HA

 

Phóng tác của Sơn Tinh Miệt Dưới

 HI 1   HI 2  HỒI 3  HỒI 4

 

HI 5

 

Ngoài đông hải, Thiếu tá nửa đêm trúng quỉ phong, khi không ló đuôi dê khều nhẹ cô nương nhà báo

Giữa kinh thành, Nguyên soái cả ngày lo quên ngủ, bỗng dưng xoa đầu sói chấm trúng Bá tước Béo-Lì

 

 

 

 

Thiếu tá và nhà báo Vịt-Kỳ cô nương mò tới trại của chàng Dzếch trong cánh rừng mã-hồ, mang theo một sô bia làm quà tặng.

 

“Thiệt là hân hạnh bất ngờ đó nghe.”  Chàng Dzếch vừa lên tiếng chào đầy vẻ châm chọc vừa đứng lên, trên tay còn cầm cái mỏ hàn đang khè lửa.  “Tui tưởng nhị vị đã trốn khách sạn cuốn gói đi bụi đời rồi chớ.”

 

“Công việc trước, vui chơi sau.”  Vừa trả lời Thiếu tá vừa đỡ Vịt-Kỳ cô nương xuống xe.  “Không phải như cậu tưởng tượng đâu, cậu Dzếch thân mến, chúng tôi đang làm việc rất vất vả.”

 

“Ờ, tui cũng thấy vậy.  Huynh đài coi bộ bơ phờ hốc hác lắm đó.”  Ann chàng tắt ngọn lửa hàn xì rồi nhận lấy sô bia Tusker.  Khui liền hai chai, anh chàng đưa cho cháu Gia-Lễ một chai, rồi cầm chai kia đưa lên môi tu liền một hơi.  Ngó kỹ lại mới thấy anh chàng chỉ mặc một cái quần soọc ka-ki dính đầy dầu mỡ.

 

Hạ chai bia xuống chàng Dzếch cười hì hì.  “Nhưng mà, mèn đét ơi, tui xém chết khát nên tui bây giờ tha thứ cho huynh đài đó nghe.”

 

“Nhị vị thực đã cứu mạng chúng tôi đấy, thưa Thiếu tá Sĩ-Uyên và cô Cấm-Bà-Quẹo,”  cháu Gia-Lễ liền lên tiếng phụ họa và đưa cao chai bia đang tươm hơi lạnh lên chào.

 

“Giời ạ, cái quỉ quái chi đây ?”  Thiếu tá quay sang chăm chú quan sát một cái kiến trúc vĩ đại mà chú Dzếch và cháu Gia-Lễ đang chế tạo, chàng Dzếch liền thò tay vỗ vỗ lên nó rồi hất cái mặt lên coi rất lối.

 

“Là cái bè đó, huynh đài.”  Rồi anh chàng đi một vòng quanh cái bè được chế tạo từ các phi dầu rỗng, trên mặt được lót gỗ, vừa đi anh chàng vừa cầm chai bia đã cạn phân nửa chỉ cho Thiếu tá thấy những đặc điểm siêu việt có một không hai của cái công trình vĩ đại này.

 

“Bị vì xe bọc thép thì không biết lội, mà chúng ta phải đổ bộ lên chỗ bãi biển hơi cạn.  Rất khó mà chúng ta có thể tiến sâu tới khoảng ba trăm thước cách đất liền, cho nên chúng ta phải thả nổi chúng lên bờ.”

 

Vịt-Kỳ cô nương hình như không mấy quan tâm theo dõi bài thuyết trình của chàng Dzếch, bị vì cặp mắt cô nương đang bận quan sát đôi vai và hai cánh tay vạm vỡ của anh chàng, thêm cái bụng phẳng lì và lông lá rậm rì che cả vùng ngực.  Riêng Thiếu tá thì cặp mắt coi bộ không thể rời khỏi cái bè dã chiến.

 

“Mình cũng định bàn với cậu về việc đổ bộ của các chiếc xe, đã định đề nghị với cậu một cái chi đó tương tự như chiếc bè này đấy,”  Thiếu tá nói rất phấn khởi, nhưng chàng Dzếch nhướng nhướng chưn mày có vẻ như không tin lắm.

 

“Chúng ta bây giờ chỉ cần chắc ăn là chiếc tàu nào chở các thiết phu nhơn này phải có giàn nâng ròng rọc đủ mạnh để câu mấy ẻn ra khỏi tàu.”

 

“Các thiết phu nhơn này mỗi chiếc cân nặng chừng bao nhiêu nhỉ ?”

 

“Năm tấn mỗi em.”

 

“Tốt, thế thì các phu nhơn sẽ không làm khó được chiếc Hirondelle đâu.”

 

“Chiếc Hirondelle nào ?”

 

“Đó là chiếc tàu sẽ chở chúng mình đấy.”

 

“Ha, coi bộ mấy bữa nay huynh đài thiệt có làm việc đó nghe.”  Chàng Dzếch cười hì hà.  “Tui thiệt thấy khó tin lắm đó.  Mà chừng nào mình mới khởi hành ?”

 

“Sáng sớm ngày mốt.  Chúng mình sẽ lên hàng vào ban đêm – tất nhiên chúng mình đâu có định quảng cáo hàng ở đây làm chi – và khởi hành ngay lúc có tia nắng sớm đầu tiên.”

 

“Ờ, nhưng đi gấp vậy thì tui sẽ không có đủ thời giờ để dạy cô Cấm-Bà-Quẹo lái một trong các chiếc xe này đâu.”  Chàng Dzếch quay sang ngó cô nương Vịt-Kỳ, và một lần nữa anh chàng tự nhiên thấy phát ớn khi chạm phải ánh mắt xanh lục pha lẫn ánh vàng của cô nương.  “Tại hạ e rằng sẽ làm mất rất nhiều thời giờ của cô nương đó nghe.”

 

“Thời gian là thứ mà hiện tại tôi đang có thừa.”  Nói nào ngay, đối với Vịt Kỳ cô nương thì thời gian tạm dừng ở Dar es Salaam đúng là thời gian dưỡng sức và thư giãn thần kinh vốn đã quá căng thẳng và mệt mỏi chuyến công tác lần trước ở Geneva quá cực nhọc khiến cô nương gần như kiệt sức.  Mấy ngày qua, cô nương nhà báo đã viết một bài hai ngàn chữ, loại để ‘trám chỗ trống’, giới thiệu nguồn gốc và lịch sử của cái hải cảng cổ xưa này.  Cô nương đã tận tình thưởng thức sự săn đón của Thiếu tá cũng như các tuyệt chiêu của chính mình đưa ra để đáp lại những đợt xung phong giành dân lấn đất đầy mánh mung ma giáo của Thiếu tá.  Bây giờ thì cô nương vừa nhận ra là Ba-Toong tiên sanh đây cũng đang ngấm ngầm ái mộ cô nương nữa kìa.  Thiệt là không còn có cái thứ gì trên đời này có thể làm cho một cô nương vô cùng khoan khoái cho bằng được hai tên đực rựa rất quạu, rất nguy hiểm và rất ... sung sức theo đuổi, cô nươnng vừa thầm nghĩ vừa cười mím chi với tiên sanh; vừa rõ ràng đang tán thưởng phản ứng của tiên sanh vừa quan sát Thiếu tá đang nhào vô xuất chiêu cố gài cho Ba-Toong tiên sanh văng ra rìa.

