HA

 

Phóng tác của Sơn Tinh Miệt Dưới

 HI 1   HI 2  HỒI 3  HỒI 4  HỒI 5 

 

HI 4

 

Thấp kế, lãng tử bấm bụng nhận bảo-tiêu giao chiến xa súng ống

Thua mưu, lưu manh hí hửng thượng tắc-xi chở nhà báo cô nương

 

 

“Mình quả thực bị sốc,”  Thiếu tá vừa đi tới đi lui vừa trịnh trọng cằn nhằn.  “Mình muốn nói dù sao hắn cũng là một bạn già Eton của mình cơ mà.  Chúa ơi, mình thực không tin nổi là hắn lại đưa ra cái giao kèo chơi gác mình như thế.  Thực là dễ giận.  Mình muốn nói là trong khi trước sau mình vẫn hoàn toàn tin hắn.”

 

Chàng Dzếch nằm phè cánh trên chiếc xa-lông trong phòng khách riêng của madame Xí-Xào.  Anh chàng đã lột cái jacket ăn tiệc ra, và đang ngồi trên đùi anh chàng là một cô nương mủm mỉm tóc vàng rực.  Cô nương mặc một cái đầm màu thủy tiên mỏng tanh, cái váy thì đã tốc lên triển lãm nguyên cặp garters  [1] màu lam bao quanh cặp đùi chín rục.  Chàng Dzếch đang dùng tay cân thử một trái trong cặp đào tiên trúng mùa rất dễ nể của cô nương với tất cả chăm chú của một bà nội trợ đang lựa cà chua trong tiệm hàng bông.  Cô nương hình như thấy nhột, vừa khúc khích cười vừa uốn éo rất ngứa mắt trên đùi anh chàng.

 

“Quỉ bắt cậu đi, cậu Dzếch, nghe mình nói đây này.”

 

“Tui đang lắng nghe mà,”  chàng Dzếch trả lời.

 

“Ông Hoàng rõ ràng đã làm nhục mình,”  Thiếu tá tiếp tục cằn nhằn, rồi thình lình vụt nín khe khi cô nương của chàng Dzếch cởi nút phần trên của cái áo đầm mỏng tanh ra.

 

“Ối giời ạ, cậu Dzếch này, trông ngon lành không chịu được, phải không nào ?”  Và cả hai anh chàng đều tận tình thưởng thức màn trình diễn tiên nữ hiến đào với tất cả thích thú.

 

“Nè, huynh đài cũng có riêng một cặp mà,”  chàng Dzếch nhắc nhỏ Thiếu tá.

 

“Cậu nói đúng,”  Thiếu tá hoàn toàn đồng ý, và quay sang nhìn cô nương xinh đẹp kia đang kiên nhẫn ngồi chờ Thiếu tá trên cái ghế xa-lông bên kia phòng.  Mái tóc đen bóng của cô nương được thắt thành những bím nhỏ rất cầu kỳ, và cô nương có một đôi mắt to màu nâu thẫm, đôi môi son đỏ thắm nổi bật trên làn da mặt trắng trẻo.  Cô nương đứng lên, bước tới, một tay hờ hửng choàng qua vai Thiếu tá, rồi chu mỏ nhìn Thiếu tá như giận dỗi.

 

“Cậu có chắc là không có cô nương nào hiểu tiếng Anh đấy chứ ?”  Thiếu tá vừa hỏi vừa té nhào vào vòng tay trắng nỏn ôm trai rất điêu luyện của cô nương tóc đen.

 

“Cả hai em đều là người Bồ-Đào-Nha,”  chàng Dzếch trấn an Thiếu tá.  “Nhưng tốt hơn hết huynh đài nên thử lại cho chắc.”

 

“Rất tốt.”  Thiếu tá suy nghĩ một lát.  “Nhị vị cô nương này, tại hạ phải báo trước cho nhị vị biết là bọn tại hạ sẽ không trả tiền cho nhị vị đâu đấy nhé – không trả một xu.  Đây chỉ thuần túy là chuyện yêu đương vớ vẩn cho vui thôi.”

 

Không thấy cô nương nào nghe xong mà trở mặt làm dữ với hai anh chàng hết trơn.  Đã vậy, vũ khúc Thanh Xà - Bạch Xà hai cô nương cứ tỉnh bơ không ngừng uốn éo múa tiếp.

 

“Được rồi,”  Thiếu tá kết luận.  “Chúng mình có thể bàn tiếp.”

 

“Ngay lúc như vầy hả ?”

 

“Chúng mình chỉ còn một khoảng thời gian ngắn, đến sáng mình phải có quyết định sẽ làm gì.”

 

Chàng Dzếch nói cái gì đó mà không ra tiếng khiến Thiếu tá phải hỏi lại.  “Chả nghe cậu nói gì cả.”

 

“Tên bạn già hồ ly tinh Vương Gia của huynh đài đã gài tụi mình một cú xính vính,”  chàng Dzếch lặp lại câu nói một cách chua chát.  Thiếu tá chưa kịp trả lời thì đã bị cái cái mỏ đỏ chót như trái chín, chu ra dài thòng, khóa chặc cái miệng Thiếu tá lại.  Căn phòng đột nhiên im re một chập cho tới khi Thiếu tá lôi được cái mỏ của mình ra và ngửng đầu lên cả hàng ria mép đã nhàu nhè lộn xộn và dính đầy son môi.

 

“Cậu Dzếch này, chúng mình sẽ làm cái quỉ quái gì nhỉ ?”

 

Và chàng Dzếch liền trả lời bằng thứ ngôn ngữ trời uýnh khiến không ai có thể hiểu lầm ý đồ của anh chàng định sắp làm cái quỉ quái gì.

 

“Mình không phải hỏi chuyện đó.  Mình muốn nói là tụi mình sẽ trả lời làm sao với bạn già Kẹo Kéo vào sáng mai cơ ?  Tụi mình sẽ đồng ý giao hàng đấy chứ ?”

 

Coi bộ kiên nhẫn hết nổi, cô nương của Thiếu tá liền chồm lên, câu cổ Thiếu tá và lôi cái miệng Thiếu tá xuống lần nữa.

 

“Cậu Dzếch này, giời đất ơi, hãy tập trung vào vấn đề,”  Thiếu tá còn ráng hét lên trước khi bị làn sóng cô nương bao phủ.

 

“Tui vẫn đang tập trung, vẫn đang tập trung !”  Chàng Dzếch trấn an Thiếu tá, vừa cố liếc sang nhìn Thiếu tá, vừa chống đỡ cô nương mủm mỉm đang quậy như giặc.

 

“Khoan nói đâu xa, chỉ vừa giáo đầu thôi, làm thế quái nào mà chúng mình đổ bộ được bốn chiếc xe bọc thép lên bờ biển của một xứ thù nghịch ?  Rồi kế đến, làm sao đưa chúng nó vượt qua hai trăm dặm đến biên giới Ethiopia ?”  Thiếu tá hỏi thiệt thảm não, qua cái khóe miệng còn chưa bị cô nương bịt kín, và thình lình Thiếu tá dường như nhìn thấy chuyện lạ.  Thiếu tá lôi người ra khỏi vòng vây của cô nương rồi chống cùi chỏ nhỏm lên.  “Này, cô nương của cậu tóc chẳng vàng tí nào cả đấy.  Quả thực chuyện lạ phi thường.”

 

Chàng Dzếch liếc ngang cười hì hì.  “Còn cô nương của huynh đài coi bộ là dân Tô-Cách-Lan đấy – mèn ơi, ẻn còn đang đeo một cái sporran [ 2] nữa kìa.”

 

“Cậu Dzếch này, mình phải có quyết định.  Làm hay không làm ?”

 

“Hành động trước, quyết định sau.  Hãy tấn chiếm mục tiêu.”

 

“Đúng thế,”  Thiếu tá lập tức đồng ý, nói nào ngay Thiếu tá cũng thấy bàn chuyện mần ăn ngay lúc này thiệt là trớt quớt.  “Tới luôn bác tài.”

