HA

 

Phóng tác của Sơn Tinh Miệt Dưới

 HI 1   HI 2  HỒI 3  HỒI 4   HỒI 5

 

HI 3

 

Vì sự nghiệp bán buôn, Thiếu tá hy sanh cỡi lạc đà để hảo hớn rảnh tay xông pha Bến-lỳ [1] chiến dịch

Nơi nhà kho số 4, ông Hoàng dạo bước xem hàng cấm mà Thiếu tá được dịp tái ngộ Ỷ-tốn [ 2] bạn hiền

 

 

 

Quan Toàn Quyền xứ Tanganyika có một tiểu thơ lỡ thời, năm nay đã băm hai cái xuân xanh lè.  Mặc dầu tiếng tăm của quan đã lừng lẫy khắp cùng trời Đông Phi và quan đã cẩn thận cột đằng sau lưng tiểu thơ một núi của hồi môn tàu chở không hết, mà tới nay quan vẫn chưa kén được một hiền tế nào xứng ý.

 

Thiếu tá Sĩ-Uyên nhà mình vừa liếc xéo tiểu thơ một cái là lập tức biết ngay vì sao tiểu thơ tới nay vẫn còn phòng không chiếc bóng.  Cái tính từ đầu tiên xẹt ngang qua óc Thiếu tá là chữ ‘mã’, nhưng nghĩ lại Thiếu tá thấy chưa đúng.  ‘Trại lạc đà’ hay ‘na ná lạc đà’ có lẽ diễn tả chánh xác hơn nhiều.  Một ả lạc đà ngớ ngẩn, Thiếu tá vừa nghĩ vừa đá mắt với tiểu thơ đang ngồi nghiêng trên chiếc ghế da sang trọng đằng sau xe và đang say sưa đắm đuối nhìn Thiếu tá thiếu điều rụng hết lông nheo còn chưa hay.

 

“Chào tiểu thư, không biết tại hạ có được hân hạnh đưa tiểu thư đi dạo một vòng trên chiếc xe này không ạ ?”

 

Vừa mới nhá thấy cái đuôi con dê của Thiếu tá, tiểu thơ đã lập tức cười toe toét, triển lãm nguyên hàm răng màu mỡ gà bên dưới một cái mũi thiệt bự.

 

“Không dám dấu giếm tiểu thư, tại hạ đang nghĩ sẽ tậu một chiếc khi trở về quê nhà.  Quả thực không có hiệu nào tuyệt vời bằng hiệu Bentley, phải không ạ ?”

 

Thiếu tá quanh chiếc limousine màu đen dài ngoằng rời khỏi con đường trải vỉ sắt, cái động cơ Bentley êm ru nhẹ nhàng đẩy chiếc xe dọt thẳng vào con đường mòn gồ ghề bụi bậm dẫn lên hướng bắc, chạy dọc theo bờ biển dưới hàng dừa mát rượi.

 

Một xếp cảnh sát da đen nhận ra lá cờ đang bay phất phới trước đầu xe – gồm ba màu đỏ-xanh-vàng với hình mãnh sư và độc giác mã [3] đang ngồi – và xếp vội vàng đứng thẳng người bồng súng lên chào cái rụp.  Thiếu tá cũng rất lịch sự nhích vành nón lên đáp lễ, rồi quay sang tiểu thơ vốn vẫn còn say sưa đắm đuối dán dính cặp mắt vào khuôn mặt rám nắng rất thanh lịch của Thiếu tá kể từ lúc chiếc xe rời khỏi sân Toà Đô Chánh.

 

“Có một cao điểm phía trước, nhìn ra toàn cảnh vùng vịnh – quả thực tuyệt đẹp.  Nếu như tiểu thư không ngại, chúng mình có thể dừng lại ở đấy ngắm cảnh một chốc nhé.”

 

Mèn ơi, nằm mơ còn không gặp, tiểu thơ hoàn toàn á khẩu, chỉ còn biết gật đầu như máy khiến Thiếu tá phát lo lỡ cái đầu tiểu thơ sút ra thì khốn.  Thiếu tá liền mím chi cọp với tiểu thơ – Ối giời ơi, sao nụ cười của chàng quyến rũ đến chết người như thế kia chứ !  Tiểu thơ bây giờ đã bị trúng độc tình của Thiếu tá quá nặng, như ngất như ngây như khờ như dại, đôi má đào của tiểu thơ cứ đỏ rực lên như táo chín.

 

Cô ả có đôi mắt đẹp, Thiếu tá đang cố gắng tự thuyết phục mình như vậy, tức nhiên nếu như mình thuộc týp người biết thưởng thức vẻ đẹp của mắt lạc đà.  Một đôi hồ rõ to, đầy hối tiếc, với những hàng lông nheo dài và cong vút.  Thiếu tá tự dặn lòng là chỉ tập trung để ý đến đôi mắt của tiểu thơ mà thôi – và bằng mọi giá phải tránh xa hàm răng tối đa.  Hốt nhiên, Thiếu tá cảm thấy trong bụng nhói lên một nỗi lo lắng.  “Vái ông địa cô ả đừng ngoạm mình một phát vào cái giây phút tối quan trọng kia.  Với cặp bàn nạo như thế, cô ả không chừng sẽ tặng mình một vết thương trí mạng chứ chẳng chơi.”  Trong một thoáng, Thiếu tá đã thấy thối chí và có ý định bỏ cuộc.  Nhưng tưởng tượng đến một đống tiền vàng, Thiếu tá liền lấy lại can đảm.

 

Chiếc xe thình lình thắng gấp.  Lối rẽ vào điểm ngắm cảnh bị che phủ bởi các bụi cây khiến Thiếu tá đã chạy lố và phải de xe lại.

 

Chiếc limousine bóng láng cuối cùng cũng tìm được một chỗ đậu ở một khoảng trống được bao bọc bởi các lùm bụi và che phủ bởi các tàu lá dừa.

 

“Chúng mình đã đến rồi, thưa tiểu thư.”  Thiếu tá kéo thắng tay, rồi quay sang tiểu thơ.  “Quả thực tiểu thư có thể ngắm toàn cảnh vùng vịnh nếu như tiểu thư chịu khó xoay cần cổ một tí.”

 

Vừa nói xong, Thiếu tá liền nhoài người tới trước để hướng dẫn tiểu thơ, và tiểu thơ đột nhiên bung lên như một cái lò xo rồi nhào lên mình Thiếu tá.  Ý nghĩ cuối cùng Thiếu tá còn nhớ được là nhứt định phải né hàm răng bằng mọi giá.