 

“Mình có thể chỉ dẫn cô nương Vịt-Kỳ lái mấy chiếc xe cũ kỹ dễ chịu này khỏi phiền cậu phải bỏ dở những công việc quan trọng hơn.”

 

Cô nương không thèm quay đầu lại, cứ tỉnh bơ tiếp tục cười mỉm chi với Ba-Toong tiên sanh.

 

“Tôi nghĩ công việc này nên thuộc về lãnh vực của Ba-Toong tiên sanh mới là phải đạo,”  cô nương sửa nhẹ Thiếu tá một phát.

 

“Gọi tại hạ là anh Dzếch được rồi,”  được lời, tiên sanh bèn thân mật tới luôn.

 

“Đại ca cũng gọi tiểu muội là Vịt-Kỳ cho ít xa lạ hơn,”  và cô nương cũng vui vẻ đáp lễ.

 

Xem ra toàn bộ chuyến công tác của cô nương đang tiến triển theo một chiều hướng thiệt là thuận lợi.  Một câu chuyện hay rất đáng theo đuổi, một lý do rất chánh đáng để ủng hộ, một cuộc mạo hiểm khác để gia tăng cường độ rực rỡ của danh tiếng cô nương vốn đang chói sáng.  Cô nương cũng biết chưa hề có một đồng nghiệp nào dám xâm mình vượt qua lằn ranh quốc tế cấm vận của Hội Quốc Liên, dám cùng đi với một băng lái súng để thu thập dữ kiện thực tế cho một thiên phóng sự.

 

Chúa ơi, lại còn có thêm quà tặng khuyến khích nữa chớ.  Bộ hai tên đực rựa hộ vệ quyến rũ chết ladies kia không phải là thứ quà tặng tuyệt hảo cho cô nương nhà báo hay sao ?  Quả thiệt hiện tại mọi thứ xem ra đều quá tốt, miễn là cô nương phải khéo giữ gìn mọi chuyện trong tình trạng có thể kiểm soát được, và chớ có để tình cảm mình một lần nữa bộc phát quá mức.

 

Cả bọn thả bộ dọc theo con đường mòn xuyên qua cánh rừng mã-hồ, và cô nương vừa đi vừa cười thầm trong bụng khi ngó thấy rõ ràng Thiếu tá và chàng Dzếch đang cố chèn ép nhau để giành cái vị trí đi bên cạnh cô nương.  Tuy nhiên, khi cả bọn ra tới chỗ khoảng trống, Thiếu tá thình lình đứng khựng lại.

 

“Chuyện gì thế hở ?”  Thiếu tá cất tiếng hỏi.

 

“Màu sơn mới là ý kiến của cháu Gia-Lễ đó nghe,”  chú Dzếch liền giải thích.  “Nó khiến kẻ địch phải cân nhắc đắn đo trước khi nổ súng bắn mình.”

 

Bốn thiết phu nhơn bây giờ đã được sơn màu tuyết trắng sáng chói, và trên mỗi tháp súng đều đã được vẽ một chữ thập đỏ rực.

 

“Nếu như bọn Pháp hay bọn Ý chận chúng ta lại, thì chúng ta là một đơn vị xe cứu thương bọc thép của hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, huynh đài, cháu Gia-Lễ và tại hạ là các quan đốc, và Vịt-Kỳ cô nương tức nhiên sẽ là quan y tá.”

 

“Chúa ơi, Dzếch đại ca quả đã có chuẩn bị thiệt chu đáo.”  Vịt-Kỳ cô nương thiệt tình đã lé mắt trước công trình của chú cháu chàng Dzếch.

 

“Ngoài ra, màu trắng sẽ làm trong xe mát hơn khi chúng ta di chuyển trong sa mạc,”  cháu Gia-Lễ lên tiếng giải thích rất trịnh trọng.  “Không phải khi không mà người đặt tên cái sa mạc đó là ‘Thiêu Trụi’ đâu nghe.”

 

“Mấy cái mâm bự chứa đồ đạc này là tác phẩm của tui đó nghe,”  chú Dzếch tiếp lời cháu Gia-Lạc, khoe khoang thành tích của mình.  “Mỗi thiết phu nhơn sẽ có khả năng mang hai phi xăng và một phi nước phía sau cái tháp súng.  Mấy cái thùng súng ống và đạn dược thì cứ chia đều ra cho bốn chiếc xe và cột chúng ngang qua hai cái càng sponsons dưới đây – Tui đã hàn mấy cái móc ở đây để có chỗ cột dây.”

 

“Nhưng các thùng súng ống này sẽ tố cáo bọn mình đấy,”  Thiếu tá lên tiếng phản đối.  “Trên mỗi thùng đều đã có đánh dấu súng ống –“

 

“Huynh đài khỏi lo.  Tụi tui đã bào mất các dấu hiệu đó rồi và ghi dấu lại là đồ tiếp liệu y khoa,”  chàng Dzếch trấn an Thiếu tá rồi nắm lấy cánh tay Vịt-Kỳ cô nương.  “Tại hạ đã chọn phu nhơn này dành cho cô nương đây.  Đây là phu nhơn dễ dạy và thân thiện nhứt trong đám.”

 

“Bộ các chiếc xe cũng có cá tánh riêng nữa sao ?”  Cô nương cắc cớ hỏi, và bật cười khúc khích khi nghe chàng Dzếch trả lời rất nghiêm chỉnh.

 

“Các thiết phu nhơn của tại hạ đây thiệt ra thì cũng giống như các quí vị phụ nữ vậy,”  vừa trả lời anh chàng vừa thò tay ra vỗ vỗ lên thiết phu nhơn bên cạnh.

