tùy bút:  khảo các chữ  ngày tháng

                                             phạm văn bân



Ngôn ngữ nào cũng có những điểm "bất hợp lý", khó giải thích cho "lọt lỗ tai"!  Tiếng nói Việt Nam không phải là một ngoại lệ mà ngược lại, có thể gọi là một loại tiếng khá rắc rối trong lãnh vực ngôn ngữ học.  Rắc rối bởi vì quá trình lịch sử lâu đời của nó: hết bị Trung quốc đô hộ trong cả ngàn năm thì bị Pháp chiếm làm thuộc địa khoảng 100 năm và sau đó là giai đoạn bị làm thí điểm chiến tranh cho các cường quốc với hậu quả vài ba triệu người Việt Nam vượt biên ở tứ tán khắp nơi trên thế giới.

 

Tiếng nói và chữ viết Việt Nam ngày nay phản ánh toàn bộ các biến chuyển vừa nêu: chịu ảnh hưởng cũng như vay mượn nặng nề tiếng Trung quốc - đặc biệt nhất là tiếng Quảng Đông (Cantonese) , sử dụng chữ Hán khoảng 2,000 năm trong việc hành chánh, giáo dục, văn học, v.v...; kế tiếp là việc nảy sinh chữ Nôm được sử dụng "bán chính thức" song song với chữ Hán trong khoảng 700 năm; và cuối cùng là cách viết kiểu chữ a b c do các vị truyền giáo phương Tây sáng tạo cho và bị chánh quyền thực dân Pháp cưỡng bức sử dụng khoảng hơn 100 năm tính cho đến nay - trong cái rủi có cái may vì nhờ đó mà chữ viết ngày nay của Việt Nam có được nhiều thuận lợi.


Tuy vay mượn rất nhiều tiếng Hán (ước tính đến hơn 70%) và một ít tiếng Cambodge (Cà mau, sóc, trăng, mưa, nước, v.v.), Thailand (đồng, rẫy, lưng, bụng, ức, cằm, v.v.), Pháp (sốp phơ, đồng xu, nhà băng, đốc tơ), Anh (cao bồi, kẹo xơ quynh gôm, máy phắc, gọi phôn, xe bớt, bán xeo) nhưng tất nhiên tiếng nói Việt Nam vẫn có những nét riêng biệt của nó và hoàn toàn không có "dây mơ, rễ má" nào đến tiếng Trung quốc hoặc bất cứ thứ tiếng nào khác.  Cái nét riêng căn bản và rõ ràng nhất là tiếng nói Việt Nam có tới 6 thanh chính và 2 thanh phụ, trong khi tiếng Bắc kinh chỉ có 4 thanh ( âm bình, dương bình, thượng thanh và khứ thanh).  Thêm vào đó, những tiếng Việt Nam thuần túy thường mang tính chất tượng thanh và tượng hình mà khó có tiếng nước nào dịch cho sát nghĩa được, cứ đọc lên là có thể cảm thấy ngay tiếng kêu hoặc hình ảnh rất sống động!  Thí dụ: ca'c tiếng tượng thanh như: róc rách (nước suối róc rách), tí tách(mưa rơi tí tách), tức tưởi (khóc tức tưởi), bù lu bù loa (khóc bù lu bù loa), uềnh oàng (ếch kêu uềnh oàng), chí chít (chuột kêu chí chít), meo meo (mèo kêu meo meo) hoặc tượng hình như: lồm cồm (ngã xuống lại lồm cồm ngồi dậy), lững thững (lững thững nhìn Trời, nhìn Đất), bâng khuâng (gặp nhau trong chốc lát nhưng ra về mà lòng cứ bâng khuâng thương thương nhớ nhớ), nhấp nhô (đồi núi nhấp nhô), lom khom, lác đác trong bài thơ "Bước tới đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan:


            Lom khom dưới núi, tiều vài chú
            Lác đác bên sông, rợ mấy nhà


Trở lại, trong quá trình lịch sử bị "chiến tranh tan nát" như đã nói, rất ít bằng chứng lưu lại, hầu hết các công việc khảo cứu về văn học, lịch sử Việt Nam khó có thể làm theo tinh thần thực nghiệm của phương Tây mà chỉ có thể căn cứ vào truyền khẩu, phỏng đoán!  Căn cứ vào suy luận riêng của tôi, bài viết này nhằm mục đích khảo các chữ về ngày tháng của tiếng Việt Nam.  Tại sao người Việt Nam gọi ngày thứ nhất của một tuần là "Thứ Hai" ?  Tại sao gọi tháng thứ  nhất của  năm là "Tháng Giêng" và tháng thứ 12 là "Tháng Chạp" ?