 

“Xạ thủ, rà ngang tầm súng.  Chuẩn bị.  Khai hỏa.  Xạ kích tự do.”

 

“Bắn !”  Thiếu tá hét lên, rồi cuộc đối thoại đột nhiên gián đoạn.  Đến nửa tiếng sau câu chuyện mới được tái tục với hai anh chàng tả tơi xốc xếch xệu xạo, chăm chú quan sát tấm bản đồ chi tiết của vùng bờ biển Đông Phi do madame Xí-Xào cho mượn.

 

“Có cả nghìn dặm bờ biển không có canh gác.”  Thiếu tá dùng ngón tay dò theo cái sừng bự của bản đồ Phi châu [ dưới ánh sáng của ngọn đèn Petromax, rồi ngón tay Thiếu tá di chuyển vào nội địa.  “Và chỗ này ghi chú là bán sa mạc suốt tới biên giới.  Chúng mình chắc không đến nỗi đụng phải chốn đông người đâu nhỉ.”

 

“Thiệt là kiếm ăn cực khổ trời đất biết,”  chàng Dzếch buột miệng than thở.

 

“Chúng mình đi không hở ?”  Thiếu tá ngước lên hỏi.

 

“Huynh đài đã biết từ khuya là mình sẽ đi mà.”

 

“Vâng,”  Thiếu tá bật cười khà khà.  “Mình biết là chúng mình sẽ đi.  Mười nhăm nghìn bảng bảo là chúng mình phải đi thôi.”

 

 

         

 

 

Ông Hoàng nhận được quyết định chịu làm bảo tiêu của hai anh chàng chỉ với một cái gật đầu, rồi ngài cất tiếng hỏi,

 

“Các cậu đã có kế hoạch làm thế nào hoàn thành công tác này chưa ?  Không chừng mình có thể giúp một tay, mình biết rất rõ vùng bờ biển và hầu hết các con đường dẫn vào nội địa.”  Rồi ngài ra hiệu cho một quan cố vấn trải tấm bản đồ lên bàn làm việc.  Chàng Dzếch vừa trình bày kế hoạch, vừa dò ngón tay ngang qua tấm bản đồ.

 

“Chúng tôi đã nghĩ tới chuyện mướn một chiếc tàu tại Dar es Salaam này, loại có thể lội vô tới chỗ tương đối cạn, để chở các chiếc xe, rồi đổ bộ lên khoảng bờ biển này.  Sau đó, chúng tôi sẽ chất hết hàng lên các chiếc xe, luôn cả xăng dầu, và chạy thẳng vào nội địa, tới một địa điểm giao hàng đã ấn định trước để gặp người của ngài.”

 

“Vâng,”  ông Hoàng đồng ý.  “Ý kiến này căn bản là đúng.  Nhưng mình phải tránh phần lãnh thổ thuộc Anh.  Họ có một hệ thống tuần tra rất chặc chẽ để ngăn chận chuyện xuất cảng nô lệ sang phương Đông.  Không, tốt nhất mình nên tránh xa xứ Somaliland của Anh Quốc.  Phần lãnh thổ thuộc địa của Pháp thích hợp hơn.”

 

Rồi hai anh chàng và ông Hoàng lập tức bị lôi cuốn vào kế hoạch thực hiện cuộc hành trình.  Đến lúc này hai tên mới thấy ra là cả hai đã quá chủ quan coi thường những khó khăn đang chờ đón phía trước, và sự cố vấn của ông Hoàng thì quả nhiên là sự giúp đỡ vô giá.

 

“Cuộc đổ bộ của hai cậu sẽ là một trong những giai đoạn tối quan trọng.  Ở vùng bờ biển này, khi thủy triều hạ thì mực nước biển rút xuống đến gần hai mươi bộ và đáy biển rất nguy hiểm cho tàu bè.  Tuy nhiên, ở tại điểm này – khoảng bốn mươi dặm về hướng bắc của Jibuti – có một hải cảng cổ tên là Mondi.  Nó không được đánh dấu trên bản đồ.  Hải cảng này từng là một trong các trung tâm buôn bán nô lệ trước khi việc buôn bán này bị bãi bỏ, giống như ở Zanzibar và đảo Mozambique .  Mondi đã bị một lực lượng quân Anh Quốc tấn công và càn quét vào năm 1842.  Hải cảng không có nước ngọt và từ đó bị bỏ hoang.  Tuyệt một điều là hải cảng này có một lòng lạch sâu, rất thuận tiện cho tàu bè tiến sát vào bờ.  Đây thực là một địa điểm rất tốt để đưa các chiếc xe lên bờ – một công tác cực kỳ khó khăn cho hai cậu vì không có bến tàu đường hoàng và cần trục thích hợp.”

 

Thiếu tá cẩn thận ghi lại những lời chỉ dẫn của ông Hoàng, trong khi chàng Dzếch nghiêng người trên mặt bàn chăm chú quan sát bản đồ.

 

“Còn việc tuần tiễu ở vùng này thế nào ?”  anh chàng cất tiếng hỏi, và ông Hoàng nhún vai trả lời.

 

“Có một tiểu đoàn Lê-Dương [4] đóng tại Jibuti – và thỉnh thoảng họ cho một đoàn tuần tiễu cỡi lạc đà đi qua vùng này.  Phải hên lắm mới đụng nhằm mấy chú.”

 

“Quả nhiên là những thứ xui xẻo rất hiếm thấy mà tại hạ lại rất mong được gặp,”  Thiếu tá nói nhỏ.

 

“Sau khi chúng tôi lên bờ rồi thì sao nữa ?”

 

Ông Hoàng chỉ vào bản đồ.  “Từ Mondi, hai cậu sẽ di chuyển dọc theo biên giới của Eritrea thuộc Ý – hướng tây nam – cho đến khi hai cậu đụng vùng đầm lầy nơi sông Awash chìm vào sa mạc.  Rồi hai cậu rẽ sang hướng tây, băng qua biên giới Somali thuộc Pháp, tiến vào xứ Danakil của Ethiopia [5].  Mình sẽ cho người đến gặp đoàn xe của các cậu ở đây –“  Ông Hoàng quay sang hỏi các quan nguyên lão cố vấn.  Lập tức một cuộc bàn cãi sôi nổi và lớn tiếng diễn ra, cuối cùng ông Hoàng quay lại mỉm cười với hai anh chàng.

 

“Chúng tôi dường như thống nhất ý kiến với nhau là điểm hẹn nên ở tại Wells of Chaldi – chỗ này.”  Ông Hoàng chỉ điểm hẹn trên bản đồ cho hai anh chàng thấy rõ một lần nữa.  “Như hai cậu có thể thấy, nơi này nằm sâu trong lãnh thổ của Ethiopia .  Điều này cũng rất tiện cho Chính Phủ của chúng tôi – bởi vì các chiếc xe này sẽ được sử dụng vào việc phòng thủ ải Sardi và trục lộ giao thông dẫn đến Dessie – trong trường hợp quân Ý sẽ xâm lăng theo hướng đó –“  Ông Hoàng chợt bị ngắt ngang bởi một quan cố vấn, ngài lắng nghe vài phút, gật đầu tỏ vẻ đồng ý, rồi quay trở lại hai anh chàng.  “Có đề nghị là vì cuộc hành trình của hai cậu từ cảng Mondi tới Wells of Chaldi sẽ đi qua cả một vùng sa mạc mênh mông mà không có đường mòn nào hết – có nơi xe không qua được – nên chúng tôi sẽ cung cấp hai cậu một người hướng đạo biết rõ cả khu vực –“

 

“Được vậy thì còn gì hơn nữa,”  chàng Dzếch cao giọng với tất cả phấn khởi nhẹ nhõm.

 

“Điều này quả nhiên tuyệt vời đấy, bạn già Kẹo Kéo,”  Thiếu tá cũng đồng ý.