 

“Đây là thiết phu nhơn tuyệt đối dễ cưng nhứt – chỉ là cái giàn nhúng phía sau hơi sai tâm nên mặt hậu có hơi lúc lắc chút đỉnh khi phu nhơn chạy nhanh.  Cũng không phải là chuyện lớn lao gì, nhưng do vậy mà phu nhơn có biệt danh là cô nương Xàng-Xê.  Phu nhơn bây giờ là của cô nương đấy.  Tại hạ dám chắc không bao lâu cô nương sẽ gắn bó với phu nhơn.”  Rồi chàng Dzếch xề qua và đưa giò ra đá nhẹ lên cái bánh xe của chiếc bên cạnh.  “Đây mới đúng là thứ cẩu bà bà của cả đám.  Phu nhơn này luôn luôn hành tội tại hạ thiếu điều muốn trật cổ tay mỗi khi tại hạ đụng tới cây ma-ni-quên.  Phu nhơn có biệt danh là Trư Bà-Bà Priscilla.  Tại hạ là người duy nhứt có thể trị được phu nhơn.  Cẩu bà bà đây không ưa gì tại hạ nhưng tuyệt đối biết kính nể tại hạ.”  Anh chàng tiếp tục rề qua chiếc xe kế.  “Cháu Gia-Lễ đây đã chọn chiếc này và đặt tên là Tenastelin – có nghĩa là ‘Thượng Đế ở cùng chúng ta’ – tại hạ thiệt tình hy vọng là cháu nó đúng, nhưng không khỏi có hơi hoài nghi một chút.  Cháu nó hình như hơi lạc quan tếu về mấy cái chuyện này.  Cháu còn kể cho tại hạ nghe là cháu từng có ý định trở thành nhà tu nữa đó.”  Chú Dzếch ngừng lại và nheo mắt với cháu Gia-Lễ một phát.  “Nè, Thiếu tá, còn đây là chiếc xe của huynh đài – ẻn vừa được gắn nguyên một cái carbie mới cáu đó nghe.  Tui nghĩ thiệt là công bằng khi để dành chiếc này cho huynh đài thưởng thức, bởi vì huynh đài là người đã bất chấp bao gian nan nguy hiểm mà đoạt về được.”

 

“Ồ ?”  Cặp mắt của Vịt-Kỳ cô nương đột nhiên sáng ngời vẻ háo hức, bổn tánh nghề nghiệp săn tin trong cô nương thình lình bị đánh thức.  “Đã xảy ra chuyện gì hở, Dzếch đại ca ?”

 

“Chuyện cũng khá dông dài,”  chàng Dzếch cười hì hì, “nhưng có liên quan tới một cuộc cỡi lạc đà rất dài, đầy nguy cơ té dập mề.”  Thiếu tá đang rít một hơi thuốc lá mà khi không mắc nghẹn và phát ho sặc sụa, nhưng chàng Dzếch cứ tỉnh bơ ủi tới luôn, “Thiết phu nhơn này vì vậy mà sẽ có biệt danh là Henrietta Cái Bướu – hay gọi tắt là Cái Bướu.”

 

“Ý da, cái tên nghe thiệt dễ thương quá đi,”  Vịt-Kỳ cô nương liền lên tiếng suýt soa trầm trồ khen ngợi.

 

 

 

 

 

 

Sau nửa đêm, trên đại lộ đang say ngủ của thành phố dẫn xuống bến cảng, bốn chiếc xe bọc thép chầm chậm di chuyển xuyên bóng tối theo đội hình hàng dọc.  Các cánh thép bảo vệ đèn trước được hạ xuống chỉ chừa những khe hở ti hí đủ cho một chút ánh sáng lọt ra chiếu rọi một khoảng nhỏ mặt đường phía trước xe.  Các động cơ đều chỉ chạy rì rì ở ga-răng-ti, vừa đủ để đẩy các chiếc xe di chuyển ở vận tốc đi bộ dưới các tàn cây rậm rạp che khuất các vì sao.

 

Cái dáng vẻ bên ngoài của các chiếc xe đã thay đổi hết còn nhìn ra, bị vì chiếc nào cũng đang đèo theo cả cái tiệm chạp phô – các thùng phi, thùng gỗ, giây nhợ, lưới, cuốc xuổng và đồ nghề cắm trại.

 

Thiếu tá lái chiếc xe dẫn đầu.  Râu ria mới cạo nhẳn nhụi, Thiếu tá mặc quần vải xám thoải mái và áo sơ-mi jersey trắng.  Trong bụng Thiếu tá có hơi lo lắng là rủi như ông chủ khách sạn Hoàng Gia mà biết được Thiếu tá bỏ đi không giả từ như vầy thì thiệt phiền, bị vì Thiếu tá còn có cái hóa đơn ba tuần tiền phòng chưa thanh toán, cộng với hàng đống biên nhận mang chữ ký bay bướm của Thiếu tá lấy champagne thiếu chịu chưa trả tiền.  Cho nên Thiếu tá sẽ tuyệt đối cảm thấy dễ chịu hơn khi đã ra khơi.

 

Cháu Gia-Lễ lái chiếc xe kế, theo sát Thiếu tá.  Tước phong cha truyền con nối của Gia-Lễ là Gerazmach, ‘Tả Tướng Quân’.  Dòng máu chiến sĩ đang chảy rần rần trong huyết quản hòa lẫn với các giáo luật Cựu Ước của Hội Thánh Coptic Christian  [1]  đã hiện rõ trong ánh mắt rực sáng cuồng nhiệt và trái tim nung nấu lòng yêu nước.  Mà cũng thiệt là phải đạo, nhứt là đối với một chàng trai hoàng tộc Ethiopia tuổi đang độ thanh xuân.  Nhưng đã nói đi thì cũng nên nói lại, Gia-Lễ hãy còn quá trẻ và chưa đủ kinh nghiệm sống để nhìn thấy tất cả sự thiệt của chiến tranh.  Đối với anh chàng hiện giờ, chiến tranh là một trò chơi vinh quang và hào hùng của thế giới đờn ông, nhưng có lẽ không bao lâu nữa anh chàng sẽ nhìn thấy thêm những sự thiệt khác của nó, đẫm máu và dơ bẩn.