Để đo lường thời gian, căn cứ vào sự hiểu biết thời xưa, người Trung Đông (Middle East) dựa vào sự lưu hành của 7 hành tinh chung quanh trái đất "đứng yên" mà chia thời gian ra làm 7 ngày và dùng tên của 7 hành tinh đó để phân biệt các ngày trong một tuần lễ.  Đó là: Mặt trời, Mặt trăng, Mars (Hỏa tinh), Mercury (Thủy tinh, con của Jupiter), Jupiter (Mộc tinh, thượng đế tối cao), Venus (Kim tinh) và Saturn (Thổ tinh, cha của Jupiter).  Thời xưa, người ta chưa biết đến các hành tinh Uranus (thượng đế tối cao), Neptune (thần biển) và Pluto (thần chết).


Việc chia ngày như vậy dần dần được phổ biến rộng rãi khắp nơi trên thế giới qua sự xâm chiếm hầu hết vùng Trung Đông của Alexander III the Great (356 - 323 BC) và được chính thức công nhận bởi Constantine I the Great (AD 280 - 337).  Gốc gác của tên gọi các ngày bắt nguồn từ tiếng Latin như sau:
      dies Solis, ngày của Mặt trời (sol)
      dies Lunae, ngày của Mặt trăng (luna)
      dies Martis, ngày của thần chiến tranh (Mars)
      dies Mercuri, ngày của thiên sứ, thần thương mại, du lịch và trộm cắp.
      dies Iovis, ngày của Jupiter, thần cây cối.
      dies Veneris, ngày của nữ hoàng ái tình.
      dies Saturni, ngày của Saturn, thần nông nghiệp.


Từ đó, truyền qua tiếng Pháp, Ý, Anh thì có vài ngày vẫn giữ gốc chữ Latin và vài ngày được gọi khác tên gốc.   Thí dụ:  dies Lunae là ngày của Mặt trăng, biến sang Lundi (Pháp: lune) và Monday (Anh: moon).


Xét gốc gác trên thì tên của các ngày trong một tuần lễ rõ ràng không đếm theo thứ tự số, thế nhưng khi truyền qua Trung quốc và Việt Nam thì lại khác đi.

 
Ngày thứ nhất của tuần lễ là ngày Solis, ngày của Mặt trời.  Theo đạo Do Thái và Da Tô, đây là ngày của Chúa (Sabbath), mọi người nghỉ ngơi và lo việc thờ phụng.  Người Trung quốc, theo lệ này mà bắt đầu ngày đầu tiên trong tuần lễ là Solis, đặt tên ngày này là ngày Lễ Bái {lại pai dạch, giọng Quảng Đông}; thế nhưng khi đến các ngày kế tiếp thì lại gọi theo cách đếm thứ tự số như sau: ngày thứ Nhất, thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm, và thứ Sáu {lại pai dách, lại pai dì, lại pai xám, lại pai xi, lại pai ựng, lại pai lục}.   Nói lại pai là nói tiếng bình dân, còn nói kiểu "chữ nghĩa" thì nói: xín khỳ dạch, xín khỳ dách, xín khỳ dì, xín khỳ xám, xín khỳ xi, xín khỳ ựng và xín khỳ lục.  Xín đọc trại ra là "tinh"
, nghĩa là sao,  còn khỳ đọc trại ra là "kỳ", nghĩa là hạn kỳ .  Xín khỳ dạch được xem là ngày của Chúa, các ngày còn lại là của thế gian cho nên khởi sự đếm là lại tinh kỳ dách cho đến tinh kỳ lục.


