Hiện tượng kháng kháng sinh

Trách  nhiệm cá  nhân  và tập  thể

Nguyễn thượng Chánh , dvm

 

         Mots clés :  Résistance aux antimicobiens , Antibioresistance

 

Ngày nay, khắp thế giới người ta rất lo ngại trước sự gia tăng  không ngừng của hiện tượng lờn thuốc đối với nhiều loại  vi khuẩn . Không ít thuốc kháng sinh từ trước giờ được xem như những cứu tinh của biết bao là bệnh tật  ,ngày nay đã tỏ ra không còn công hiệu  chửa trị nửa . Kho tàng thuốc kháng sinh càng ngày càng trở nên hạn hẹp và khan hiếm hơn nhiều . Hiện tượng kháng kháng sinh đã bắt đầu ….

 

Thuốc kháng sinh là gì  ?

Đó là những chất thiên nhiên được gây cấy từ vi sinh vật, hoặc được tổng hợp hay bán  tổng hợp hóa học .  Chúng có khả năng hủy diệt hoặc làm chậm lại sự phát triễn và bành trướng của vi sinh vật gây bệnh . Các chất nầy có thể là thuốc trụ sinh  (antibiotique), các sulfa (sulfamide) , thuốc diệt siêu vi ( antiviraux ) , thuốc diệt nấm (antifongiques), chất tẩy uế ( desinfectants), và các loại thuốc sát trùng ( antiseptiques) .

 

Hiện tượng kháng kháng sinh là gì   ?

Hiện tượng kháng kháng sinh xảy ra  khi mầm bệnh hay vi khuẩn  không bị diệt bởi thuốc kháng sinh, chúng   vẩn tồn tại , sinh sản ra những thế hệ con cháu không có tính cảm ứng ( sensible) với 1 hay với nhiều loại thuốc kháng sinh nào đó .

  

Tại sao hiện tượng lờn thuốc có thể xảy ra  ?

Có rất nhiều nguyên nhân , như sự sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi , không đúng cách , không tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu , cũng như không chịu uống cho thật hết số thuốc như bác sĩ đã kê toa . Ngoài ra việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi thú y, canh nông  và ngư nghiệp cũng dự phần không nhỏ trong sự hình thành của hiện tượng kháng kháng sinh ở người . Cuối cùng là vấn đề dùng các chất diệt khuẩn ( nettoyant antibactérien) để chùi rửa quá thường xuyên,không đúng chỉ dẩn củng có thể giúp sản sinh ra những dòng vi khuẩn có tính kháng thuốc . Y,nha, dược sĩ, thú y sĩ và bệnh nhân đều có trách nhiệm trong vấn đề kháng kháng sinh .

Kháng thuốc  xảy ra như thế nào  ?

Vi khuẩn tiếp nhận tính kháng thuốc từ nhiều ngỏ . Từ các vi khuẩn khác có mang sẳn tính chất nầy , hoặc do hiện tượng ngẩu biến ( mutation ) tự nhiên . Phải chăng đây là 1 hiện tượng thiên nhiên  nhằm để bảo vệ sự sống còn của một sinh vật ? Tính đề kháng được gắn trên di thể ( gène ) của vi khuẩn, hoặc cũng có thể nằm trong những đơn vị phụ thuộc của nhiễm sắc thể ( chromosome), gọi là những plasmides. Đây là những vòng DNA cực nhỏ và di động . Khi vi khuẩn chết đi , các plasmides nầy sẽ được thải vào môi sinh , và từ đó nhiễm vào các vi khuẩn khác . Còn đối với siêu vi ( virus), khi sinh sản (gọi là làm réplication ) ,chúng cần phải xâm nhập vào vi khuẩn để trích lấy plasmides và đem truyền sang cho những vi khuẩn khác .

 

Tại sao vi khuẩn kháng được thuốc   ?

Hiện tượng kháng thuốc có thể xảy ra theo một trong những cơ chế sau đây :

1-      Làm thay đổi mục tiêu tác động( site d’action) của thuốc trên  vi khuẩn Ví dụ làm thay đổi protéine trên vi khuẩn mà  thuốc Pénicilline sẽ bám vào để tác động. ( Pénicilline vs Streptococcus pneumoniae) .