 

Đằng sau Gia-Lễ là cô nương Vịt-Kỳ Cấm-Bà-Quẹo, cô nương điều khiển phu nhơn Xàng Xê thiệt ngon lành và chánh xác.  Anh chàng Dzếch đã cảm thấy vô cùng hài lòng với khả năng phán đoán tiếng động cơ và sử dụng hộp số cũ kỹ một cách điêu luyện của cô nương.  Phần cô nương cũng vô cùng hồi hộp với những viễn tượng của chuyến phiêu lưu và những kinh nghiệm mới mẻ.  Hồi chiều cô nương đã hoàn tất cái báo cáo sơ khởi năm ngàn chữ và gởi thẳng về tòa soạn bằng đường hàng không, và cái báo cáo này sẽ có mặt trên bàn giấy quan Chủ Bút trong vòng mười ngày.  Cô nương đã giải thích đầy đủ trong bản báo cáo cái bối cảnh, lòng tham vọng rõ rệt của Benito Mussolini muốn sát nhập những lãnh thổ giàu có của Ethiopia vào vùng thuộc địa của Ý-Đại-Lợi, sự mù quáng không biết phân biệt nếp tẻ của thế giới, việc cấm vận võ khí.  “Xin ngài đừng tự lừa gạt mình,”  cô nương đã viết, “mà cho rằng tôi đang tung hỏa mù, báo động giả có chó sói tới.  Con sói La-Mã thật sự đang đi săn mồi.  Những gì sắp xảy ra ở những vùng núi non bắc Phi Châu sẽ làm thế giới văn minh phải xấu hổ.”  Đoạn cô nương tiếp tục phơi bày tất cả ý đồ của các siêu cường nhằm ngăn cản cô nương đi đến vương quốc đang lâm trận để tường thuật những gian truân ở đó.  Rồi cô kết thúc bài báo cáo, “Người phóng viên của ngài đã và đang phủ nhận những cấm đoán áp đặt lên sự đi lại và tinh thần nghề nghiệp trong sáng khách quan.  Đêm nay, tôi sẽ gia nhập vào một nhóm người can trường, chấp nhận gian khổ, dám hy sanh tánh mạng chống lại cấm vận, để mang một số lượng võ khí cùng các đồ tiếp liệu vô cùng cấp thiết, băng qua những lãnh thổ bị đóng kín, để tiếp tế cho một đất nước đang bị bao vây.  Khi ngài đọc được những dòng chữ này, chúng tôi có thể đã thất bại và bỏ mình trên bờ biển sa mạc Phi Châu, nơi mà những người địa phương ở đây đã gọi nó bằng một địa danh rất kinh hoàng ‘Thiêu Trụi’ – Hoặc vả là chúng tôi đã thành công.  Chúng tôi sẽ đổ bộ lên bờ vào ban đêm từ một chiếc tàu nhỏ rồi du hành vài trăm dặm qua những vùng đất hoang dã đầy thù nghịch để cuối cùng gặp gỡ một vị hoàng thân của Ethiopia.  Tôi hy vọng là trong bài tường trình kế tiếp, tôi sẽ có thể mô tả cuộc du hành cho ngài rõ, nhưng nếu như trời chẳng chìu lòng người thì ít ra là chúng tôi cũng đã tận hết sức mình.”  Quan nhà báo Vịt-Kỳ rất hài lòng với bài viết thứ nhứt này.  Trong lối viết rất nẩy lửa, cô nương phóng viên rất đắc ý với phần ‘du hành’ [ 2] vốn mang màu sắc rất đặc biệt địa phương.  Bài viết có đầy đủ gia vị: bi kịch, bí ẩn, gã tí hon đụng độ tên khổng lồ.  Cô nương biết là khi loạt bài này hoàn tất, nó sẽ có tầm vóc vĩ đại trong làng báo, và điều mong đợi này khiến cô nương cảm thấy vô cùng phấn khởi thiếu điều toàn thân muốn phát quang.

 

Cuối cùng trong đội hình di chuyển là chiếc xe của chàng Dzếch.  Anh chàng đã dành phân nửa chú ý của mình để lắng nghe tiếng động cơ của Trư Bà Bà.  Không có lý do gì rõ rệt, trừ phi có lẽ là một điềm báo trước những gì đang chờ đón Trư Bà Bà, hồi đầu hôm Bà Bà đã nhứt định không chịu nổ máy.  Chàng Dzếch đã quay cây ma-ni-quên cho tới lúc cánh tay bị vọp bẻ đau nhừ.  Anh chàng đã thổi sạch hệ thống dẫn xăng, kiểm soát bu-gi, ma-nhê-tô và tất cả mọi bộ phận di động có thể hư hỏng được.  Rồi sau một tiếng đồng hồ nữa mò mẫm, động cơ khi không phát nổ và chạy ngon lành, cũng không chịu tiết lộ chút xíu nào cho anh chàng biết cái quỉ quái gì đã khiến trước đó nó không chịu nổ máy.

 

Với phân nửa sự chú ý còn lại, anh chàng đang kiểm tra lại các chuẩn bị của mình – anh chàng cũng biết rõ đây là cơ hội cuối cùng để lấp đầy những chỗ sơ hở trong bảng danh sách những-thứ-cần-làm.  Con đường trần ai lai khổ từ Mondi tới Wells of Chaldi dài đăng đẵng mà không có một cây xăng hay tiệm sửa xe nào dọc đường.  Cái bè nổi chế tạo từ các phi dầu rỗng đã được kéo tới đưa lên boong tàu Hirondelle từ hồi chiều, và mỗi thiết phu nhơn hiện giờ phải tự mang lấy tất cả phương tiện tự sanh tự tồn cho mình – một sức nặng rất tai hại cho các giàn đồng và giàn nhúng đã quá đát.

 

Vì vậy mà phần tri thức của anh chàng tức nhiên đang hoàn toàn bận rộn, nhưng sâu thẳm trong vô thức, một cái hồi ức đã thức dậy và đang kềm kẹp thần kinh anh chàng và làm máu anh chàng tự nhiên chạy rần rần trong huyết quản.  Cũng là một đêm như vầy, đội hình hàng dọc di chuyển trong đêm tối, với tiếng động cơ nghe rất nhỏ trong lỗ tai – nhưng rồi bầu trời phía trước đột nhiên bừng sáng ánh hỏa châu, tiếng đại liên Maxim nổ dòn rung chuyển không gian và mùi chết chóc lẫn mùi bùn đất trong lỗ mủi.  Không giống như cháu Gia-Lễ, chú Dzếch Ba-Toong thiệt sự đã từng nếm trải đủ mùi vị chiến tranh và những vinh quang của nó.

 

 

               

 

 

Gã thuyền trưởng hải tặc Papadoupolos đang chờ đợi họ trên cầu tàu.  Tay cầm ngọn đèn bão, gả mặc một cái áo khoát màu xám dài tới mắt cá, coi giống hệt như nhơn vật ông thần lùn giữ kho tàng trong chuyện thần thoại.  Gã quơ quơ ngọn đèn, ra hiệu cho đoàn xe tiến tới, lập tức một bầy thủy thủ rách rưới liền ùa ra khỏi boong tàu rồi tất cả leo xuống đứng trên cầu tàu.

