tạ
Cái cày với nghiệp nông gia,
Ta
đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài
đồng trâu ăn."

Súc là những con vật
được thuần hóa và nuôi trong nhà.Súc vật hỗ trợ rất đắc lực cho sự sống con người,từ sức lao động đến thực phẩm, thuốc men...Trong nhiều xã hội, nhất là xã hội Âu, Mỹ... súc vậtcó một vị trí khá đặc biệt trong gia đình. Chó, mèo,lợn... thường trở thành "bạn" gần gũi của con người,được nâng niu và thương quý rất mực...Trong tinh thần biết ơn thiên nhiên vũ trụ này, ngườiViệt xưa đã tôn thờ và tạ ơn cả Ngũ Hành. Mỗi làng theo truyền thống đều có miếu Ngũ Hành thờ năm bà:Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ... (Cây cối mùa màng tốt tươi thì tạ ơn Bà Thủy, Bà Mộc... Thợ rèn thì cúng tạ ơn Bà Hỏa, Bà Kim... còn Bà Thổ thì nhà nào cũng phải cúng, vì tất cả đều nhờ ơn đất mới có chỗ nương tựa...).

7)
Ơn Thiêng Liêng:

Về mặt tôn giáo có các ân sau
đây:

- Ân Tam Bảo:

Giáo lý Phật có nói
đến bốn ân lớn. "Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ". Tứ trọng ân gồm: ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn quốc gia, xã hội và ân tam bảo. Ân tam bảo là ơn Phật, Pháp và Tăng.

a. Ân Phật Bảo:
ơn người đã trường từ bảo vị vương cung, thê tử quyến thuộc để xuất gia tìm đạo giải thoát cho chúng sanh, chịu sáu năm khổ hạnh tu trì, tham thiền 49 ngày dưới gốc cây Tát-Ba-La để chứng ngộ và ơn thuyết pháp giáo hóa trong 49 năm.

b. Ân Pháp Bảo: nhờ Pháp [giáo lý] ta mới biết lối tu hành, khử ác, hành thiện...
để thoát ly khổ đau, sanh tử... được thanh tịnh an vui.
c. Ân Tăng Bảo:
ơn các bậc xuất gia tu hành đã phiên dịch, diễn giảng kinh điển giữ Pháp luân thườngchuyển...

-
Ơn Chúa: Thiên Chúa Giáo có "Kinh Lạy Ơn" nội dung có những ơn như sau: "Chúng tôi lạy ơn đức Chúa Trời thiêng liêng sáng lán vô cùng, đã cho tôi đặng làm người, cùng chịu nhiều ơn nhiều phép Hội Thánh nữa, và lại cho phần xác tôi ngày hôm nay đặng mọi sự lành,lại cho ngôi hai xuống thế làm người chịu chết trên cây thánh giá vì tôi..."

Tóm lại, con người sinh ra và sống ở
đời là đã chịu rất nhiều những ơn huệ của nhau. Đối với người có tấm lòng thanh cao rộng mở thì sự ghi ơn rộng khắp muôn nơi. Trái lại đối với người ích kỷ, lòng dạ lúc nào cũng mưu cầu lợi lộc cho bản ngã của riêng mình,thì không có gì gọi là ân nghĩa cả, mọi tương giao chẳngqua chỉ là trao đổi, lợi dụng nhau... khi không còn giá trị để lợi dụng, hoặc nhận thấy không thể lợi dụng được nữa thì xoay lưng, sấp mặt, thậm chí tìm cách triệt hạ người đã giúp mình từ những ngày hàn vi,"vạn sự khởi đầu nan" để chứng tỏ là tôi chẳng hềmang ơn ai, chẳng ai có thể làm ơn cho tôi!
Nhân Ngày Lễ Tạ
Ơn của Hoa Kỳ, chúng tôi xin tìm hiểu sơ lược các thứ ơn trong cuộc đời và xin nhắc lại một vài điều ân nghĩa trong truyền thống dân tộc Việt qua hành vi làm ơn và đền ơn.