 

“Rất tốt.  Chàng trai trẻ mà mình chọn vốn là một người thân của mình, cháu gọi mình bằng chú đấy.  Cháu nó nói tiếng Anh rất lưu loát, từng du học ở Anh Quốc ba năm, và rất rành vùng sa mạc mà hai cậu sắp đi qua, bởi vì cháu đã từng làm khách của một thủ lãnh bộ tộc ở phần lãnh thổ thuộc Pháp và từng tham dự những chuyến đi săn sư tử ở đấy.”  Ông Hoàng ngừng lại, quay sang châm một tràng tiếng Amharic với một quan cố vấn, và quan nguyên lão gật đầu rồi rời phòng họp.  “Mình vừa cho gọi cháu đến.  Tên cháu là Gia-Lễ-Giá-Lý-Ô Mã-Ly-Âm.”

 

Không bao lâu thì quan hướng đạo bước vào phòng, Gia-Lễ là một thanh niên rất trẻ, tuổi tác độ mới ngoài hai mươi.  Tuy vậy, tướng tá anh chàng đã cao lớn xấp xỉ ông chú, với cặp mắt dữ dội của một chiến sĩ và bộ vó dũng mảnh như chim ưng – nhưng da dẻ thì lại láng mướt như da con gái và có màu mật ong lợt.  Anh chàng đóng bộ theo kiểu tây phương, khuôn mặt nghiêm trang và đầy nét thông minh.

 

Ông Hoàng nhỏ nhẹ căn dặn anh chàng bằng tiếng Amharic, và anh chàng gật đầu, rồi quay sang Thiếu tá và chàng Dzếch.

 

“Chú tôi đã giải thích rõ về yêu cầu nhiệm vụ của tôi – và thực là vinh dự cho tôi được làm việc với các ngài.”  Giọng nói của anh chàng Gia-Lễ rất rõ ràng và tràn trề hí hửng.

 

“Huynh đệ có thể lái xe được không ?”  Chàng Dzếch đột nhiên hỏi một câu hơi bất ngờ, nhưng anh chàng Gia-Lễ vẫn mỉm cười, gật đầu.

 

“Thưa ngài, quả thực tôi biết lái xe.  Tôi có một chiếc xe thể thao Morgan ở Addis Ababa .”

 

“Quá đã.”  Chàng Dzếch mỉm cười đáp lễ.  “Nhưng huynh đệ sẽ thấy xe bọc thép không được êm ái lắm đâu nghe.”

 

“Gia-Lễ sẽ thu xếp những thứ cần thiết cho cuộc hành trình, và sẽ hội họp với hai cậu lập tức.  Hai cậu biết đấy, chiếc tàu này sẽ nhổ neo vào giờ ngọ hôm nay,”  ông Hoàng đưa mắt nhìn Gia-Lễ, và chàng quí tộc trẻ tuổi Ethiopian cúi mình chào ông Hoàng rồi rời phòng họp.

 

“Bây giờ cậu đang mắc một món nợ ân tình với mình đấy,  Thiếu tá Sĩ-Uyên, và mình yêu cầu cậu hoàn trả tức thì.”  Ông Hoàng Lij Mikhael quay trở lại Thiếu tá.  Vẻ hí hửng trên khuôn mặt Thiếu tá đột nhiên biến mất, và Thiếu tá vội vàng chuẩn bị thủ thế.  Nói nào ngay, Thiếu tá đã đụng độ ê càng với khả năng phù thủy giao dịch của ông Hoàng từ tối hôm qua.

 

“Nghe này, bạn già –“  Thiếu tá bắt đầu cự nự, nhưng ông Hoàng tỉnh bơ phán tiếp như chưa hề bị Thiếu tá ngắt ngang.

 

“Một trong những thứ vũ khí mà đất nước mình cần phải lợi dụng chính là lòng yêu chuộng lẽ phải của thế giới văn minh –“

 

“Tại hạ thấy chuyện đó cũng chẳng thay đổi được bao nhiêu đối với tình hình hiện tại,”  chàng Dzếch đưa ra nhận xét.

 

“Không bao nhiêu,”  ông Hoàng buồn rầu đồng ý.  “Chưa phải là thứ vũ khí có hiệu quả cao.  Nhưng nếu chúng tôi có thể trình bày cho cả thế giới biết những bất công, khiêu khích, gây hấn mà chúng tôi đang hứng chịu – thì chúng tôi có thể buộc các quốc gia dân chủ phải đứng ra ủng hộ chúng tôi.  Chúng tôi cần sự ủng hộ rộng rãi – chúng tôi phải vươn tới tất cả mọi người.  Nếu như những con người bình thường trên thế giới đều được thông tin đầy đủ về chúng tôi, họ sẽ thúc đẩy các chính quyền ở xứ họ phải có hành động.”

 

“Ý kiến rất hay,”  Thiếu tá đồng ý.

 

“Cùng đi với chúng tôi hiện giờ là một phóng viên có tư tưởng và tầm ảnh hưởng rất rộng lớn ở Hoa Kỳ.  Là một cây viết có hằng trăm nghìn độc giả trải khắp đất Mỹ, cũng như ở tất cả các xứ nói tiếng Anh.  Là một người yêu chuộng tự do, một nhà vô địch hoạt động chống áp bức không hề mệt mỏi.”  Ông Hoàng ngưng một chút rồi nói tiếp.  “Tuy nhiên, danh tiếng của người này đã khiến chúng tôi gặp trở ngại không ít.  Người Ý cũng thừa hiểu là mặt mũi họ sẽ vô cùng khó coi nếu như sự thực được lột trần dưới ngòi bút thượng ngoại hạng này – và họ đã làm mọi cách để ngăn chận việc này xảy ra.  Hôm nay chúng tôi đã được nghe trên các đài phát thanh tiếng Anh là các vùng lãnh thổ của Pháp và Ý sẽ từ chối cấp chiếu khán nhập cảnh, nghĩa là người bạn đồng minh của chúng tôi sẽ không có cách nào đến được Ethiopia.  Họ chẳng những đã cấm vận vũ khí – mà bây giờ còn ngăn cản không cho bạn hữu đến giúp đở chúng tôi.”

 

“Không,”  Thiếu tá lên tiếng.  “Tại hạ thực đã có đủ rắc rối cuộc đời rồi – chuyện tại hạ phải cung cấp thêm dịch vụ tắc-xi cho cả phái đoàn báo chí thế giới nữa thì thực là –“.

 

“Hắn có lái xe được không ?”  chàng Dzếch ngắt lời Thiếu tá.  “Chúng ta vẫn còn thiếu một bác tài lái chiếc xe cuối.”

 

“Nếu như những gì mình biết về mấy tên nhà báo là chính xác, thì tất cả nghề lái mà bọn ấy biết chính là lái mấy chai whisky,”  Thiếu tá cao giọng trả lời một cách chán nản.

 

“Nếu như hắn có thể lái xe – vậy thì chúng ta sẽ tiết kiệm được tiền mướn thêm một bác tài rồi,”  chàng Dzếch chỉ rõ điều lợi hại, và vẻ chán nản của Thiếu tá hình như bớt đi một chút.

 

“Chúng mình hãy hỏi thử cho biết,”  ông Hoàng lên tiếng đề nghị, rồi quay sang nói nhỏ với quan hầu cận, và quan vội vàng bước ra khỏi phòng họp.  Thiếu tá nhơn lúc đang chờ quan lớn nhà báo tới, liền chộp lấy cơ hội nắm tay ông Hoàng kéo ra khỏi đám đông nguyên lão.

 

“Tại hạ vừa tính sơ những chi phí phụ trội mà bọn này sắp phải chi – tiền thuê một chiếc tàu và những thứ lặt vặt – khiến tình hình tài chính của bọn tại hạ bị kéo dãn quá mức.  Không hiểu ngài có thể làm một cử chỉ chứng tỏ ngài tin tưởng bọn tại hạ – chẳng hạn như ứng trước một số chi nhỏ.  Chừng vài trăm bảng được không ?”