 

Cả đám rõ ràng rất thành thạo với chuyện lên hàng bất thường vào lúc nửa đêm.  Cứ mỗi chiếc xe tiến đến, các thùng phi và thùng súng ống liền được tháo ra.  Rồi các thùng này được lôi vô các lưới chất hàng riêng biệt.  Kế đến, họ đẩy những tấm pallets bằng gỗ rất chắc chắn vào bên dưới chiếc xe, và cột chặt vào chiếc xe bằng dây thừng.  Cuối cùng, gã thuyền trưởng độc nhỡn ra hiệu, mấy tên thủy thủ điều khiển giàn cần trục liền khởi động cái máy kéo, và các sợi dây thừng liền bị kéo qua các rãnh ròng rọc.  Các chiếc xe kềng càng được nâng lên từ từ, quay ngang, rồi đặt xuống boong tàu.

 

Công việc lên hàng được thực hiện rất mau lẹ, không có một tiếng nói lớn hay một tiếng động nào không cần thiết.  Chỉ có tiếng thì thầm ra lịnh, tiếng gầm gừ trong cổ họng của đám thủy thủ đang ra sức lôi kéo, tiếng nổ nho nhỏ của cái máy kéo và tiếng động của các chiếc xe khi va chạm boong tàu.

 

“Các ngài hải tặc này xem ra rất thạo việc.”  Thiếu tá quan sát đám đàn em của thuyền trưởng độc nhỡn làm việc một cách hài lòng, rồi quay sang chàng Dzếch.  “Mình sẽ đi gặp xếp cảng để thanh toán cái hóa đơn lên hàng.  Chúng mình sẽ sẵn sàng khởi hành trong vòng chừng một giờ nữa.”  Rồi Thiếu tá thong thả bước đi và biến mất vào bóng tối.

 

“Chúng ta hãy đi xem chỗ ở cái đã,”  chàng Dzếch lên tiếng đề nghị và nắm lấy cánh tay quan nhà báo Vịt-Kỳ.  “Coi nó cũng giống như một chiếc Cunarder [3] bình thường thôi.”  Rồi cả hai trèo các bậc thang lên boong tàu và chính ngay phút đó cả hai người lần đầu tiên liền ngửi ra cái mùi nô lệ chua lè trên chiếc tàu.  Tới lúc Thiếu tá trở lại sau khi hoàn tất công việc quỉ quái thương lượng tính tiền lên hàng với tờ chứng nhận chở bốn chiếc xe cứu thương và đồ tiếp liệu y tế đến Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế ở Alexandria, thì cả hai đã xem xong cái phòng đơn hôi rình, lớn cỡ cái hộp quẹt, mà gã thuyền trưởng đã từ lâu bỏ trống làm nơi cư ngụ cho bầy gián và rệp.

 

“Chỉ có vài ngày hải hành.  Tại hạ nghĩ là tại hạ ưa cái boong tàu hơn.  Nếu trời mưa, chúng ta có thể chui vô các chiếc xe đụt mưa cũng được.”  Chàng Dzếch vừa nói với cả nhóm đang đứng bên lan can tàu, vừa nhìn ánh đèn Dar es Salaam đang từ từ trôi xa rồi chìm vào bóng tối.  Tiếng động cơ dầu rì rầm đều đều dưới chưn họ và một làn gió biển mát rượi quét ngang boong tàu, thổi tan đi cái mùi nô lệ chua loét trong lỗ mủi họ.

 

                

 

 

Quan nhà báo Vịt-Kỳ chợt thức giấc vì ánh sáng của các vì sao chiếu rọi lên mặt và cô nương mở mắt ra rồi ngó sững lên bầu trời đang lấp lánh những kỳ quan của vũ trụ, trông như những cánh đồng và biển hạt châu chiếu sáng đang xoáy ngang qua những thiên đường.

 

Lặng lẽ chui ra khỏi cái mền, cô nương đứng dậy bước tới bên lan can tàu.  Mặt biển đen thui, chớp sáng lấp lánh; mỗi một lượn sóng như được tạc từ một khối kim loại quí giá, được trang điểm bởi vô số ánh sao, rồi bị con tàu chẻ qua, để lại đằng sau những vệt lân tinh phát quang như một con đường lửa xanh lục.

 

Làn gió biển như bàn tay người tình đang vuốt ve làn da và mái tóc cô nương, cánh buồm mẹ khổng lồ căng gió đang rù rì trên đầu, và cô nương có cảm giác như đau nhói trong lồng ngực trước vẻ đẹp của biển đêm.

 

Lúc Thiếu tá im lặng bước đến sau lưng và luồn hai tay ôm lấy eo ếch, cô nương chẳng những không thèm quay đầu lại, mà còn dựa hẳn vào người Thiếu tá.  Cô nương không có lòng dạ nào mà gây gổ hay lý sự với Thiếu tá vào lúc này.  Bị vì như cô nương đã viết, cô nương có thể không còn sống bao lâu nữa mà đêm nay thì quá đẹp không thể không tận hưởng.

 

Cả hai đều nín thinh, rồi Vịt-Kỳ cô nương chợt thở dài và rùng mình khoan khoái khi cảm giác được bàn tay của Thiếu tá, trơn tru và đầy kinh nghiệm, đang tà tà đi ngược lên bên dưới lớp áo sơ-mi mỏng manh của cô nương.  Bàn tay của Thiếu tá, giống như làn gió nhẹ, vuốt ve thật êm ái.

 

Qua lớp áo mỏng cô nương cảm giác được hơi ấm của da thịt Thiếu tá đang ép chặt vào người cô nương, lồng ngực Thiếu tá phồng lên và xẹp xuống một cách hối hả theo nhịp thở vội vàng.

 

Cô nương từ từ xoay mình trong vòng tay Thiếu tá và ngửng mặt lên trong khi Thiếu tá vội vã cúi xuống và ghì chặt cô nương vào lòng.  Mùi vị của cái miệng Thiếu tá trộn lẫn với mùi đờn ông từ người Thiếu tá đột nhiên đánh thức niềm hứng khởi của cô nương.

 

Cô nương đã phải vận hết nội công mới giựt được cặp môi và thân mình ra khỏi cái miệng và vòng tay của Thiếu tá.  Rồi nhà báo cô nương vội vàng bước lẹ tới chỗ nằm, túm gọn cái mền lên với bàn tay vẫn còn run rẩy.

 

Cô nương xách cái mền tới trải ra ở một chỗ tối, chính giữa chỗ nằm của chàng Dzếch và Gia-Lễ, và mãi tới lúc cô nương đã cuộn tròn trong cái mền và nằm ngửa mặt lên trời, cố gắng đè nén trái tim đang đập đùng đùng trong lồng ngực, cô nương mới nhận ra là Dzếch đại ca vẫn còn thức.

 

Cặp mắt của đại ca đã nhắm nghiền, hơi thở sâu và đều đặn, nhưng cô nương biết chắc một trăm phần trăm là đại ca vẫn còn thức.