 

Chàng Dzếch kiên nhẫn như một con sư tử đang rình mồi.  Im lặng nằm ém trong bụi cây cho tới khi chiếc Bentley khổng lồ bắt đầu lắc lư rồi nhảy tưng tưng trên giàn nhúng như một chiếc xuồng cấp cứu trong giông bão, anh chàng mới rón rén chui ra khỏi bụi rậm.  Cầm túi đồ nghề trong tay, anh chàng êm ru bò quanh tới trước mui xe, chỗ có gắn cái huy hiệu chữ ‘B’ bóng lộn và lá cờ thêu.

 

Anh chàng nhẹ nhàng tháo chốt gài rồi nâng tấm che đầu máy lên.  Những tiếng động rất nhỏ anh chàng gây ra đã hoàn toàn bị chìm khuất dưới tiếng hò hét xung phong trong xe.  Liếc nhanh qua tấm kiếng trước, anh chàng còn bắt gặp mấy cái chưn trắng toát của tiểu thơ quan Toàn Quyền – dài thòng, suông đuột và đầu gối u lục cục, đang liên hườn tung xám xập cước lên trần xe – trước khi anh chàng chúi đầu vào động cơ xe.

 

Chàng Dzếch làm việc thiệt lẹ, cặp môi cứ chu ra như đang hút gió nhưng không có khúc nhạc nào phát ra, và cặp chơn mày anh chàng cứ nhăn tít lại hết sức chăm chú bị vì cái carbie bên dưới bàn tay anh chàng cứ liên tục lắc lư tưng lên tưng xuống theo đủ mọi hướng không tài nào đoán trước được.

 

Vừa làm việc với cái carbie, vừa lắng nghe Thiếu tá đang tận lực tử thủ mặt trận miền tây để bảo vệ sườn bên trái của bộ chỉ huy chiến dịch Smith-Bentley, chàng Dzếch cảm thấy bao nhiêu ấm ức còn sót lại, vì bị Thiếu tá xù không phụ sơn xe, tự nhiên đều tan biến hết.  Anh chàng phải thầm công nhận là tất cả những lao động khổ sai kinh khủng nhứt trên cõi đời này xem ra cũng chẳng nhằm nhè gì so với những gì Thiếu tá đang trải qua.

 

Lúc chàng Dzếch lôi được bộ phận carbie ra khỏi đầu máy và bỏ vô cái túi, anh chàng còn nghe tiếng hô xung phong cuối cùng ở tần số cao bất thường, có nguy cơ làm bể màng nhĩ người nghe, rồi chiếc Bentley thình lình vụt đứng yên lại hết nhúc nhích, không gian bỗng hoàn toàn rơi vào im lặng, chỉ còn tiếng rù rì của gió biển lay động các tàu lá dừa.

 

Chàng Dzếch Ba-Toong ôm túi đồ nghề có đựng cái carbie rón rén bò vào bụi rậm rồi chém vè dông lẹ.  Phần Thiếu tá, người sĩ quan can trường đã đổ tới giọt mồ hôi cuối cùng bảo vệ an toàn sườn bên trái bộ chỉ huy chiến dịch, vào giờ thứ hai mươi lăm te tua đã bị chiến hữu đồng minh Dăng-kỳ bỏ rơi nằm lại trên chiến trường, rối nùi trong một đống giò cẳng lổm ngổm và đồ lót Pháp-Lang-Sa mắc tiền.

 

 

 

 

“Mình mong cậu phải nhớ là trong hoàn cảnh tả tơi như thế mà mình phải cuốc bộ suốt đoạn đường dài trở về nhà.  Còn nữa, vừa đi mình vừa phải hết sức thuyết phục tiểu thơ là cả hai vẫn chưa phải đã hứa hôn.”

 

“Tui sẽ xin cho huynh đài được tuyên dương trước tiểu đoàn,”  chàng Dzếch hứa với Thiếu tá, và ló đầu ra khỏi buồng máy của chiếc xe bọc thép.  Rồi trang nghiêm đứng thẳng người lên trước đầu xe, chàng Dzếch long trọng tuyên đọc: “Không màng tới an nguy sống chết của bản thân, Thiếu tá Gia-Lạc Sĩ-Uyên đã anh dũng giữ an toàn cánh trái bộ chỉ huy chiến dịch, đã càn qua quan ải, đã đạp tung cổng thành – “

 

“Tiếu lâm khủng khiếp nhỉ,”  Thiếu tá gầm gừ.  “Nhưng này, cũng giống như cậu, mình cũng có tiếng tăm cần phải gìn giữ.  Mình chắc phải  đến chui xuống đất mà trốn nếu như chuyện này mà đến tai một số nhóm người quen biết đấy, con giai nhớn ạ.  Tuyệt đối bí mật, được không nào ?”

 

“Tui hứa danh dự với huynh đài,”  anh chàng long trọng hứa với Thiếu tá, rồi cúi xuống nắm lấy cây ma-ni-quên.  Thiết phu nhơn nổ ầm ầm ngay lập tức sau vòng quay đầu tiên, rồi từ từ nhịp máy nổ trở nên đều đặn êm ái hơn sau đó.  Anh chàng lắng nghe tiếng máy một lúc rồi toét miệng cười.

 

“Hãy lắng nghe tiếng máy nè, quí nương thiệt đẹp dã man,” và  anh chàng quay sang Thiếu tá nheo nheo con mắt. “Được nghe em hót líu lo như vầy bộ mồ hôi và công sức đã đổ ra không đáng hay sao ?”

 

Lập tức cái hồi ức đau khổ trời ơi đất hỡi quay trở về hành hạ Thiếu tá khiến cặp tròng mắt Thiếu tá cứ trợn lên quay vòng vòng, trong khi đó chàng Dzếch cứ tỉnh bơ nói tiếp. “Cả thảy bốn em.  Bốn phu nhơn thiệt lịch sự, rất ngoan, dễ cưng phát ớn.  Huynh đài còn đòi hỏi cái cuộc đời này thêm cái gì nữa chớ ?”

 

“Năm,”  Thiếu tá vội vàng sửa lại, và chàng Dzếch lập tức nhíu mày.