 

“Thiếu tá Sĩ-Uyên, mình đã làm cử chỉ đó rồi đấy, chính là trao thằng cháu cưng của mình cho cậu.”

 

“Không phải tại hạ không thấy –“  Thiếu tá sắp sửa mở rộng mặt trận kì kèo thêm bớt của dân làm áp-phe chuyên nghiệp, nhưng thình lình cửa phòng vụt mở ra và quan nhà báo bước vô.  Thiếu tá khi không đứng thẳng người lên và đưa tay sửa lại cái nơ trên cổ.  Rồi cái miệng Thiếu tá nở ra một nụ cười tươi rói như tia nắng buổi sớm chiếu rọi vào phòng họp.

 

Anh chàng Dzếch Ba-Toong ngồi phịch xuống cái ghế bên cạnh bàn làm việc và sắp mồi một điếu thuốc, bàn tay đang khum lại che ngọn lửa cây diêm, nhưng đột nhiên anh chàng ngồi sững như trời trồng.  Cây diêm vẫn tiếp tục cháy trong khi anh chàng cứ ngó trân trân quan nhà báo vừa bước vô phòng.

 

“Gentlemen,”  ông Hoàng lên tiếng giới thiệu.  “Xin được hân hạnh giới thiệu cô Vịt-To-Lợi-Á Cấm-Bà-Quẹo,  một thành viên ngoại hạng của báo chí Hoa Kỳ và là một người bạn tốt của đất nước chúng tôi.”

 

Nhà báo Vịt-Kỳ Cấm-Bà-Quẹo coi còn trẻ chán, tuổi tác chắc chưa tới ba mươi, và lịch sự hấp dẫn mê hồn.  Cô nương từ lâu cũng đã biết tuổi trẻ và nhan sắc không phải là hai yếu tố dẫn tới thành công trong sự nghiệp cô đang theo đuổi, và vì vậy cô luôn luôn cố gắng che dấu chúng, mặc dầu hiếm khi dấu được.

 

Cô nương ăn mặc rất táo bạo, cứ như đờn ông vậy.  Cái sơ-mi kiểu lính tráng có cầu vai, thêm cặp túi có nắp trước ngực, và cặp túi đang bị đẩy ra đằng trước quá mức thấy phát lo, nhưng hơi kỳ lạ là không ai lại có thể mở miệng chê thủ phạm bên dưới hai cái túi áo là sỗ sàng là vô duyên cho được.  Cái váy cũng cùng một loại vải màu kem với cái sơ-mi, và cũng mang một cặp túi có nắp ở hai bên đùi.  Vòng quanh cái eo khá thon thả là một sợi thắt lưng da rắn với cái khóa tổ chảng.  Cô nương nhà báo đi một đôi giày loại lace-up mà các ladies trong Hội Phụ Nữ Vùng Lên gọi là loại ‘giải phóng’.  Nhưng so với cặp chưn dài tuyệt đẹp của cô nương thì hình như đôi giày cách mạng phụ nữ này chẳng nhằm nhè gì hết trơn.

 

Mái tóc cô nương được cột chặt ra đằng sau để lộ nguyên cái cần cổ thiên nga rất quí phái.  Tóc cô nương thuộc loại sợi nhuyễn như tơ, màu vàng rực như màu lúa chín, như lá mùa thu, có vài chỗ bị nắng gió làm phai màu như bạc, phía trước buông xuống che phủ cái trán rộng.

 

Thiếu tá hườn hồn trước tiên.  “Cô Cấm-Bà-Quẹo, tất nhiên rồi.  Tại hạ cũng được biết các kiệt tác của cô.  Cột xã luận của cô được đăng thường xuyên trên tờ báo Người Quan Sát đấy mà.”  Cô nương nhìn thẳng Thiếu tá, vẻ mặt rất bình thản, hoàn toàn miễn nhiễm đối với nụ cười tươi rói của Thiếu tá.  Đôi mắt cô nương, như Thiếu tá để ý thấy, rất trang nghiêm và nhìn thẳng, màu lục pha lẫn ánh vàng sẫm, tràn đầy nét tinh anh.

 

Cây diêm trên tay chàng Dzếch đã cháy tới ngón tay khiến anh chàng nhảy nhỏm và rít lên xài giấy năm chục.  Cô nương đưa mắt ngó chàng Dzếch và anh chàng lẹ làng đứng dậy.

 

“Tại hạ thiệt không ngờ là một phụ nữ.”

 

“Bộ ông không thích phụ nữ hở ?”  Tiếng nói cô nương vừa trầm vừa khao khao giọng thổ khiến hai cánh tay chàng Dzếch khi không nổi đầy da ngỗng.

 

“Hơ, không hẳn vậy.  Một số những người tại hạ rất thương mến là phụ nữ.”

 

Anh chàng quan sát thấy cô nương khá cao ráo, cũng có tới vai anh chàng, và thân hình rất cân đối như một lực sĩ.  Cô nương hơi ngửng đầu lên rất kiêu hãnh, lộ rõ cái quai hàm cứng rắn, đầy tính tự lập.

 

“Mà tại hạ cũng không nghĩ ra tại hạ ưa thích ai hơn phụ nữ.”  Và cô nương nghe xong liền mỉm miệng cười một phát đầu tiên.  Nụ cười thiệt ấm áp không ngờ, và chàng Dzếch cũng tình cờ bắt gặp cô nương có cái răng cửa lòi xỉ [6]  – hơi nhô ra khỏi hàng so với cái kia.  Anh chàng thích thú ngó chằm chằm cái răng lòi xỉ một lát, rồi nhìn lên đôi mắt màu lục đang phát ra những tia sáng thăm dò.

 

“Cô nương có biết lái xe không ?”  Anh chàng hỏi rất nghiêm chỉnh, và nụ cười mím chi của cô nương không ngờ phát triển thành tiếng cười khúc khích.

 

“Tôi biết,”  Vịt-Kỳ cô nương vừa cười vừa trả lời.  “Tôi cũng biết cưỡi ngựa và xe đạp, tôi biết chơi trượt tuyết, lái máy bay, chơi bi-da snooker và đánh bài bridge, ca hát, khiêu vũ và chơi đàn dương cầm.”

 

“Ồ, được rồi,”  chàng Dzếch cũng bật cười khà khà với cô nương.  “Khả năng của cô nương thiệt đã quá dư rồi.”

 

Nhà báo Vịt-Kỳ quay sang ông Hoàng.  “Chuyện gì vậy, thưa ngài Lij Mikhael ?”  Cô nương cất tiếng hỏi.  “Hai ngài gentlemen này thực ra có dính dáng gì tới kế hoạch của chúng ta không vậy ?”

 

 

   

 

 

Chiếc Dunnotta Castle vừa nhổ neo và cái thân tàu màu tím khổng lồ chầm chậm quay mũi ngang qua những rặng dừa đang thụt lùi trên bờ biển, những tầng mây trên bầu trời vàng rực ánh nắng trưa, và con tàu đang hướng thẳng ra cửa hải cảng.

 

Đứng bên lan can con tàu là bóng dáng cao ráo của ông Hoàng, giữa những cái áo dài trắng của đoàn tùy tùng.  Con tàu bắt đầu tăng tốc, chẻ một lượn sóng trắng xóa trước mũi, ông Hoàng đưa một cánh tay lên chào tạm biệt bốn bóng người đang đứng trên bến tàu.

 

Chẳng bao lâu, hình dáng con tàu từ từ nhỏ dần rồi chìm khuất vào đại dương phía đông mênh mông trời nước, trước khi con tàu sẽ quay mũi lên hướng bắc.

 

Bốn bóng người vẫn còn ngẩn ngơ lưu luyến đứng trên cầu tàu, mặc dầu con tàu đã khuất bóng.  Họ vẫn còn đăm đăm nhìn về hướng chơn trời vô tận, nơi thỉnh thoảng điểm vài cánh buồm của thuyền đánh cá.