Thi Ân & Báo Ân - Làm
Ơn Và Trả Ơn

Hầu như
đa số người đời khi thi ân đều do sự thúc đẩy tình cảm, của lòng nhân ái, của cái mà Mạnh Tử gọilà "Trắc ẩn chi tâm", [lòng thương xót người gặp hoạn nạn] hành động giúp đỡ đồng loại bộc phát, không baohàm mong cầu sự báo đáp nào cả. Câu nói mà bà phiếu mẫu "mắng" Hàn Tín là một biểu lộ cụ thể. Người làm ơn nhằm mục đích buộc người ta biết ơn mình thì thực chất đây không phải là ơn mà chỉ là một loại nợ, tạm ứng mà thôi. Người làm ơn đích thực không cần báo. Làm ơn không cầu báo, "thi ân rồi quên đi", không bao giờ nhắc lại, không kể cho người thứ ba nghe biết thì chắc chắn không có oán.

Trong Kinh Luận Bảo Vương Tam Muội, trích dẫn bởi Mười
Điều Tâm Niệm, điều thứ 8 ghi rằng: "Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có mưu đồ."
Đức Phật
đã dạy bằng một hình tượng rất cụ thể:

"Coi thi ân như
đôi dép bỏ", nghĩa là xem việc giúp đỡ kẻ khác là một cách "Thi ân mạc niệm." Đừng bao giờ nhớ là mình đã có làm ơn cho ai. Kinh Phật còn có nói:

"Người bố thí hàm ân người
được bố thí." Thế thì vấn đề ân nghĩa và báo đền không còn gì quan trọng nữa.

Thế nhưng, về mặt
đạo lý, làm ơn là một hành vi thuộc tình cảm, dù người làm ơn không nghĩ đến chuyện được biết ơn, đền ơn, người nhận ơn vẫn thường không quên ơn. Đó là nguyên ủy của ngày Thanksgiving tại Bắc Mỹ.

Thật vậy, người da
đỏ bản xứ khi giúp đỡ cho di dân Anh đang đói lạnh, bệnh và chết trong mùa đông khắc nghiệt vào năm 1620, họ không có một ý tưởng lợi lộc nào, hành vi này khởi từ lòng nhân mà thôi. Lễ Tạ Ơn đầu tiên mà di dân Anh cử hành ở Plymouth vào mùa thu năm 1621, đã kéo dài nhiều ngày chung vui giữa di dân và người da đỏ bản xứ. Thanksgiving là ngày vừa tạ ơn trời, vừa tạ ơn người.

Nhớ
Ơn Là Một Hành Vi Cao Đẹp. Người VN cũng thường nhắc nhở lòng biết ơn:

- "Ơn ai một chút chớ quên"
- "Một miếng khi
đói bằng một gói khi no
Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn vàng,"

Nhiều khi, người Việt biết
ơn một cách bao quát như:"Uống nước, nhớ nguồn", hoặc "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", và "ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng"...Tâm tư tình cảm này của người Việt cũng tương tự với tinh thần của Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ.Đối với văn hóa Việt, lòng biết ơn được xem như là một tiêu chuẩn đạo lý."Ơn ai một chút chớ quên" chính là "Thọ ân mạc vong" đây là lời khuyên xuất phát từ quan niệm "không ai có thể tự hào là không cần đến người khác" khi còn sống ở đời. Sully Prud'homme, một nhà văn Pháp cũng đã chia sẻ tư tưởng này trong một bài thơ với câu kết "Nul ne peut se vanter de se passer des hommes." Nói cách khác, sống ở đời mọi người đều chịu ơn nhau.Theo J.M. Massieu thì "Biết ơn là trí nhớ của con tim."Người Việt có truyền thống rất tôn trọng tình cảm biết ơn. Ca dao tục ngữ có rất nhiều câu nhắc nhở:

"Một ngày nên nghĩa, chuyến
đò nên quen" hoặc"Một chữ nên thầy" và xa hơn nữa "nhất dạ bá ân"(Chỉ một đêm có đến trăm ân huệ).Có lẽ, tâm trạng muốn quên ơn bắt nguồn từ chỗ người "thi ân có ý mưu đồ." Ngoài ra, có một loại ơn mà ít người muốn quên, lại luôn luôn nhắc nhở, có khi tự hứa là sống để dạ, chết mang theo nữa: đó là ơn lòng, ơn tri ngộ. Ơn người hiểu được tâm sự và chí hướng của mình, đó là Ơn người đã cứu mình thoát khỏi cảnh cô đơn tâm thức.