 

“Mình sẽ dán tên của mình lên chiếc thứ năm nhé,”  Thiếu tá liền chữa cháy.  “Mình sẽ ký một tờ khai danh dự để bảo đảm tiếng tăm cho cậu.”  Nhưng coi bộ không thấy có ép-phê gì hết trơn.  Cái bản mặt của chàng Dzếch cứ tiếp tục quạu đeo đúng là một câu trả lời rất đầy đủ.

 

“Vẫn không khứng à ?”  Thiếu tá thở ra.  “Mình dám tiên đoán là cái quan điểm đặt nặng tình cảm, rất cổ lỗ xỉ của cậu sẽ khiến chúng mình gặp vô số rắc rối sau này.”

 

“Chúng ta có thể rã đám ngay bây giờ mà.”

 

“Chớ có mở mắt nằm mơ, con giai nhớn ạ.  Thực ra buôn bán với mấy bác Ethiops là đánh đu với tinh đấy.  Mấy bác có các cây gươm vừa dài vừa dơ, và các bác thì không chỉ chặt mỗi cái đầu của cậu mà thôi đâu nhá – hay ít ra là mình nghe vậy.  Không được, tuyệt đối không thể bỏ ngang, bốn thì bốn vậy.”

 

 

 

 

Ngày 22 tháng Sáu, chiếc Dunnottar Castle vừa thả neo tại cảng Dar es Salaam thì lập tức bị bao vây bởi một bầy thuyền lớn thuyền nhỏ đủ loại.  Đây là chiếc tàu đầu đàn của hãng tàu Union Castle Line, khởi hành từ cảng Southampton đi tới Cape Town, Durban, Lourenço Marques, Dar es Salaam và Jibuti.

 

Trên tàu, ông Hoàng Lij Mikhael Wasan Sagud và đoàn tùy tùng đã chiếm hai phòng thượng hạng và mười phòng đôi hạng nhứt.  Ông Hoàng vốn là hậu duệ của Hoàng Tộc Ethiopia rất lâu đời, mà dây mơ rễ má có thể phăng lần tới Đại Đế Solomon và Hoàng Hậu Sheba .  Ông Hoàng hiện là một nhơn vật rất có tầm vóc chánh trị và quyền lực tại Ethiopia .  Thân phụ của ông Hoàng là một vị Vương Gia đang cai trị một vùng lãnh thổ bao gồm núi non và sa mạc của mấy tỉnh phía bắc, diện tích cỡ vùng Scotland Wales hợp lại.  Bản thân ông Hoàng vừa là một Phó Vương của vùng đất này, vừa là một thành viên rất được tin cẩn trong Cơ Mật Viện của Hoàng Đế Haile Selassie.

 

Ông Hoàng đang trở lại quê nhà sau sáu tháng công du nước ngoài để điều đình với các vị Bộ Trưởng Ngoại Giao của Anh-Cát-Lợi và Pháp-Lang-Sa, vận động trong hành lang Hội Quốc Liên ở Geneva, tìm mọi cách thu hút sự ủng hộ của thế giới đối với xứ sở của ông đang đứng trước hiểm họa xâm lăng điên cuồng của Phát-xít Ý-Đại-Lợi.

 

Ông Hoàng là một người khiêm tốn, hoàn toàn không có những ảo tưởng thích chơi nổi, nên chỉ ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ lên bờ cùng với bốn quan cố vấn cao cấp.  Tại cầu tàu, hai chiếc xe mui trần do Thiếu tá Gia-Lạc Sĩ-Uyên thuê mướn và được căn dặn trước đã đậu sẵn chờ đón.

 

“Này bạn già, bây giờ là đến phần ăn nói của mình đấy nhé.”  Thiếu tá dặn dò trước với chàng Dzếch trong lúc hai anh chàng đang bồn chồn chờ đợi ông Hoàng trong Kho số 4 tối tăm như một hang động sâu hun hút.  “Đây mới thực sự là phần việc của mình trong cái sô này, cậu biết đấy.  Cậu cứ đóng bộ vó cho thực trang nghiêm và làm các thao tác biểu diễn thực đẹp mắt.  Bảo đảm với cậu là các bác Ethiops chỉ còn biết trố mắt lên mà ngắm.”

 

Đã có chuẩn bị cá nhơn rất kỹ cho cái sô bữa nay, Thiếu tá diện rất bảnh trong bộ vía miền nhiệt đới màu xanh lợt, sơ-mi lụa và một đoá cẩm chướng tươi rói trên ve áo.  Thiếu tá thắt một cái cà-vạt thời đi học với các sọc chéo có cầu chứng từ trường xịn, tóc tai được chải gỡ kỹ lưỡng với cả hộp bi-dăng-tin, láng mướt ruồi đậu té dập mật.  Hàng ria mép mỏng cũng đã được tỉa gọn gàng lúc sáng nay.  Thiếu tá quay sang ngắm nghía chàng Dzếch từ đầu tới chưn một lượt và cảm thấy khá hài lòng.  Bộ vía của chàng Dzếch tức nhiên là không phải được may cắt từ tiệm Savile Row, nhưng cũng sạch sẽ và thẳng thớm, đạt tiêu chuẩn trình diễn.  Đôi hia của anh chàng vừa được đánh bóng lại và những đám lông vô trật tự thường xuyên có mặt do da giày bị trầy xước cũng đã được thấm ướt nằm xẹp xuống ngay ngắn.  Các dấu vết dầu mỡ trên hai bàn tay và dưới các móng tay cũng đã được chùi rửa sạch trơn.

 

 

“Họ không chừng chẳng nói được tiếng Anh,”  Thiếu tá đưa ra nhận xét.  “Nên chúng mình có lẽ sẽ cần tới thứ ngôn ngữ tiền sử tay chân mình mẩy đấy nhé.  Mong là cậu sẽ nhường cho mình làm chuyện đó.  Chúng mình có thể moi tiền vàng trong túi họ.  Cái đám ngốc kia, chỉ cần quăng cho một nắm vừng và một bao muối [4] – “  Bài diễn văn của Thiếu tá thình lình bị cắt ngang vì có tiếng xe đang tới trước cửa.

 

“Nhứt định là các khách quí đã đến.  Đừng quên những gì mình vừa dặn dò đấy nhé.”