 

 

 

 

Hãy tạm gác qua một bên chuyện hai tên lái súng lãng tử giang hồ khi không biến thành những người hùng tiêu sư bất đắc dĩ, đang linh đinh giữa biển đông Phi châu trên một chiếc tàu hải tặc cùng với quan nhà báo xinh đẹp và quan hướng đạo trẻ tuổi.  Tới đây, xin được nói về đạo quân viễn chinh khổng lồ của phát-xít Ý-Đại-Lợi dưới quyền chỉ huy của Nguyên soái Ế-Mỹ-Lý-Ô Đa Bổ-Nộ, đang đặt đại bổn dinh tại kinh thành Asmara của vương quốc Eritrea thuộc Ý.

 

Nguyên soái Đa Bổ-Nộ đang đứng bên cửa sổ văn phòng, phóng tầm mắt nhìn qua các mái nhà cũ kỹ của thành phố Asmara đến tận vùng cao nguyên hùng vĩ của xứ Ethiopia .  Coi nó cứ như cái xương sống của một con mãnh long, tướng quân thầm nghĩ, và cố đè nén cái cảm giác ớn lạnh.

 

Nguyên soái năm nay mới bảy mươi, nên vẫn còn nhớ rất rõ lần cuối cùng quân đội Ý tiến vào vùng núi non khô cằn đó.  Địa danh Adowa là một vết dơ trong quân sử Ý-Đại-Lợi, và cho tới bốn mươi năm sau, cuộc thất trận đẫm máu của một quân lực Âu Châu tân tiến vẫn còn chưa được phục thù.

 

Hôm nay, định mạng đã chọn Nguyên soái phải làm người đi phục hận, nhưng Nguyên soái Đa Bổ-Nộ thì lại không chắc là vai trò này có thích hợp với mình hay không nữa.  Nguyên soái tuy khoái đánh giặc nhưng lại không muốn có ai phải bỏ mạng.  Nguyên soái sẵn sàng tránh né tất cả những gì khiến con người phải đau đớn hay khổ sở.  Những mệnh lệnh khiến thuộc cấp phải nhăn mặt thì Nguyên soái chẳng bao giờ ra.  Các kế hoạch hành quân nào mà khiến tướng sĩ có kẽ phải lâm vào tình trạng nguy hiểm thì khó lòng mà qua nổi gương mặt quạu đeo của Nguyên soái.  Và các sĩ quan thuộc phòng tham mưu của Nguyên soái đã thuộc nằm lòng là chớ có bao giờ đệ trình lên Nguyên soái những kế hoạch phung phí xương máu tướng sĩ như vậy.

 

Tận trong đáy tim, Nguyên soái vốn dĩ là một chánh khách ngoại giao – không phải là một chiến sĩ.  Nguyên soái ưa nhìn những khuôn mặt tươi cười, bởi vậy thường ngày tự mình Nguyên soái cũng hì hì hà hà đều đều.  Nguyên soái như một chú dê con hí hửng, với hàm râu rìa tua tủa bạc trắng khiến Nguyên soái có biệt danh là “Tiểu Râu Rìa”.  Và Nguyên soái cũng thường thân mật gọi các sĩ quan của mình là ‘Caro’ [4] , còn gọi quân lính là ‘Bambino’ [5].  Tóm lại, Nguyên soái chỉ muốn được mọi người thương mến.  Nên Nguyên soái cứ tiếp tục hi hi ha ha dài dài.

 

Tuy nhiên, bữa nay thì Nguyên soái cười hết nổi.  Hồi sáng, Nguyên soái vừa mới nhận được một trong những bức điện tín mật mã khẩn cấp rắc rối cuộc đời, mang chữ ký mạ vàng của ngài lãnh tụ kính yêu Benito Mussolini.  Lời lẽ trong bức điện cũng vô cùng cứng rắn và dứt khoát hơn mọi lần.  “Thể theo ước muốn của Hoàng Đế Ý-Đại-Lợi, tôi, Benito Mussolini, Tổng Tư Lệnh Quân Lực, ra lệnh rằng –“

 

Đột nhiên, Nguyên soái dang tay ra đập mạnh lên ngực mình một phát, chỗ đang triển lãm đủ thứ loại huy chương, khiến viên sĩ quan tùy viên, Đại úy Crespi, đang lơ mơ ngó ra cửa sổ phát giựt mình nhảy nhỏm.

 

“Các ngài quí tộc bên đó chẳng hiểu cái quỉ gì hết trơn,”  Nguyên soái hét lên một cách cay đắng.  “Thiệt là dễ ợt khi thoải mái ngồi ở La-Mã mà thúc hối bổn soái phải tiến quân như giặc.  Cứ rống lên ‘Tấn công’.  Nhưng các ngài có thấy những cảnh tượng như mình thấy đâu, cái hình ảnh mà mình đứng nơi đây ngó qua bên kia sông Mareb nhìn thấy quân địch tập trung cứ hàng hàng lớp lớp.”

 

Viên Đại úy tùy viên bước tới bên cạnh Nguyên soái và cũng đăm đăm nhìn ra cửa sổ.  Bộ Tư Lịnh đạo binh viễn chinh được đặt trong một tòa nhà hai tầng tại kinh thành Asmara, và văn phòng của Nguyên soái nằm ở tầng trên, có tầm nhìn bao quát đến tận chơn các rặng núi.  Viên Đại úy tùy viên ngoẻo đầu quan sát và thấy là hàng hàng lớp lớp quân địch hiện giờ thì tạm thời chưa thấy xuất hiện.  Trước mắt chỉ là một vùng đất bao la trống trải, đang ngủ gà ngủ gật dưới ánh nắng chói chang.  Những chuyến bay thám thính sâu tận trong nội địa đã không tìm thấy dấu hiệu gì chứng tỏ có sự tập trung quân đội Ethiopia, và theo tin tức tình báo đáng tin cậy thì Hoàng Đế Haile Selassie đã ra chỉ dụ cấm các đơn vị quân đội thời trung cổ của ngài không được bén mảng tới gần đường biên giới trong vòng năm mươi cây số, để tránh quân Ý có cớ mà tràn qua.