 

Chàng Dzếch lên tiếng trước tiên.  “Mình phải tìm chỗ ở tạm cho cô Cấm-Bà-Quẹo mới được.”  Vừa dứt lời thì cả chàng Dzếch và Thiếu tá cùng cúi xuống chộp lấy cái va-li nhàu nhè của cô nương cùng cái máy đánh chữ trong cái túi da.

 

“Bắt thăm hình chữ nhé,”  Thiếu tá liền đề nghị, và một đồng si-linh Đông Phi liền xuất hiện trên tay Thiếu tá.

 

“Chữ,”  chàng Dzếch chọn.

 

“Thực không may đấy, con giai nhớn,”  Thiếu tá tỏ vẻ thương hại, rồi cất đồng bạc vô túi.  “Mình sẽ chăm sóc cho cô Cấm-Bà-Quẹo –“  Thiếu tá nói tiếp, “– Rồi mình cũng nên bắt đầu tìm thuê một chiếc tàu.  Trong khi đó, mình đề nghị là cậu xem lại các chiếc xe.”  Vừa nói Thiếu tá vừa ngoắc một chiếc xe kéo trong một dãy xe đang đậu chờ khách ở đầu cầu tàu.  “Hãy nhớ này, cậu Dzếch, lái chúng xuống bến cảng thì chẳng có gì đáng kể, nhưng sau đó lái chúng vượt hai trăm dặm trên sa mạc thì lại là chuyện khác.  Cậu phải bảo đảm là chúng mình không phải cuốc bộ trở về đấy nhé,”  Dặn dò chàng Dzếch xong, Thiếu tá đỡ cô nương Vịt-Kỳ bước lên xe.  “Tới luôn, bác tài !”  Thiếu tá ra lịnh cho bác tài, rồi vừa cất bước chạy chầm chậm theo chiếc xe hướng lên phố, vừa quay đầu lại hí hửng vẫy tay chào chàng Dzếch và Gia-Lễ.

 

“Xem ra bây giờ chỉ còn ngài với tôi thôi,”  anh chàng Gia-Lễ lên tiếng nhận định tình hình, và chàng Dzếch vừa dõi mắt nhìn theo chiếc xe kéo vừa càu nhàu.  “Qua nghĩ là qua cũng nên đi kiếm một chỗ tạm trú mới là phải đạo,”  rồi anh chàng đột nhiên phấn chấn lên.

 

“Hãy đi theo qua, tiểu huynh đệ.  Chú em mình có thể ngủ tạm trong cái lều của qua vài bữa trước khi mình lên đường.”  Và anh chàng nheo mắt cười.  “Nói thiệt tiểu huynh đệ đừng giận nghe, qua thiệt có ao ước là người sắp tới ngủ trong lều của qua là cô Cấm-Bà-Quẹo kìa, chớ không phải tiểu huynh đệ đâu.”

 

Chú nhỏ liền bò ra mà cười.  “Tôi hiểu được cảm giác của ngài – nhưng biết đâu cô ấy ... ngái, thưa ngài.”

 

“Tuyệt đối không thể nào.  Một cô nương lịch sự như vậy khi ngủ tuyệt đối không biết ... ngái,”  chàng Dzếch liền lên lớp chú nhỏ một bài học kinh nghiệm về các cô nương lịch sự.  “Và còn một chuyện nữa – từ nay đừng có kêu qua là ngài này ngài nọ nữa khiến qua phát nổi gai ốc cùng mình.  Cứ kêu chú Dzếch là được rồi.”  Rồi chú Dzếch cúi xuống xách một trong mấy cái túi của cháu Gia-Lễ lên.  “Mình cuốc bộ,”  chàng Dzếch nói với Gia-Lễ.  “Qua có một cái cảm giác trống rỗng thiệt khủng khiếp là mình phải mõi mòn chờ đợi rất lâu trước khi được nghe tiếng chim ưng kêu lần kế tiếp.”

 

Hai chú cháu cuốc bộ dọc theo lề con đường không có tráng nhựa bụi bay mù trời.

 

“Lúc nãy tiểu huynh đệ nói có làm chủ một chiếc Morgan phải không ?”  chú Dzếch cất tiếng hỏi.

 

“Phải đó, chú Dzếch.”

 

“Mà tiểu huynh đệ có biết cái gì khiến chiếc xe lăn bánh được không ?”

 

“Là nhờ cái động cơ đốt trong.”

 

“Ô, tiểu huynh đệ thiệt là hết sẩy,”  chú Dzếch liền ca cháu Gia-Lễ rối rít.  “Thiệt là một cái sự bắt đầu rất đáng phấn khởi.  Nè, tiểu huynh đệ vừa trúng tuyển cái job kỹ sư nhì rồi đó – chuẩn bị xăn tay áo lên nghe.”

 

 

 

 

Thiếu tá Gia-Lạc Sĩ-Uyên có một lý thuyết về nghệ thuật quyến rũ các ladies mà trong suốt hai mươi năm qua Thiếu tá chưa hề tìm được lý do gì để xét lại lý thuyết của mình.  Các ladies cũng giống như đám dân thượng lưu, căn bản đều là những người giả hình và chỉ cần đưa ra một danh tước hão huyền sẽ đủ khiến kẻ lạnh lùng nhứt trong đám này biến thành một kẻ điên khùng.  Hai người vừa ngồi xuống hai cái băng ghế trên chiếc xe kéo là Thiếu tá liền bật cặp đèn pha tràn đầy sự ngọt ngào và quyến rũ chiếu ngay tới cô nương Vịt-Kỳ Cấm-Bà-Quẹo.

 

Một con người mới hai mươi chín mà tên tuổi đã lừng lẫy trong lãnh vực báo chí đầy phong ba bão táp thì không thể nào là một người kém hiểu biết hoặc còn quá ngây thơ trong cái thế giới yêu ma quỉ quái ngày nay.  Cô nương Vịt-Kỳ đã có ngay kết luận về con người của Thiếu tá chỉ trong vòng vài phút gặp gỡ đầu tiên.  Nói nào ngay, cô nương cũng đã từng quen biết khá nhiều công tử thành thị bảnh trai, ăn mặc rất chải chuốt, ánh mắt tinh anh và nói năng lịch thiệp.  Lưu manh, cô nương đã nhận xét như vậy – và cứ mỗi một giây phút có Thiếu tá bên cạnh, cô nương lại càng khẳng định nhận xét sơ khởi của mình là quá đúng – nhưng đã nói đi thì phải nói lại, đây là thứ lưu manh lịch sự bảnh trai quỉ bắt đi được, và cũng là thứ lưu manh rất dí dỏm với lối nói chuyện đậm đà kiểu cách thậm xưng gan ruồi mỡ muỗi khiến cô nương lập tức cảm thấy vô cùng lôi cuốn.  Cô nương đã vui vẻ lắng nghe Thiếu tá lấy le với cô nương về câu chuyện gia thế vọng tộc quí phái của mình.

 

“Như cụ Đại tá đã từng nói – chúng tôi luôn luôn gọi bố tôi là cụ Đại tá.”  Về điểm này Thiếu tá đã không phải thậm xưng quá đáng.  Ông cụ thân sanh của Thiếu tá quả thực đã qua đời với quân hàm Đại tá, nhưng không phải là một Đại tá Trung đoàn trưởng quân đội sáng chói chiến công như mọi người thường nghĩ.  Ông cụ thiệt ra là một Đại tá Cảnh Sát, đã chăm chỉ trèo lên tới chức vụ này từ một thầy cai hạng bét trong lực lượng Cảnh Sát Ấn Độ.