 

Hai chiếc xe mui trần đậu ngay trước cửa nhà kho dưới ánh nắng chói chang và các khách quí đang bước xuống xe.  Bốn vị mặc áo dài shammas trắng, tương tự loại áo dài togas La-Mã vắt ngang qua vai, chơn đi xăng-đan.  Bên trong áo dài là quần gaberdine đen ngắn tới đầu gối.  Cả bốn vị đều đã có tuổi, râu tóc rậm rạp và bạc phơ.  Họ kính cẩn yên lặng đứng chung quanh một bóng dáng cao ráo, trẻ tuổi hơn, ăn mặc theo kiểu tây phương, và cả nhóm đang tiến vào bóng mát của kho hàng.

 

Ông Hoàng Lij Mikhael phải cao trên sáu bộ, với đôi vai và lưng hơi tôm thường thấy ở dân trí thức.  Ngài có màu da bánh mật, râu tóc vừa rậm vừa xoắn, hàm râu quai nón bao vòng một khuôn mặt rắn rỏi, cặp mắt đen sâu thẳm và cái mũi vừa cao vừa hơi khoằm rất tiêu biểu của giống dân Semites [5].  Mặc dầu lưng hơi tôm, nhưng tướng đi của ông Hoàng vẫn oai phong như một kiếm khách.  Hàm răng trắng bóng lộ ra khi ngài cười tương phản rất rõ với màu da sậm.

 

“Giời ơi,”  ông Hoàng buộc miệng kêu lên với cách phát âm vừa chuẩn vừa rất thượng lưu quí phái Anh-Cát-Lợi, cùng một rơ với giọng nói của Thiếu tá.  “Có phải là cậu Sĩ-Uyên Đánh Giắm không nào ?”

 

Vẻ phớt tỉnh của Thiếu tá Gia-Lạc Sĩ-Uyên vụt biến mất, lỗ tai lùng bùng và trong đầu tự nhiên cứ nghe o o khi Thiếu tá bỗng dưng được nghe có người gọi mình bằng cái hỗn danh rất quạu mà lần cuối cùng Thiếu tá được nghe là đã hai mươi năm về trước.  Thiếu tá đã bị tặng cho hỗn danh đó khi một tai nạn về hơi trong bụng bất ngờ xảy ra làm vang dội cái vòm nhà cong và các bức tường đá của Nhà Nguyện trường Eton .  Thiếu tá đã hy vọng là không bao giờ còn nghe lại cái hỗn danh kinh hoàng ấy nữa, nhưng ngay lúc này nó đã đưa Thiếu tá trở về lại cái giây phút Thiếu tá đứng trong căn Nhà Nguyện bằng đá lạnh lẽo và những tràng cười bị đè nén đột nhiên bùng nổ dữ dội như những cú đấm vào đầu Thiếu tá.

 

Ông Hoàng cười khà khà và đưa tay lên nắn lại cái cà-vạt.  Lần đầu tiên chàng Dzếch nhận ra là những lằn sọc chéo trên cà-vạt của ông Hoàng cũng giống hệt như cái cà-vạt của Thiếu tá đang thắt trên cổ.

 

“Eton College, năm 1915, cư xá Waynflete.  Lúc ấy tôi là Gia Trưởng.  Đã tha cậu sáu lần tội hút thuốc trong nhà cầu – cậu không còn nhớ sao ?”

 

“Chúa ơi,”  Thiếu tá hụt hơi thở gấp.  “Sagud Kẹo Kéo [6] .  Chúa ơi.  Mình thực không biết phải nói gì đây.”

 

“Vậy thì thử xài ngôn ngữ tiền sử tay chưn mình mẩy đi.”  Chàng Dzếch liền bỏ nhỏ nhắc nhở Thiếu tá.

 

“Câm mồm, quỉ bắt cậu đi,”  Thiếu tá rít lên nho nhỏ, rồi với một cố gắng thiệt đáng nể, Thiếu tá mỉm miệng cười tươi đến nỗi căn nhà kho đang tối thui bỗng khi không phát sáng lên như mặt trời đang mọc.

 

“Kính chào Đức Ông – Kẹo Kéo – người bạn thân mến.”  Thiếu tá vội vàng bước tới chìa bàn tay ra.  “Thực là một hân hạnh bất ngờ.”

 

Cả hai bắt tay nhau tươi cười hỉ hả khiến những khuôn mặt đen thui nghiêm nghị của các vị nguyên lão cố vấn cũng giãn ra, thơ thới và bớt đen đi.

 

“Xin được phép giới thiệu người cộng sự của tôi, ông Dzếch Ba-Toong đến từ Tếch-xạt.  Ông Ba-Toong là một kỹ sư lỗi lạc và cũng là một nhà tài chính. – Dzếch, đây là Đức Ông Lij Mikhael Wasan Sagud, Phó Vương xứ Shoa và cũng là một người bạn học cũ thân thiết của mình.”

 

Bàn tay của ông Hoàng thuôn, mát, nắm chặt bàn tay chàng Dzếch.  Ánh mắt ông Hoàng chiếu tướng chàng Dzếch thật sâu nhưng rất nhanh, rồi ông Hoàng quay trở lại Thiếu tá.

 

“Cậu bị đuổi khỏi trường lúc nào nhỉ ?  Mùa hè năm 1915, đúng không nào ?  Mình nhớ dường như là cậu bị bắt quả tang đang tò tí te với một cô hầu phòng.”

 

“Không phải đâu, giời ạ !”  Thiếu tá vừa nghe ông Hoàng nhắc đến thành tích cũ của mình, bèn lấy làm kinh hãi quá xá.  “Mình chẳng bao giờ khoái mấy con sen đâu.  Thực ra là tiểu thơ của chủ nhà đấy.”

 

“Ờ, đúng vậy.  Mình vừa nhớ ra rồi.  Cậu vụt nổi tiếng như cồn – oai phong bước ra cổng trường trong hào quang chiến thắng.  Câu chuyện dũng cảm của cậu còn đồn đãi trong trường đến mấy tháng sau đấy nhá.  Họ nói là cậu đã đi Pháp với tiểu thơ của một ngài Quận Công và lập nên một sự nghiệp rất hiển hách.”

 

Thiếu tá ra dấu phủ nhận tin đồn thất thiệt, và ông Hoàng hỏi tiếp.

 

“Thế thì từ đấy cậu đã làm gì hở bạn già ?”

 

Một câu hỏi hoàn toàn khiến Thiếu tá mắc cỡ muốn độn thổ.  Thiếu tá vẩy vẩy điếu thuốc trong không khí.