 

“Các ngài không hiểu là bổn soái phải củng cố vị trí ở tại Eritrea này.  Bổn soái phải có một hậu cứ và tiếp liệu vững chắc,”  Nguyên soái phàn nàn thê thiết.  Hơn một năm qua, Nguyên soái đã nỗ lực xây dựng hậu cứ và tập trung đồ tiếp liệu.  Cái hải cảng Massawa thô sơ bự cỡ cái chuồng heo, đã từng chỉ biết thỉnh thoảng lười biếng phục vụ mấy chiếc thương thuyền lâu lâu ghé lại hoặc đôi khi có tàu buôn muối từ Nhựt Bổn tấp vô, nay đã được hoàn toàn xây dựng lại.  Những cái cầu tàu bằng đá bảnh hết ý chạy thẳng ra biển, những bến tàu khổng lồ luôn luôn rộn rịp hoạt động với các giàn cần câu chạy máy hơi nước, và các đầu máy xe lửa kéo các toa hàng hóa như con thoi chạy đi chạy lại không ngừng nối liền mạng lưới các kho tiếp liệu quân đội, mỗi ngày đổ lên bờ hàng ngàn tấn quân dụng và võ khí, hết tháng này qua tháng khác.  Con kinh đào Suez đã từ lâu mở ngõ mặc tình cho người Ý sử dụng vào mục đích phiêu lưu quân sự ở bắc Phi, và hàng đoàn tàu vận tải cứ tiếp tục không ngừng xuôi nam, chẳng hề hấn gì đối với lịnh Cấm Vận của Hội Quốc Liên đã ban ra cấm đưa các vật dụng quân sự vào Đông Phi.

 

Cho tới bữa nay, đã có trên ba triệu tấn quân dụng được đưa vào các nhà kho, và chưa kể tới năm ngàn quân xa các loại – xe chuyển quân, xe bọc thép, xe tăng và phi cơ – cũng đã lên bờ.  Để phân phối cái khối lượng khổng lồ chiến xa và quân dụng này đi các nơi, một hệ thống đường xá đã được xây dựng, tỏa ra như hình cánh quạt, tiến sâu vào nội địa, một hệ thống đường xá quá bảnh nhắc nhở người ta phải nhớ lại cái hệ thống đường xá của các Hoàng Đế Ceasars [6] vào thời cổ La-Mã.

 

Ngyên soái Đa Bổ-Nộ lại tự đấm ngực khiến viên sĩ quan tùy viên lại giựt mình nhảy nhỏm lần nữa.  “Các ngài bên đó cứ hối bổn soái phải lập tức tiến quân.  Các ngài coi bộ không biết là lực lượng của bổn soái vẫn còn chưa đầy đủ.”

 

Nói nào ngay, cái lực lượng mà Nguyên soái đang thê lương rên rỉ “còn-chưa-đủ” thiệt ra đã vượt xa tiêu chuẩn của một đạo quân nghiêng nước.  Phải nói đây là một đạo binh hùng mạnh nhứt, cổ kim chưa từng bao giờ thấy xuất hiện trên lục địa Phi châu.  Dưới tay Nguyên soái hiện tại là ba mươi sáu vạn đại quân, được trang bị với những võ khí tối tân nhứt mà thế giới mới khám phá và chế tạo – từ loại phi cơ ba cánh quạt Caproni CA.133 có khả năng mang hai tấn bom và hơi độc, tầm hoạt động chín trăm dặm, cho chí tới những loại xe bọc thép tân tiến nhứt và các xe tăng hạng nặng trang bị đại bác 50 li, cùng các đơn vị đại pháo yểm trợ.

 

Đạo quân khổng lồ của tướng quân đang hạ trại bên ngoài kinh thành Asmara và trên các sườn đồi nhìn ra sông Mareb.  Cả trại binh được tạo nên bởi các màu sắc phân biệt rõ ràng.  Trước tiên là màu xanh lục của các đơn vị bộ binh chánh quy đội nón sắt nhiệt đới vành rộng.  Kế là đoàn quân trừ bị Phát-Xít Áo đen mang giày ống cao và dây chéo chữ thập, trên vai đeo huy hiệu đầu lâu tử thần và sấm sét, bên hông gài dao găm sáng giới.  Rồi tới các đơn vị chủ lực thuộc địa người da đen Somalis và Eritreans mặc sơ-mi rộng, đội nón fez cao màu đỏ có trang trí thêm dây nhợ lòng thòng, cùng những dãy băng màu sắc vui mắt quấn ngang lưng, tức nhiên là các cặp giò đều được quấn xà-cạp và đi chưn trần cho khoẻ.  Sau cùng là các đơn vị quân tình nguyện tạp nhạp hổ lốn tức đám ‘banda’, bao gồm các đại vương lớn nhỏ miền sa mạc làm nghề không vốn và các tay tổ anh chị chuyên cắt cổ trộm bò.  Cái đám đầu trộm đuôi cướp này bị lôi cuốn vào trò chơi chiến tranh cũng y hệt như một bầy cá mập bị hấp dẫn bởi một vệt máu loang trên biển.

 

Nguyên soái đã biết nhưng chưa bao giờ chịu khó nhức đầu suy nghĩ thiệt sâu xa về một sự kiện lịch sử đã xảy ra cách đây bảy mươi năm về trước, đó là chuyện Đại tướng Napier của Anh-Cát-Lợi đã tiến vào Magdala với một đạo quân không đầy năm vạn, trên đường tiến quân đã đụng độ và đánh bại toàn bộ binh lực của Ethiopia, phá tan sơn thành và giải thoát tất cả tù binh Anh Quốc bị giam giữ trong đó, rồi an toàn lui binh.  Những thiên trường ca hào hùng nhưng vô cùng khó hiểu như vậy quả thiệt vượt ngoài tầm hiểu biết cũng như sức tưởng tượng của Nguyên soái Đa Bổ-Nộ.

 

“Caro.”  Ngyên soái giơ bàn tay ra đặt hờ lên bờ vai mang dây biểu chương vàng của người tùy viên.  “Chúng ta phải thảo một bức thơ trả lời Il Duce.  Ngài phải được giải thích rõ ràng những khó khăn của bổn soái.”  Rồi Nguyên soái thân mật vỗ vai người tùy viên và khuôn mặt đưa đám của Nguyên soái thình lình trở lại vẻ hí hửng cố hữu khi bắt đầu đọc thơ.

 

“Il Duce kính mến, xin ngài hãy yên tâm về lòng trung thành của mạt tướng đối với ngài và đối với quê cha đất tổ Ý-Đại-Lợi vinh quang.”  Viên Đại úy lẹ làng chụp lấy tập giấy rồi vội vã ghi lại.  “Cũng xin ngài hãy yên tâm là mạt tướng chưa bao giờ ngừng tận tụy làm việc cả ngày lẫn đêm để hướng về – “

 

Phải mất gần hai giờ đồng hồ nỗ lực sáng tạo, Nguyên soái mới thấy hài lòng với bức thơ rất hoa mỹ dông dài, từ chối chấp hành mạng lịnh của lãnh tụ kính yêu.

 

“Giờ đây,”  Nguyên soái ngừng bước và mỉm cười với người tùy viên, “mặc dầu chúng ta chưa sẵn sàng tiến quân, nhưng nếu chúng ta phát động những bước mở đầu của chiến dịch nam tiến thì thế nào cũng có tác dụng hạ hỏa đối với Il Duce.”