Người Việt Nam cũng khởi đầu ngày đầu tiên của tuần lễ là ngày Solis, đặt tên ngày này là Chúa nhật, nghĩa là ngày của Chúa, nhưng khi đến ngày kế tiếp thì gọi là thứ Hai bởi vì đã có ngày thứ nhất là Chúa nhật; và cứ thế mà đếm tới ngày thứ Bảy.  Cả hai cách đếm số thứ tự đều có lý của nó, tùy theo lý luận của từng người.  Trong thực tế, sự đếm số các ngày khác nhau giữa người Trung quốc và Việt Nam gây khó khăn nho nhỏ cho người Trung quốc nói tiếng Việt; và ngược lại.  Thí dụ: người Việt nói: "Hôm nay là ngày thứ Ba" thì người Trung quốc phải dịch ra là "Hôm nay là ngày thứ Hai" trong tiếng Hán. (Kim nhật thị lễ bái nhị.)

 
Gọi ngày Solis là "Chúa nhật" phù hợp với ý nghĩa nguyên thủy hơn là tiếng "Chủ nhật".  "Chủ nhật", theo đúng nghĩa chữ, là ngày chủ chốt của các ngày trong một tuần lễ; trong lúc 7 ngày của tuần lễ không có ý nghĩa ngày nào là ngày chủ và ngày nào là ngày phụ, ngày khách cả.  Vậy thì tại sao lại gọi là "Chủ nhật" ?  Có lẽ do đọc trại từ âm {zhu} của người Trung quốc hoặc cũng có thể do tật nói đớt.  Không thể quả quyết lẽ nào đúng cả vì không có bằng chứng!  Tuy nhiên, việc người Trung quốc không gọi ngày thứ nhất của tuần lễ là "Chủ nhật" mà gọi "ngày Lễ Bái, lại pai dạch" chứng tỏ rằng lý luận "gọi "Chủ nhật" là gọi theo kiểu nói Trung quốc" là không đúng.  Mà bảo rằng "Chủ nhật" là ngày chủ của 7 ngày trong tuần lễ thì rõ ràng sai ( như vừa nêu ở trên ).  Do đó, tôi nghĩ rằng gọi ngày đầu tiên trong tuần lễ là "Chủ nhật" không được chỉnh; nên gọi là "ngày Chúa" (theo cách tiếng Việt) hoặc "Chúa nhật" (theo cách tiếng Hán Việt) thì đúng hơn.  Không nên nói: "ngày Chúa nhật" vì có sự trùng nghĩa giữa chữ "ngày" và chữ "nhật".  Tương tự như vậy, không nên nói: "sông Tiền giang, núi Thái sơn" mà nên nói một trong hai cách: "sông Tiền, núi Thái" hoặc "Tiền giang, Thái sơn".  (Ngày = nhật, sông = giang, núi = sơn).  Đây là lỗi nói lắp, nói đệm cho dễ nghe, xuất xứ từ bản chất độc âm của tiếng Việt Nam.  Tuy nhiên, nên sửa các lỗi này mặc dù một số đông người Việt Nam quen tật nói sai và viết sai, lâu dần trở nên khó sửa!

Đó là nói về ngày, còn về tháng thì sao ?  Một lần nữa, hãy xét gốc gác của các tên gọi tháng bắt nguồn từ  tiếng Latin như sau:
      Janus, chúa khởi thủy của muôn loài
      Februa, lễ thanh lọc khởi sự vào ngày thứ 15 của tháng này
      Mars, thần chiến tranh
      Aperio, tháng mà cây cối bắt đầu nở mầm
      Maia, mẹ của Mercury
      Juno, nữ hoàng của các chúa, vợ của Jupiter
      Julius, nhằm vinh danh Julius Caesar
      Augustus, nhằm vinh danh vị vua đầu tiên của Rome là Caesar Augustus
      Septem, nghĩa là thứ bảy
      Octo, nghĩa là thứ tám
      Novem, nghĩa là thứ chín
      Decem, nghĩa là thứ mười.