 

“Chút nọ, chút kia, cậu biết đấy.  Hết thứ này đến thứ khác.  Làm ăn, chắc cậu cũng hiểu.  Nhập cảng , xuất cảng, mua và bán.”

 

“Khiến chúng mình hiện tại có dịp làm ăn với nhau, đúng không nào ?”  Ông Hoàng nhẹ nhàng tiếp lời.

 

“Quả thực đúng vậy,”  Thiếu tá đồng ý và nắm lấy cánh tay ông Hoàng.  “Bây giờ mình đã biết ai là khách hàng, mình lại càng cảm thấy sung sướng vì đã thu xếp được một lô hàng có phẩm chất tuyệt vời như thế này.”

 

Các thùng hàng bằng gỗ đã được chồng chất ngay ngắn dọc theo theo một bức vách của kho hàng.

 

“Mười bốn khẩu đại liên Vickers, hầu hết vừa mới xuất xưởng – gần như chưa hề bắn phát nào –“

 

Mọi người chầm chậm đi dọc theo dãy thùng hàng đến cuối dãy, nơi đó đã trưng bày một khẩu đại liên vừa mới được khui trong thùng ra, đặt trên một cái chưn ba càng.

 

“Như các ngài đã thấy, toàn hàng thượng hạng cả đấy.”

 

Cả năm bác Ethiopians đều là các chiến sĩ, vốn dĩ mang trong mình dòng máu đánh nhau cha truyền con nối, nên các bác tự nhiên là có lòng say mê các thứ đồ nghề đánh nhau.  Vừa ngó thấy khẩu đại liên mới cáo cạnh, đứng uy nghi trên cái chưn ba càng, các bác lập tức hí hửng bu lại.

 

Thiếu tá lén lén nheo mắt với chàng Dzếch một cái rồi nói tiếp, “Một trăm bốn mươi bốn khẩu súng trường quân đội Lee Enfield vẫn còn nằm trong mỡ bò –“  Có nửa tá súng trường đã được lau chùi sạch sẽ và mang ra trưng bày.

 

Quả nhiên đối với năm bác Ethiops thì cái Kho số 4 này chính là cái hang động kho tàng Aladdin.  Các cụ nguyên lão cố vấn đã quên phứt cái thân phận tôn quí của mình và nhào lên đống đồ nghề như một bầy quạ, rồi vừa hót vang bằng tiếng Amharic [7] với nhau, vừa nựng nịu cái đống thép lạnh ngắt còn dính đầy dầu mỡ.  Các cụ xắn vội áo lên rồi quì xuống phía sau khẩu đại liên, tay thì nắm bá súng điều khiển nòng súng ria qua ria lại, miệng thì nhái tiếng súng nổ liên thanh tạch... tạch... tạch... như cái đám con nít bày trò đánh giặc, đang bắn hạ một bầy kẻ thù tưởng tượng trước mặt.

 

Ngay cả ông Hoàng cũng liệng bỏ phong cách quí tộc trường phái Eton và nhào vô tham gia trò chơi đánh giặc miệng này.  Đẩy một cái đầu bạc ra khỏi vị trí, ông Hoàng chụp lấy khẩu Vickers.  Lập tức các cụ nhao nhao la ó phản đối kịch liệt khiến Thiếu tá phải nhảy vô trổ tài ngoại giao can gián.

 

“Để cho mình nói một tiếng nào, bạn già Kẹo Kéo.  Đây chưa phải là tất cả đồ nghề mình kiếm cho cậu.  Còn nhiều thứ hay ho hơn nữa kia.  Còn để dành trình diện vào giây phút cuối đấy nhé.”  Và chàng Dzếch phải phụ Thiếu tá một tay để lôi mấy cụ tóc bạc râu rìa ra khỏi đám súng ống, rồi gom các cụ lại và nhẹ nhàng đẩy ra cửa chỗ hai chiếc xe đang đậu.

 

Thiếu tá, chàng Dzếch và ông Hoàng ngồi trên chiếc xe dẫn đầu và đoàn xe tưng lên tưng xuống trên con đường đầy bụi, xuyên qua cánh rừng mã-hồ, rồi ngừng lại ở một khoảng trống trước một cái lều tiếp tân khổng lồ vừa dựng lên thế chỗ chiếc lều cũ kỹ của chàng Dzếch.

 

Khách Sạn Hoàng Gia đã phụ trách phần tiếp tân bữa nay, mặc dầu chàng Dzếch đã phản đối kịch liệt bị vì Khách Sạn chặt quá đẹp.

 

“Cứ mời họ mỗi người một chai Tusker và khui một lon đậu hầm là được rồi,”  anh chàng kì kèo, nhưng Thiếu tá đã buồn bã lắc đầu.  “Chớ vì họ là những người còn kém văn minh mà chúng mình cũng phải tỏ ra mọi rợ đâu, bạn già.  Phong cách.  Con người cần phải có phong cách – đó là toàn bộ ý nghĩa của cuộc đời.  Phong cách và đúng lúc.  Hãy đổ họ đầy bằng bồ đào Charlie rồi đưa họ đi tản bộ xuống lối mòn trong hoa viên, thế nào ?”

 

Trước lều hiện đã có các chú bồi đứng đón.  Các chú đều mặc đồng phục áo dài trắng, băng thắt lưng đỏ và đội nón đỏ hình chóp không vành.  Dưới mái lều là một cái bàn dài thoòng đang chất đầy thực phẩm triển lãm – heo sữa trang điểm rất bắt mắt, hàng đống khay đựng tôm hùm luộc đỏ tươi, một con cá sáu-món [8] hun khói tổ chảng, táo và đào nhập cảng từ Mũi Hảo Vọng [9] – và hàng hàng lớp lớp thùng với sô đựng champagne.  Tuy vậy, Thiếu tá rốt cuộc phải chìu ý chàng Dzếch vì lý do kinh tế nên Charlie champagne đã được thay thế bằng bồ đào Veuve Clicquot.

 

Ông Hoàng và đoàn tùy tùng vừa bước xuống xe là liền được chào mừng bằng một tràng champagne nổ dòn và các nguyên lão cố vấn liền đồng loạt hót lên một tràng tưng bừng đáp lễ.  Thiệt khéo là Thiếu tá đã đánh trúng nhược điểm khoái ăn nhậu và lòng hiếu khách của các bác Ethiops.  Quả thiệt không còn cách nào hay hơn để lấy lòng các quan Ethiops cho bằng cách này.