 

Kế hoạch xâm lăng của Nguyên soái, cho tới giờ chót lúc đã hoàn tất, vẫn còn chứa đầy các chi tiết vô cùng cồng kềnh y như giai đoạn đầu chuẩn bị chiến tranh của Nguyên soái trước đây.  Sự cấp bách của lịch sử đã bắt buộc mũi tấn công chánh yếu phải nhắm vào Adowa .  Một tấm bia bằng đá cẩm thạch đã được mang từ Ý-Đại-Lợi tới đang nằm trong những núi đồ tiếp liệu tại các nhà kho, trên tấm bia đã khắc sẵn hàng chữ ‘Những chiến sĩ hy sanh ở Adowa đã được báo thù ...’ với ngày tháng còn để trống.

 

Tuy nhiên, kế hoạch còn đòi hỏi phải có một mũi tấn công thứ nhì, xa về phía nam, vào sườn địch quân, xuyên qua một trong các quan ải dẫn đến vùng cao nguyên trung bộ.  Đó là cửa ải Sardi.  Một cái ngỏ hẹp tép dựng thẳng lên từ nền sa mạc, như một nhát búa chém thẳng băng xuống dãy núi, tạo nên một lối mòn mà xuyên qua đó đoàn quân có thể tiến thẳng lên một vùng cao nguyên có cao độ bảy ngàn bộ từ nền sa mạc.  Giai đoạn đầu của chiến dịch là phải chiếm lấy tất cả các con đường dẫn tới ải Sardi – và đặc biệt quan trọng đối với chuyện hành quân trong cái sa mạc khô khan thiêu đốt này là phải chiếm giữ các nguồn cung cấp nước uống cho quân sĩ.

 

Nguyên soái bước ngang qua gian phòng tới bên tấm bản đồ Đông Phi khổng lồ chiếm trọn một tấm vách, rồi cầm lấy cây gậy bằng ngà chỉ lên một vùng cô lập hoang vắng dưới chơn các rặng núi.

 

“The Wells of Chaldi,”  Nguyên soái dõng dạc đọc địa danh rồi hỏi  “Bổn soái sẽ cử ai đi lấy chổ này đây hử ?”

 

Viên sĩ quan tùy viên ngửng đầu nhìn lên bản đồ và quan sát vùng đất bị bao vây bởi màu vàng tàn khốc của sa mạc.  Viên sĩ quan đã có mặt ở Phi châu đủ lâu để thấm thía sự biểu thị trên bản đồ này có nghĩa là gì, và cùng lắm chắc chỉ có một người thiệt muốn tới đó.

 

“Béo-Lì,”  người sĩ quan tùy viên cất tiếng trả lời tướng quân.

 

“À,”  Nguyên soái buột miệng nói.  “Bá tước Áo-Đa Béo-Lì – người dám nuốt lửa.”

 

“Gã hề,”  viên sĩ quan liền sửa lại.

 

“Thôi mà, caro,”  Nguyên soái nhẹ nhàng cạo gió viên sĩ quan.  “nhà ngươi sao khó tánh quá vậy ?  Bá tước dầu sao cũng là một nhà ngoại giao lỗi lạc, ngài từng làm sứ thần ở triều đình St. James tại Luân-Đôn suốt ba năm.  Dòng dõi quí tộc của ngài đã có rất lâu đời – và vô cùng giàu có.”

 

“Chỉ là một thứ kiểng tướng quân, lừng lẫy thành tích chuyên trị bồ đào mỹ tửu và các cô nương lẳng lơ”  viên sĩ quan tùy viên vẫn lì lợm bảo vệ quan điểm của mình, và Nguyên soái chợt thở ra.

 

“Nhưng Bá tước vốn là bạn thân của ngài Benito Mussolini.  Il Duce là khách quí thường trực ở lâu đài của ngài.  Bá tước quả thiệt đang nắm giữ quyền lực chánh trị rất lớn –“

 

“Hắn sẽ nằm rất xa mọi nguy hiểm ở cái chỗ không người này,”  viên sĩ quan tùy viên lên tiếng đầy mỉa mai, và Nguyên soái lại thở ra một lần nữa.

 

“Có lẽ nhà ngươi nói đúng đó, caro.  Thôi nhà ngươi làm ơn đi gọi ngài Bá tước tới trình diện bổn soái giùm đi nào.”

 

 

 

 

Vậy là coi bộ Bắc Phi Nguyên soái Đa-Bổ-Nộ đã chấm trúng được một tướng quân con dòng cháu giống của Hoàng gia Ý-Đại-Lợi để cử đi đánh chiếm ải Sardi.  Nhưng vị tướng quân dòng dõi quí tộc Béo-Lì này là ai ?  Đã từng lập được những võ công oanh liệt gì mà khiến viên Đại úy tùy viên của Nguyên soái cứ sốt sắng hết tặng cho rổ chanh lại tặng thêm thúng ớt vậy ?  Muốn biết, xin mời độc giả chịu khó đón xem tiếp hồi sau sẽ rõ.



[1]  Một nhánh của Giáo Hội Chánh Thống (Orthodox), phổ biến ở Ethiopia .

[2]  Nguyên văn của quan nhà báo Vịt-Kỳ là ‘the trekking bit’.  Ở đây, quan nhà báo đã cố tình chơi chữ vì ngoài ý nghĩa là một cuộc du hành, riêng ở Phi châu, hay đặc biệt đối với người Nam Phi, trek còn có nghĩa là một cuộc di cư bằng phương tiện xe trâu bò kéo (Britannica 2005).  Cho nên ‘the trekking bit’ mang màu sắc đặc biệt Phi châu là vậy.  Người phóng tác ở đây bí lù không tìm được một từ tiếng Việt nào tương đương có thể lột tả được ‘the trekking bit’, xin tình thiệt khai báo và xin quí vị độc giả xính xái bỏ qua giùm cho.

[3]  Một loại tàu buôn trong đoàn tàu Cunard Liners được thành lập bởi nhà quí tộc Anh-Cát-Lợi Samuel Cunard vào năm 1840 và khởi đầu hoạt động ở vùng biển bắc Đại-Tây-Dương.

[4]  Tiếng Ý, tương đương với ‘cục cưng’ trong tiếng Việt, hay ‘dear’ trong tiếng Anh.

[5]  Tiếng Ý, tương đương với ‘em bé’ trong tiếng Việt, hay ‘baby’ trong tiếng Anh.

[6]  Chỉ chung tất cả các Hoàng Đế La-Mã kế tục Hoàng Đế Augustus Caesar.