 

“Tất nhiên, tất cả bất động sản của gia đình chúng tôi đều bắt nguồn từ bên phía bà cụ tôi – “  Chỗ này Thiếu tá cũng khá thành thật.  Bà cụ thân sanh của Thiếu tá vốn là một tiểu thơ con một của một ông chủ lò bánh mì mần ăn thất bại, và toàn bộ gia sản là những cơ sở kinh doanh đầy ngập nợ nần ở Swansea [7].

 

“Cụ Đại tá có một chút máu lãng tử, và thường qua lại với đám giang hồ, cô biết đấy.  Cụ lại mê các ladies đỏng đảnh lẳng lơ và cá ngựa.  Rồi gia sản cũng đi tới chỗ khánh tận.”  Thiệt ra hai cụ thân sanh của Thiếu tá là những nạn nhơn của sự xâu xé bất công trong hệ thống giai cấp Anh-Cát-Lợi, hai cụ đã tận hiến đời mình để nâng cục cưng quí tử duy nhứt của hai cụ vượt qua cái lằn ranh vô hình phân chia giai cấp trung lưu và thượng lưu.

 

“Tất nhiên tại hạ lúc đó đang theo học ở Eton còn ông cụ thì hầu hết thời gian là đi công tác ở nước ngoài.  Ước gì tại hạ có thể hiểu biết ông cụ nhiều hơn.  Ông cụ nhất định là một người có nhân cách tuyệt vời –“  Chuyện này Thiếu tá cũng không có vẽ vời gì bao nhiêu.  Công tử Sĩ-Uyên được nhận vào trường Eton là nhờ sự giúp đỡ của ngài Ủy Viên Cảnh Sát, vốn cũng xuất thân từ trường này.  Số tiền hồi môn ít ỏi của bà cụ và một phần lớn lương bổng của ông cụ đã phải dùng vào công việc đào tạo công tử trở thành một gentleman thứ thiệt.

 

“Cô nương có tin nổi không ?  Cụ Đại tá bị giết trong một cuộc đấu súng tay đôi.  Súng lục và vào sáng sớm.  Ông cụ thực là một tay chơi lãng mạn, quá dư thừa lửa hồng trong huyết quản.”  Chỗ này Thiếu tá hình như kể chưa được đầy đủ lắm.  Bởi vì sau khi bà cụ qua đời vì một trận dịch tả, đồng lương của ông cụ không thể kham nổi các hóa đơn mà thỉnh thoảng công tử phải xã giao với các vương tôn công tử của các ngài Quận Công.  Ở Ấn Độ, hối lộ tuy không hẳn là một chuyện thiên kinh địa nghĩa, nhưng cũng là chuyện rất bình thường, một cách sanh nhai như bao nhiêu cách khác – nhưng xui xẻo là có một lần cụ Đại tá bị bể mánh.  Và quả thực là có cuộc đấu súng vào sáng sớm.  Trời vừa hừng đông, cụ Đại tá đã cỡi con ngựa đi vào một cánh rừng còn tối mò ở Ấn Độ với khẩu súng lục Webley, và con ngựa đỏ của cụ một tiếng sau đó tự mình chạy trở về chuồng, trên yên thiếu mất người cỡi, và giây cương thì bị lôi xềnh xệch dưới đất.

 

“Vậy là tự nhiên tại hạ phải rời trường Eton .”  Quả thiệt công tử Sĩ-Uyên lúc đó bị bắt buộc phải thôi học.  Ngẫu nhiên lúc đó cũng xảy ra chuyện tiểu thơ con gái cưng của chủ nhà đang say đắm trao tình với công tử Sĩ-Uyên, nên công tử đã bước xuống tam cấp nhà trường trong hào quang chiến thắng, như ông Hoàng Lij Mikhael đã nhắc lại biến cố động trời này vào hôm trước, mà không đến nỗi bị quê xệ như một tên Lê Mít, Nguyễn Xoài nào đó bị đá văng ra khỏi cổng trường vì thiếu tiền học phí.

 

Thế rồi chàng công tử Tư Mã áo xanh, tuổi xuân đang phơi phới, đã lao vào cuộc đời với phong cách ăn nói, hành xử và hưởng thụ của một gentleman chánh tông có cầu chứng tại trường Eton – chỉ ngặt một cái là công tử chẳng có phương tiện gì trong tay để thể hiện cái phong cách đó.

 

“Rất may là đại chiến thế giới đã xảy ra vào lúc ấy –“  Và quả thiệt phe Đồng Minh lúc bấy giờ cần lính thiệt nhiều và thiệt gấp nên ngay cả Trung Đoàn của ngài Quận Công cũng không hưởn điều tra cặn kẻ lý lịch của các sĩ quan mới gia nhập.  Chỉ cần có cái mác xuất thân từ trường Eton là đã quá đủ được trúng tuyển sĩ quan, cộng thêm sự trợ giúp rất đắc lực của các khẩu đại liên quân Đức, chàng sĩ quan trẻ tuổi đã lên lon rất lẹ ngay tại trận tiền.  Tuy nhiên, sau khi đình chiến, mọi sự trở lại bình thường và ông sĩ quan trẻ tuổi phải cần tới ba ngàn bảng mỗi năm để sống cho ra hồn ra vía.  Cho nên Thiếu tá phải lao mình về phía trước, và từ đó không ngừng đi mãi tới những chơn trời mới lạ.

 

Cô nương Vịt-Kỳ say sưa lắng nghe câu chuyện tự thuật giả chơn lẫn lộn của Thiếu tá.  Cô nương dư biết đây là vũ điệu của một tên hổ mang đang thôi miên cô gà mái, và đằng sau sự cám dỗ trước mặt chính là những ý đồ hắc ám ma quỉ và lường gạt.

 

Nói nào ngay, các gentlemen cỡ như Thiếu tá đây ngày nay đã xuất hiện tràn đồng.  Vì yêu cầu công việc, cô nương đã từng tới những nơi có xảy ra xung đột tranh chấp ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, và những lãng tử loại này cũng rất ưa mò tới các điểm nóng.  Cô nương luôn luôn tìm thấy ở các lãng tử giang hồ này sự kích thích và nguy hiểm, dựng tóc gáy và vui đã kể – nhưng bao giờ kết cuộc cũng là những đau đớn và bi thương không tránh khỏi.

 

Cô nương cố kềm giữ không để lộ chút phản ứng nào, trong bụng bồn chồn mong sao chuyến đi dạo trên xe kéo mau mau chấm dứt, bị vì các đợt xung phong liên tục của Thiếu tá thiệt tình đã tràn ngập khả năng phòng thủ của cô nương, cho nên lúc chiếc xe kéo ngừng lại trước lối vô của khách sạn Hoàng Gia thì cô nương đã gần như nghẹt thở vì cố nín cười.  Và tức nhiên cuối cùng cô nương phải bật ngửa ra đằng sau rú lên cười cho đã, mặc tình cho mái tóc vàng hoe tung bay trong gió.

 

Thiếu tá rất dầy kinh nghiệm trong việc đánh giá nụ cười của các ladies.  Cô nương Vịt-Kỳ đã cười rất tươi, hoàn toàn thẳng thắn, không có chút xíu nào màu mè diễn kịch, khiến Thiếu tá vô cùng yên tâm mà nắm chặc lấy bàn tay để đỡ cô nương xuống xe.

 

Thiếu tá đưa cô nương đi xem căn phòng thượng hạng có gắn hệ thống điều hòa không khí riêng biệt mà Thiếu tá đang ở.  Và Thiếu tá tha hồ quảng cáo, nào là “Chỉ có một phòng thượng hạng duy nhất ở khách sạn này.  Bao lơn nhìn ra khu vườn và hứng gió mát từ biển thổi vào mỗi đêm.”  Rồi nào là “Căn phòng duy nhất có nhà vệ sinh riêng, và được trang bị loại toilet hảo hạng của Pháp Quốc , xối nước tự động, chắc cô nương đã biết.”  Còn chưa hết, “Giường ngủ thì quả nhiên siêu phàm, êm ái như nằm trên mây không muốn thức dậy.  Tại hạ trước đây thực chưa bao giờ biết được cái cảm giác tuyệt vời như thế.”