 

“Mình phải nói là cậu quả thực tuyệt vời đấy, cậu Sĩ-Uyên thân mến,”  ông Hoàng liền buột miệng khen ngay Thiếu tá một phát.

 

Với bổn tánh lịch sự cố hữu, ông Hoàng đã không dùng đến biệt danh của Thiếu tá thêm một lần nào nữa, kể từ sau lúc lần đầu gặp lại.  Điều đó khiến Thiếu tá vô cùng biết ơn và khi mọi cái ly đều đã được đổ đầy, Thiếu tá bèn nâng ly lên chúc.

 

“Đức Hoàng Thượng, Negusa Nagat, Vua của các vì Vua, Hoàng Đế Haile Selassie, Mãnh Sư đất Judah .”

 

Và mọi người đều cạn ly, mà dường như là phải làm như vậy mới là phải đạo, nên Thiếu tá và chàng Dzếch cũng bắt chước cạn theo.  Rồi các quan bao vây và ồ ạt tấn công bàn thức ăn, nhờ vậy Thiếu tá có cơ hội nói nhỏ với chàng Dzếch.

 

“Cậu ráng nghĩ thêm một số câu nâng ly chúc mừng nữa đi nhé – Mình phải đổ họ cho đầy mới được.”  Nhưng coi bộ Thiếu tá đã lo lắng hơi dư, bị vì ông Hoàng đã nâng ly lên.

 

“Đức Hoàng Thượng Anh Quốc, George V, Vua của Anh-Cát-Lợi và Hoàng Đế của Ấn Độ.”  Mọi người vừa cạn ly đầy xong, thì chỉ trong nháy mắt các chú bồi đã châm đầy các ly cạn.  Ông Hoàng cúi mình chào chàng Dzếch một phát rồi một lần nữa nâng ly.

 

“Ngài Tổng Thống của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ông Franklin D. Roosevelt.”

 

Không chịu thua kém, mỗi quan nguyên lão cũng đều nâng ly gào to một câu chúc bằng tiếng Amharic chẳng ai hiểu nổi, có thể đoán là đang chúc tụng ông Hoàng, tía má ông Hoàng, và tức nhiên các cô dì chú bác, cháu chắt của ông Hoàng cũng không thể thiếu.  Và các cái ly lại được úp ngược xuống.  Các chú bồi vội vàng chạy tới chạy lui, khui thêm champagne, châm đầy các ly đã cạn.

 

“Quan Toàn Quyền của Tanganyika, thuộc địa Anh Quốc.”  Thiếu tá cũng nâng ly chúc một lần nữa, giọng nói đã hơi nhựa.

 

“Và tiểu thơ của quan Toàn Quyền nữa,”  chàng Dzếch thủ thỉ chọc quê.

 

Nhưng lại khiến các quan nguyên lão có cớ mà hò lên chúc mừng và cạn thêm một tua nữa.  Đột nhiên hai anh chàng đều khám phá ra là cả hai đã vô cùng dại dột khi ráng tống say các quan bác vốn dĩ đã được nuôi nấng và lớn lên bằng thứ rượu tej [10] rất khủng khiếp của Ethiopia .

 

“Cậu cảm thấy thế nào rồi ?”  Thiếu tá bồn chồn hỏi nhỏ, cặp mắt hơi đờ đẫn.

 

“Quá đẹp,”  chàng Dzếch cười thiệt thoải mái với Thiếu tá.

 

“Giời ạ, các cụ râu dài này thực biết ăn nhậu lắm đấy.”

 

“Tiếp tục tống rượu các cụ nữa đi, huynh đài Đánh Giắm.  Huynh đài thế nào cũng hạ các cụ đo ván.”  Cầm cái ly đã cạn trong tay, chàng Dzếch chỉ về phía các nguyên lão cố vấn coi bộ vẫn còn tỉnh queo tươi cười.

 

“Này bạn già, mình thực lấy làm sung sướng nếu như cậu làm ơn đừng dùng cái biệt danh quái gỡ ấy nữa.  Nghe điếc tai lắm, phải không nào ?  Hoàn toàn không phải phong cách của người lịch sự.”  Thiếu tá thân mật vỗ vai chàng Dzếch một phát mà xém chút vỗ hụt.  Khuôn mặt Thiếu tá đột nhiên hiện rõ nét lo âu.  “Mình nói có đúng không nào ?”

 

“Tui cũng nghĩ như huynh đài vậy.  Tụi mình phải dọt lẹ trước khi mấy cụ nốc sạch túi tụi mình.”

 

“Giời ạ, lại hắn nữa,”  Thiếu tá thì thầm báo động khi thấy ông Hoàng lại giơ cao cái ly đầy tràn và ngó Thiếu tá như chờ đợi.  “Cậu Sĩ-Uyên, thêm Bồ đào nữa chứ,”  ông Hoàng liền gọi lớn khi chạm mắt với Thiếu tá.

 

“Tất nhiên rồi, thực là hân hạnh.”  Thiếu tá hết đường chạy, đành nâng ly lên một hơi cạn sạch trước khi bước tới chận chú bồi đang sắp châm đầy ly cạn trên tay ông Hoàng.

 

“Này bạn già Kẹo Kéo ơi, mình có một chút ngạc nhiên muốn dành cho cậu đây này.”  Thiếu tá nắm lấy cánh tay cầm ly và vuột cái ly ra khỏi bàn tay ông Hoàng.  “Mời quí vị theo tôi.  Xin các ngài theo lối này.”

 

Trong đám nguyên lão râu bạc có một cụ rất miễn cưỡng không muốn rời cái bàn dài khiến chàng Dzếch phải bước tới giúp Thiếu tá một tay.  Cả hai phải dang tay ra suỵt suỵt, cuối cùng mới đưa được các cụ tới con đường mòn, xuyên qua một cánh rừng dài chừng ba trăm thước, rồi đến một khoảng trống lớn cỡ cái sân chơi polo.

 

Không gian đột nhiên yên lặng như tờ khi các cụ trông thấy một hàng bốn thiết phu nhơn đang đậu, bóng láng dưới lớp sơn mới tinh màu xám, với các nòng đại liên Vickers dày cui mang bộ phận giải nhiệt bằng nước đang oai hùng trấn giữ các tháp súng.  Và trên mỗi tháp súng đều đã được sơn ba sọc ngang, gồm ba màu của quốc kỳ Ethiopia – lục, vàng và đỏ.