Thời xưa, lịch của Roman lấy tháng Ba làm tháng thứ nhất trong năm và lấy tên thần Mars làm tên gọi tháng này.  Tiếp theo, họ dùng tên các thần để gọi tháng 4, 5, 6, 7 và 8 ngày nay.  Tuy nhiên, đến tháng Chín ngày nay, tức là tháng thứ bảy - đếm theo cách đếm tháng Ba là tháng thứ nhất - thì họ lại bắt đầu đếm số.  Nói cách khác, tháng Chín bây giờ chính là tháng thứ bảy của họ (Septem), và cứ thế mà đếm cho đến tháng Decem là tháng thứ mười.  Thế nhưng khi đến tháng thứ 11 và 12  thì họ lại dùng tên thần Janus và Februa để gọi hai tháng này.


Không biết vì sao mà ngày nay người ta không theo lịch Roman nữa mà lại lấy tháng Janus làm tháng thứ nhất trong năm.  Điều lạ lùng là cả tiếng Pháp và tiếng Anh đều lấy 12 tên tháng Latin làm gốc chữ mà không lý đến nghĩa của các chữ: Septem, Octo, Novem và Decem!

 
Người Trung quốc không theo cách đặt tên tháng như trên.  Họ gọi theo cách riêng của họ.  Tháng thứ nhất trong năm thì gọi là "nguyên nguyệt"
, có khi gọi là "Chánh nguyệt".  Nguyên thuộc bộ "Nhân", nghĩa là bắt đầu, thứ nhất (nguyên đán, nguyên thủ quốc gia, nguyên âm, nguyên soái, v.v...)  Các tháng tiếp theo thì gọi là tháng Hai, Ba, Tư, Mười Một (Nhị nguyệt, Tam nguyệt, Tứ nguyệt, Thập Nhất nguyệt) nhưng tháng thứ 12 thì gọi là lạp nguyệt .

 
Người Việt Nam bắt chước đúng y cách gọi tên tháng của người Trung quốc.  Tháng thứ nhất trong năm không gọi là "tháng Một" mà gọi "tháng Giêng", do đọc trại âm "Nguyên" mà ra. (Nguyên đọc là zuynh, giọng Quảng Đông)  Tưởng cũng nên nhắc ở đây là có rất nhiều tiếng Việt Nam mượn từ âm của tiếng Hán, theo giọng Quảng Đông, và được đọc trại theo khẩu âm của Việt Nam, lâu dần tự nhiên biến thành quen thuộc, coi như đã được Việt hóa.  Các loại tiếng này được gọi là tiếng Hán Việt. Tương tư như vậy, người Việt Nam còn có tiếng Thái Việt, Cambodge Việt, Pháp Việt, Anh Việt, v.v... Thí dụ: xà bông là tiếng Pháp Việt, xuất phát từ chữ savon của Pháp, đọc trại theo âm Việt, xài lâu thành tiếng Việt.  Các tháng Hai, Ba cho đến tháng Mười thì vẫn đếm theo thứ tự số như người Trung quốc.  Tuy nhiên, không biết tại sao người miền Bắc Việt Nam lại gọi tháng Mười Một là tháng Một trong lúc người miền Trung và Nam vẫn gọi tháng Mười Một theo thứ tự đếm số.  Tôi đoán có thể vì người miền Bắc quen cách nói nhanh và sinh ra lỗi nuốt chữ chăng ?


Đến tháng thứ mười hai thì tương tự như trường hợp tháng Giêng, người Việt Nam đọc trại tiếng "Lạp nguyệt" của Trung quốc ra "tháng Chạp".  Chữ "lạp" thuộc bộ "Nhục", nghĩa là thịt (cốt nhục, nhục dục).  Chữ "lạp" xuất xứ từ chữ "thịt" bởi vì thời xưa, khi săn bắn (tả liệp) được thú rừng, người Trung quốc rất thích ướp khô thịt vào mùa đông có gió bấc (vì thịt vào mùa đông ít mỡ) bằng cách muối, phơi khô (lạp dục, lạp xưởng) để dành ăn quanh năm. Việc ướp thịt nổi rộ lên vào tháng thứ 12 nên người Trung quốc gọi tháng đó là Lạp nguyệt.  Người Việt Nam đọc chệch Lạp ra là Chạp.