 

“Đây là phòng tôi sẽ ở lại đấy hở ?”  Cô nương Vịt-Kỳ cất tiếng hỏi rất là em bé ngây thơ vô số tội, nghe phát ngứa lỗ tai.

 

“À, tại hạ nghĩ là chúng mình có thể thu xếp được một cách ổn thỏa đấy, cô nương nhớn ạ.”  Coi bộ chắc cô nương đã rõ mười mươi Thiếu tá đang muốn nói tới cái cách gì rồi.

 

“Thưa Thiếu tá, ngài thực là tử tế,”  Cô nương nhỏ nhẹ trả lời, rồi bước tới nhấc cái điện thoại lên.

 

“Đây là cô Cấm-Bà-Quẹo.  Thiếu tá Sĩ-Uyên muốn nhường căn phòng của ngài cho tôi.  Xin gởi một nhơn viên hầu phòng đến dọn đồ đạc cá nhơn của Thiếu tá tới một phòng khác.”

 

“Ơ này, tại hạ muốn nói –“  Thiếu tá chưng hửng và vội vàng lên tiếng đính chánh, nhưng cô nương đã lẹ làng bịt cái ống nói lại rồi mỉm cười với Thiếu tá.

 

“Ô, Thiếu tá, ngài quả thực ngọt ngào quá đi mất !”  Rồi cô nương quay sang lắng nghe tiếng quan kinh lý khách sạn léo nhéo trong ống nghe một lát, và thình lình chắc lưỡi nho nhỏ.  “Ái chà !  Hơ ..., nếu như đó là căn phòng duy nhất còn trống thì đành vậy chứ biết sao, tôi chắc là ngài Thiếu tá cũng đã từng trải qua những kinh nghiệm trong các căn phòng ở trại lính còn thiếu tiện nghi hơn nhiều.”

 

Khi được đưa tới căn phòng mới của mình, Thiếu tá đã ráng thành thật nhớ lại những điều kiện tồi tệ thiếu tiện nghi ở các trại lính.  Cái nhà tù Trung Quốc ở Mukden thiệt là lạnh lẻo hơn nhiều và đâu có được nằm ngay trên cái bar ồn ào náo nhiệt như vầy chớ, còn so với cái chiến hào ở tuyến đầu vào mùa đông năm 1917 tại Arras [8] thì căn phòng này vừa rộng rãi hơn vừa được trang bị đồ đạc cũng tốt hơn gấp cả chục lần chớ chơi sao.

 

 

          

 

 

Trong ba ngày kế tiếp, Thiếu tá ngày nào cũng la cà ở bến cảng, khi thì uống trà và whisky trong văn phòng quan kinh lý bến cảng, lúc thì ngồi tàu với viên hoa tiêu chạy ra vịnh đón bất kỳ tàu mới đến nào đi ngang qua bờ kè, lúc khác lại ngồi xe kéo đi dọc theo cầu tàu để nói chuyện với các tài công tàu lớn tàu nhỏ, bất kể là tàu cũ xì đốt than đá hay tàu mới hơn chạy dầu, hoặc mướn một chiếc đò ngang chèo lòng vòng trong cảng để hỏi thăm tất cả các chiếc tàu đang thả neo.

 

Đến buổi tối thì đêm nào Thiều tá cũng tận lực đấu trí với cô nương Vịt-Kỳ với tất cả ngón nghề săn đón chìu chuộng, ba xạo đấu hót và bồ đào champagne – bởi vì đó là những món mà cô nương dường như ăn hoài không biết chán, mà lại hoàn toàn miễn nhiễm mới ác chớ !  Cô nương lắng nghe Thiếu tá đấu hót, cười khúc khích với những câu chuyện dí dỏm của Thiếu tá, cụng bồ đào champagne với Thiếu tá, rồi tới nửa đêm cô nương lại lịch sự xin phép rút lui, nhẹ nhàng nhưng nhanh chóng vô hiệu hóa bất kỳ đòn phép nào của Thiếu tá đưa ra định kéo cô nương vào lòng hay đặt chơn vào phòng cô nương.

 

Đến sáng ngày thứ tư, nếu như Thiếu tá đã có hơi xuống tinh thần thì cũng không phải là chuyện gì quá khó hiểu.  Thiếu tá đã định xách một sô bia Tusker tới trại của chàng Dzếch để tán dóc với người bạn Dăng-Kỳ cho lên tinh thần một chút.  Tuy nhiên, nghĩ tới lúc phải thú nhận thất bại bi thảm của mình với chàng Dzếch vào lúc này, Thiếu tá cảm thấy xệ chịu không thấu, bèn gạt bỏ ý định đi thăm bạn hiền qua một bên và ngoắc một chiếc xe kéo chạy xuống bến cảng như thường lệ.

 

Đêm hôm trước đã có một chiếc tàu mới đến, đang thả neo ở bên ngoài hải lộ ra cảng, và Thiếu tá đang quan sát chiếc tàu này qua cặp ống ngắm.  Chiếc tàu có vẻ dơ dáy, cũ kỹ, thân tàu màu sẫm khó nói là màu gì, một đường viền muối ăn vòng quanh thân tàu, mình mẫy đầy thẹo và một băng thủy thủ ăn mặc khá rách rưới.  Nhưng Thiếu tá cũng thấy đồ đạc trang bị trên chiếc tàu vẫn còn khá, và mặc dầu đây là chiếc tàu chạy buồm với mấy cột buồm cao nghệu, dư sức giương cao những cánh buồm khổng lồ, nhưng phía sau lái lại có gắn thêm chưn vịt cánh quạt – có lẽ chiếc tàu đã được cải tiến, trang bị thêm một động cơ chạy dầu.  Quá đã !  Đây chính là chiếc tàu mà Thiếu tá đang muốn tìm và cũng là chiếc tàu coi vừa mắt nhứt tại cảng này từ lúc Thiếu tá bắt đầu đi kiếm.  Thiếu tá bèn chạy vội xuống các bực thềm tới bến đò, rồi vừa bước lên chiếc đò ngang Thiếu tá đã rộng rãi thảy cho chú lái đò một đồng si-linh.

 

Ở cự li gần hơn, chiếc tàu ngó coi bộ xập xệ hơn nhiều.  Lớp sơn trên thân tàu coi rất tạm bợ vá víu, chỗ này sơn vừa vá chồng lên, chỗ kia sơn đã tróc ra từng mãng, và cũng rất rõ ràng về điều kiện vệ sanh trên tàu.  Hai bên lườn tàu còn trình bày đầy dấu vết của những người ái mộ ngắm Hà Bá để lại, khiến nhìn gần cái vỏ tàu coi giống như lưng con ngựa vằn.

 

Nhưng tới gần hơn chút nữa, Thiếu tá để ý thấy bên dưới lớp sơn bệ rạc vỏ tàu vẫn còn khá tốt và chắc chắn, và đáy tàu, nhìn thấy qua lớp nước biển trong vắt, được bọc đồng sạch sẻ không có chút dấu vết rong rêu xanh lè như thường thấy ở các chiếc tàu cũ.  Giàn buồm được thiết kế rất tới, các lá buồm màu vàng tươi và dây cộ coi còn khá mới và chắc chắn.  Tên chiếc tàu khắc phía sau lái bằng hai thứ tiếng Á-Rập và Pháp-Lang-Sa, Hirondelle, cùng với số đăng bộ ở Seychelles [9].

 

Thiếu tá tự hỏi chiếc tàu này dùng vào mục đích gì đây, bởi vì nó rõ ràng đang giả dạng, một thiên lý bảo câu đang làm bộ làm tịch đội lốt ngựa kéo xe.  Cái chưn vịt bằng đồng kia bộ không phải để sẳn sàng đẩy chiếc tàu phăng phăng lướt sóng hay sao ?  Và hình dáng thân tàu được thiết kế thon dài như vậy thì không phải để vọt cho lẹ thì còn có thể để làm cái gì nữa chớ ?