 

Như đang mộng du, các cụ mặc tình để hai anh chàng đưa tới hàng ghế đang đặt dưới các cây dù, rồi các cụ cứ ngồi phịch xuống, mắt vẫn dán dính vào các chiếc xe.  Thiếu tá đứng trước quí vị khán giả râu bạc như một thầy giáo, chỉ là hơi lắc lư xiêu vẹo một chút.

 

“Gentlemen, chúng tôi đang có ở đây là những chiếc xe bọc thép đa dụng nhất mà chỉ có các quân đội tân tiến nhất mới sử dụng –“  Và trong lúc ngừng lại để chờ ông Hoàng thông dịch lại cho các nguyên lão cố vấn nghe, Thiếu tá quay sang chàng Dzếch cười rất đắc chí.

 

“Nổ máy đi, con giai nhớn.”

 

Thiết phu nhơn đầu tiên vừa nổ máy thì các nguyên lão cố vấn liền đồng loạt đứng lên vỗ tay rầm trời cứ như sắp khai diễn cuộc so găng giữa hai tay bốc lừng danh thế giới vậy.

 

“Một nghìn rưỡi mỗi chiếc,”  Thiếu tá thì thầm, cặp mắt sáng trưng, “Các quan sẽ trả một nghìn rưỡi đấy.”

 

 

 

 

Ông Hoàng Lij Mikhael đã mời hai anh chàng ăn tối trong căn phòng thượng hạng của ông Hoàng trên chiếc Dunnottar Castle, và như thường lệ chàng Dzếch đã phản đối kịch liệt, nhưng Thiếu tá vẫn cứ cấp tốc đặt may cho anh chàng một bộ vía dạ tiệc coi cho được, vừa vặn với bộ vó dềnh dàng của anh chàng.

 

“Coi tui cứ như đang sắm tuồng cải lương vậy,”  anh chàng vừa soi kiếng vừa cự nự quá cỡ.

 

“Nom cậu cứ như một ngài quận công quí tộc,”  nhưng Thiếu tá lại có một cái nhìn khác.  “Bộ vía tạo nên một chút phong cách cho cậu.  Chính là cái phong cách đấy, cậu Dzếch thân mến, hãy luôn luôn nhớ kỹ.  Phong cách !  Nếu bộ vó cậu như một chú cẩu hoang, người ta sẽ đối xử với cậu cũng y như vậy.”

 

Ông Hoàng khoác một cái áo choàng thêu sang trọng hết ý, gồm ba màu vàng, đỏ và đen, với cái móc ở cổ có đính một viên hồng ngọc bự cỡ hột dẻ, thêm cái quần nhung bó sát và một đôi giày được thêu rất cầu kỳ bằng những sợi chỉ vàng ròng.  Bữa ăn tối trôi qua thiệt tuyệt vời – và thần thái ông Hoàng coi bộ rất dễ chịu.

 

“Cậu Sĩ-Uyên thân mến.  Giá cả súng máy và các thứ vũ khí khác thì mình đã quyết định xong từ mấy tháng trước – nhưng các chiếc xe bọc thép thì cậu chưa bao giờ nhắc đến.  Bây giờ cậu có thể đề nghị một con số hợp lý nào không nhỉ ?”

 

“Thưa ngài, tại hạ đã nghĩ tới một con số rất phải chăng trước khi biết được mình đang giao dịch với ngài –“  Thiếu tá rít một hơi xì-gà Havana của ông Hoàng thiệt sâu, gồng mình lên nắm chặt lấy một cơ hội ngàn năm một thuở.  “Bây giờ, tất nhiên tại hạ đã sẵn sàng chịu thiệt một tí, chỉ cần lấy lại đủ vốn và một phần lời rất khiêm tốn để chia với người cộng sự của tại hạ.”

 

Ông Hoàng có vẻ cảm động và tỏ dấu biết ơn sâu xa đối với lòng tốt của Thiếu tá.

 

“Chỉ hai nghìn bảng mỗi chiếc,”  Thiếu tá nói thiệt nhanh, chữ này dính chữ kia, như cố gắng làm cho người nghe đỡ bị sốc.  Tuy vậy, vẫn khiến chàng Dzếch đang nốc một ngụm whisky soda mà xém chút mắc nghẹn trợn trắng.

 

Ông Hoàng gục gặt cái đầu tỏ vẻ thông cảm nỗi lòng của Thiếu tá, rồi từ tốn nói.  “Mình cũng thấy được con số này vào khoảng năm lần giá trị thực sự.”

 

Thiếu tá liền chưng hửng.  “Thưa ngài –“

 

Nhưng ông Hoàng đã giơ tay chận Thiếu tá lại.

 

“Trong sáu tháng qua, mình đã bỏ ra rất nhiều thời gian đi xem xét và dọ giá rất nhiều loại vũ khí chiến tranh khác nhau.  Cậu Sĩ-Uyên thân mến của mình ơi, xin đừng tỏ vẻ phản đối khiến mếch lòng cả hai chúng mình nhé.”

 

Căn phòng khi không trở nên im lặng như tờ, thiệt lâu, không khí căng thẳng như sợi dây đờn ghi-ta căng hết mức – rồi đột nhiên ông Hoàng buông ra một tiếng thở dài não nuột.

 

“Mình đã có thể hỏi giá những thứ vũ khí này – nhưng mình đã không thể mua chúng được.  Các siêu cường trên thế giới đã từ chối không cho mình cái quyền này – quyền được bảo vệ xứ sở chống lại kẻ xâm lăng.”  Cặp mắt của ông Hoàng đột nhiên trở nên mệt mỏi lạ thường như sáu tháng rồi chưa ngủ, cặp chơn mày nhăn tít lại đầy ưu tư.  “Như các cậu đã biết, đất nước chúng tôi nằm hoàn toàn trong nội địa.  Chúng tôi không có một cửa ngõ nào thông ra biển.  Tất cả các hàng ngoại nhập đều phải đi qua Somaliland thuộc Pháp và thuộc Anh – hoặc Eritrea thuộc Ý.  Tức là nếu không đi qua lãnh thổ của kẻ đang chuẩn bị xâm lăng chúng tôi thì cũng phải đi qua lãnh thổ của những người đang làm ra lệnh cấm vận.”  Ông Hoàng hớp một ngụm bồ đào từ chiếc ly trên tay rồi đăm đăm ngó cái ly thiệt sâu cứ như nhà chiêm tinh đang nhìn trái cầu thủy tinh mà bói chuyện tương lai vậy.