 

Khi chiếc đò ngang chở Thiếu tá cặp sát bên hông chiếc Hirondelle thì Thiếu tá đánh hơi được mùi lạ, rồi lập tức biết ngay chiếc tàu đã từng vận chuyển thứ gì.  Thiếu tá trước đây đã từng được thưởng thức cái mùi đặc biệt ác ôn này dưới các hầm tàu chật ních người ở biển Trung Quốc.  Nghe nói là cái thứ mùi quỉ quái này một khi đã ám vô hầm tàu rồi thì không có cách gì tẩy sạch được, ngay cả thuốc sát trùng tắm cừu và nuớc muối nấu sôi cũng chẳng ăn thua gì.  Nghe nói còn dễ nể hơn nữa là vào những đêm tối trời, mấy chiếc tàu tuần có thể đánh hơi được mùi đám nô lệ bị nhốt dưới hầm tàu ở khoảng cách từ chơn trời lận kìa.

 

Một kẻ kiếm ăn bằng nghề buôn bán nô lệ hẳn là không chê mối chở súng ống rồi, Thiếu tá đang đánh giá tình hình, rồi quyết định lên tàu.

 

“Ahoy [10], Hirondelle !”

 

Cách tiếp đón khách của dân trên tàu coi bộ không được thân thiện cho lắm.  Một đám thủy thủ che mặt, ăn mặc rách rưới đang ngó trừng trừng xuống chiếc đò ngang.  Đen vàng đều đủ mặt : Rệp, Ấn, Tàu và Phi đen – mà chẳng có ma nào thèm mở miệng trả lời câu chào của Thiếu tá.

 

Đứng trên chiếc đò, Thiếu tá chụm hai bàn tay làm loa rồi xổ một tràng tiếng Anh, làm như ở cái thế giới này đương nhiên ai cũng phải biết nói tiếng Anh hết trơn vậy.

 

“Tại hạ muốn nói chuyện với thuyền trưởng của quí vị.”

 

Có tiếng động từ cái phòng nhỏ phía sau lái, rồi một gã da trắng xuất hiện bước tới lan can tàu.  Gã có làn da cháy nắng rất đậm và lùn tịt đến nỗi cái đầu gã chỉ vừa nhô lên khỏi cái thành tàu một chút thôi.

 

“Ê, nhà anh muốn gì ?  Nhà anh cảnh sát hả ?”

 

Thiếu tá đoán chừng tên này có lẽ là người Hi-Lạp hay Armenian gì đây.  Gã lại đeo một miếng băng đen che ngang một con mắt nữa kìa, coi thiệt đúng là tướng ông kẹ hải tặc của đám con nít.  Con mắt kia thì sáng lấp lánh mà lạnh băng như một viên thạch anh đã đánh bóng.

 

“Không có liên can gì tới cảnh sát cả !”  Thiếu tá trấn an gã thuyền trưởng.  “Tuyệt đối không có rắc rối,”  Rồi Thiếu tá móc trong túi áo khoác ra một chai whisky và đưa lên quơ qua quơ lại.

 

Gã thuyền trưởng chồm người qua lan can tàu để ngó Thiếu tá cho kỹ hơn.  Có lẽ gã nhận ra tia mắt và nụ cười hải tặc tươi rói mà Thiếu tá đang gởi tới gã.  Cứ theo lẽ thường mà nói thì hải tặc tự nhiên biết hải tặc.  Không rõ gã thuyền trưởng thiệt có biết hay không, nhưng dường như gã đã có quyết định và quay sang xổ một tràng tiếng Á-Rập ra lịnh cho thuộc hạ.  Một cái thang dây được liệng xuống treo tòn ten bên hông chiếc tàu.

 

“Lên đi,”  gã thuyền trưởng lên tiếng mời mọc.  Mà hiện giờ gã cũng chẳng có gì cần phải dấu giếm.  Trên tàu của gã hiện chỉ toàn là các bành bông vải từ Bombay .  Sẽ xuống bông vải tại cảng Dar es Saalam này trước khi tiếp tục hành trình lên phía bắc để tới cái đầu sừng của Phi Châu vào ban đêm, nơi đó gã sẽ cho lên tàu những kiện hàng người, thứ hàng đã và đang mang lại cho gã những món lời khổng lồ.

 

Nói nào ngay, ngày nào mà các thương nhơn Á-Rập, Ấn Độ và phương Đông còn sẵn sàng trao ra những món tiền kếch sù để mua những cô gái da đen thân hình thon thả từ xứ Danakil và Galla, thì những kẻ buôn người bạt mạng cỡ như gã thuyền trưởng chiếc Hirondelle sẽ còn tiếp tục luồn lách qua hàng rào tàu chiến và tàu tuần của hải quân Hoàng Gia Anh Quốc để chở nô lệ tới cung cấp.

 

“Tại hạ nghĩ là chúng ta hãy cùng uống một tí whisky trước rồi tại hạ xin bàn chút chuyện áp-phe,”  Thiếu tá cất tiếng chào gã thuyền trưởng.  “Tại hạ tên là Sĩ-Uyên.  Thiếu tá Sĩ-Uyên.”

 

Mái tóc bôi dầu của gã thuyền trưởng được chải ngược ra đằng sau và thắt thành cái bím thả dài ra sau lưng.  Coi bộ vó gã đúng là một thứ hải tặc thứ thiệt có cầu chứng tại Treasure Island .

 

“Tại hạ tên là Papadopoulos.”  Rồi cái miệng gã nở ra một nụ cười đầu tiên.  “Và nói chuyện tiền bạc thì bao giờ cũng ngọt ngào như nghe âm nhạc vậy.”  Vừa nói gã vừa chìa bàn tay ra.

 

 

                      

 

 

Vậy là coi bộ Thiếu tá đã chấm trúng được một chiếc tàu như ý để chở cái đống của nợ đang dấu trong rừng mã-hồ.  Nhưng đã nói tới thì cũng phải nói lui, bộ không phải hải tặc Anh-Cát-Lợi quí phái cáo già gân đang đụng độ với hải tặc Hi-Lạp độc nhỡn anh chị bự hay sao ?  Muốn biết hai tên hải tặc nửa cân tám lượng này có thương lượng xong chuyến áp-phe chở hàng cấm hay không, xin mời độc giả chịu khó đón xem tiếp hồi sau sẽ rõ.

 

 

PHỤ LỤC

 

Ethiopia và các xứ lân cận

 

Source: Britannica 2005

 



[1] Đồ phụ tùng dành cho các ladies.  Là cái vòng cột quanh đùi để giữ cái vớ stocking không bị tuột xuống.  Các gents độc giả nếu còn chưa rõ, xin mời quí vị thỉnh phu nhơn cố vấn thêm.

[2] Là cái túi nhỏ gắn trên cái váy của người Tô-Cách-Lan.  Xin mời độc giả quan sát các cái váy ca-rô đen đỏ Tô-Cách-Lan mà các quan thổi kèn thường mặc trong đội quân nhạc Hoàng Gia Anh-Cát-Lợi.

[3]  Tức phần bán đảo thuộc xứ Somalia .  Xin xem thêm Phụ Lục ở Hồi 1.

[4] Tức lính viễn chinh đánh thuê Legionaire của Pháp-Lang-Sa.

[5] Xin xem thêm bản đồ ở phần Phụ Lục.

[6] Dân miệt Đàng Ngoài gọi là răng khễnh.

[7] Thành phố lớn thứ nhì ở xứ Wales , Anh Quốc.

[8] Thủ phủ của vùng Pas de Calais , phía bắc nước Pháp.

[9] Tức Cộng Hòa Seychelles , một quốc gia gồm 115 hải đảo trong Ấn Độ Dương, ngoài khơi biển đông Phi Châu.

[10] Tiếng chào đặc biệt của dân đi biển, tương tự như Hi, Hello.