 

“Các siêu cường đã chuẩn bị giao nạp chúng tôi cho tên độc tài phát-xít, với hai tay không bị trói ra sau lưng.”  Ông Hoàng lại thở dài một lần nữa thiệt là nặng nề, rồi ngửng lên ngó Thiếu tá.  Đột nhiên ông Hoàng thay đổi thái độ.

 

“Thiếu tá Sĩ-Uyên, cậu đang gạ bán cho chúng tôi một lô hàng gồm xe cộ và vũ khí đã phế thải hư hỏng, với một giá cả cao gấp nhiều lần giá trị thực sự của chúng.  Nhưng chúng tôi thực sự đã không còn cách nào xoay xở, nên tôi phải chấp nhận lô hàng của cậu cùng với giá cả cậu yêu cầu.”

 

Thiếu tá cảm thấy bớt căng thẳng một chút và liếc nhìn chàng Dzếch.

 

“Tôi cũng bắt buộc phải chấp nhận ngay cả yêu cầu chi trả bằng tiền bảng Anh nữa.”

 

Thiếu tá liền tươi cười.  “Thưa ngài thân mến – “  Thiếu tá vừa mở miệng định nói nhưng ông Hoàng lại giơ tay lên chận ngang lần nữa.

 

“Đổi lại, tôi chỉ đưa ra một điều kiện duy nhất.  Và đây là điều kiện quyết định của tôi đối với chuyến giao dịch này.  Cậu và và người cộng sự của cậu, ông Ba-Toong, sẽ cùng chịu trách nhiệm giao toàn bộ vũ khí này vào tận lãnh thổ của Ethiopia .  Phần chi trả chỉ được thực hiện khi nào chuyến hàng được giao tới tay tôi hoặc người đại diện của tôi, bên trong biên giới cương thổ của Đức Hoàng Thượng, Haile Selassie.”

 

“Giời đất ơi,”  Thiếu tá nhịn hết nổi bèn hét lên.  “Nghĩa là chúng tôi phải chuyển lậu số vũ khí này đi qua mấy trăm dặm trên lãnh thổ của các xứ thù nghịch.  Hoàn toàn là chuyện ngu xuẩn !”

 

“Ngu xuẩn, thực sao Thiếu tá Sĩ-Uyên ?  Tôi không nghĩ như vậy.  Hàng của cậu hoàn toàn không có giá trị gì đối với tôi hay với cậu ở tại Dar es Salaam này.  Tôi là khách hàng duy nhất của cậu – cả thế giới này cũng không thể kiếm đâu ra một người nào khác ngốc đến nỗi đi mua hàng của cậu.  Nhưng mặt khác, dù tôi có thử cách nào để mang vũ khí vào xứ tôi cũng đều vô dụng.  Tôi đang bị theo dõi rất kỹ bởi các gián điệp của các siêu cường.  Tôi dư biết mình sẽ bị lục soát ngay lúc đặt chân tới Jibuti.  Nằm ở đây, lô hàng của cậu không đáng một xu.”  Ông Hoàng ngừng lại và đưa mắt rà ngang từ Thiếu tá qua tới chàng Dzếch.  Chàng Dzếch đưa tay lên xoa cằm đầy suy nghĩ.

 

“Thưa ngài, quả thiệt tôi thấy ngài có lý.”

 

“Ông thực là người hiểu biết đấy, ông Ba-Toong,”  ông Hoàng trả lời chàng Dzếch, rồi quay trở lại Thiếu tá và lặp lại câu nói vừa rồi.  “Nằm ở đây, lô hàng của cậu không đáng một xu.  Còn ở Ethiopia, nó trị giá mười lăm nghìn bảng Anh.  Vậy xin tùy cậu lựa chọn.  Bỏ chúng – hoặc mang chúng vào Ethiopia .”

 

 

 

 

Quả nhiên thiệt tình rõ ràng là gay go gắt củ kiệu.  Nói nào ngay, Thiếu tá thiệt ra cũng đã đoán trúng gần hết.  Ông Hoàng hì hì hà hà kia đã hí hửng móc bóp ra và sẵn sàng vãi tiền vàng đầy mặt đất, nhưng hơi kẹt ở chỗ phải là mặt đất Ethiopia kìa, không phải ở Dar es Salaam .  Vậy thì Thiếu tá cáo già Lái-Mì và hảo hớn kỹ sư Dăng-kỳ phải tính làm sao đây ?  Bỏ cuộc tại đây hay xâm mình lén lén đem cái đống của nợ kia vô xứ Ethiopia ?  Muốn biết hai anh chàng giang hồ bạt mạng sẽ làm gì với cái đống đồ nghề bỏ thì thương mà vương thì tội này, xin quí vị độc giả chịu khó đón xem tiếp hồi sau sẽ rõ.

 



[1] Bentley

[2] Eton College , nổi tiếng là trường trung học xịn nhứt Luân Đôn.

[3] Tức con vật thần thoại Unicorn, có mình và đầu ngựa, đuôi sư tử và trước trán có một sừng.

[4] Nguyên văn ‘throw in a handful of beads and a bag of salt’.  Ngụ ý của Sĩ-Mịch tiên sanh có lẽ muốn ám chỉ những đồ vật tầm thường rẻ tiền, nhưng được những người bình dân ưa chuộng.  Nên có thể nói có ý nghĩa rất gần gủi với câu ca dao của người Việt ‘Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười’.

[5] Nhóm chủng tộc Semites rất cỗ, sống ở vùng tây-nam Á Châu và bắc Phi Châu, bao gồm các sắc dân Akkadian, Phoenician, Do-Thái và Á-Rập.  Source: Britannica 2005.

[6] Một biệt danh rất “ngọt ngào” nhưng hoàn toàn không có ám chỉ tánh hà tiện.

[7] Ngôn ngữ chánh thức của Ethiopia từ thế kỷ 19.

[8] tức cá Hồi (Salmon).

[9] tức Cape Good Hope ở nam Phi Châu.

[10] Là thứ rượu thuộc loại quốc hồn quốc túy của Ethiopia , được ủ lên men từ mật ong rừng, có tiếng là chứa nồng độ rượu rất cao, dư sức làm khó dễ dân ve chai.