2-      Vô hiệu hóa thuốc bằng enzyme bêta lactamase. ( Penicilline vs Staphilococcus aureus) .

3-       Làm giãm độ thẫm thấu của màng  tế bào vi khuẩn nên thuốc không tác động được. ( Gentamycine vs Pseudomonas aeroginosa ).

 

Một số vi khuẩn kháng thuốc tại Canada

·        -  Staphylococcus  aureus  kháng Methicilline

·        -  Enterococcus kháng Vancomycine

·        -  Klebsiella pneumoniae / bêta lactamase à spectre étendu (BLSE) résistants.

·        -  Eschericia coli /BLSE résistants .

·        -   Salmonella

·        -   Shigella

·        -  Gonocoques  kháng  Fluoroquinolone .

·        -   Streptococcus  pneumoniae résistant à la Pénicilline ( SPRP )

·        -  Tuberculose résistante à l’Isoniaside et à la Rifambine .

 

Sự sang nhượng tính kháng thuốc : hiện tượng đáng ngại . ( tranfert de résistance )

Có bằng chứng cho thấy vi khuẩn mang tính kháng thuốc có thể vượt hàng rào chủng loại ( barrière d’espèce ) để truyền tính nầy sang cho những vi khuẩn của 1 chủng loại khác, thí dụ vi khuẩn gốc ở thú vật truyền tính đề kháng sang cho vi khuẩn gốc ở người chẳng hạn.Ngoài ra, cũng cần nói thêm là đa số thuốc kháng sinh bên thú y đều có cùng 1 cơ cấu hóa học như những thuốc đồng loại bên người . Bởi lý do nầy, cho nên khi 1 vi khuẩn đề kháng với 1 loại thuốc thú y thì nó cũng có thể đồng thời đề kháng với các loại thuốc cùng nhóm bên người .

 

Thuốc kháng sinh nhìn từ phía  y khoa

 

Năm 1954 Hoa Kỳ chỉ sản xuất có 2 triệu cân thuốc kháng sinh. Ngày nay số sản xuất đã tăng vọt lên trên 50 triệu cân / năm  . Theo The Centers for Disease Control& Prevention ( CDC) Hoa Kỳ cho biết ,có thể nói là có trên 50%  toa kháng sinh do bác sĩ kê cho bệnh nhân đều không cần thiết và không xác đáng vì  được kê ra để chửa trị nhửng bệnh do virus như ho hen cãm cúm. Được biết là thuốc kháng sinh chỉ có công hiệu để trị nhửng bệnh cãm nhiễm do vi khuẩn gây ra mà thôi . Cơ quan Y tế Canada cũng đưa ra một nhận định như trên . Ngày nay , một số lớn vi khuẩn không còn cãm ứng với các loại thuốc kháng sinh cũ thường được sử dụng từ trước tới nay . 

Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae , tác nhân của viêm phổi và viêm màng não đả không còn cãm ứng với Pénicilline và 1 số thuốc khác  .  Vancomycine là kháng sinh đặc trị vi khuẩn Staphylococcus aureus , giờ thì nó không còn hửu hiệu nửa .  Các vi khuẩn như Enterococcus faecalis , Mycobacterium tuberculosis , Pseudomonas aeruginosa  đều đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh . Tử vong của bệnh lao phổi trước đây đã giãm thiểu ở các quốc gia  Tây phương , nay có khuynh hướng gia tăng trở lại . Cơ quan Y Tế Thế giới ( OMS) cho biết các chủng vi khuẩn bệnh lậu mũ ( gonorrhea ) gốc Á châu và Phi châu  ngày nay đả thấy xuất hiện khắp thế giới . Tình trạng nhiễm trùng hậu giải phẩu tại các bệnh viện Canada là một vấn đề thật đáng ngại  ,trong đó nhiễm khuẩn  Staphylococcus aureus là 1 trong nhiều loại vi khuẩn thường gặp nhất . Gần đây Clostridium difficile ,vi khuẩn gây viêm ruột  xảy ra trong các bệnh viện cũng  có mòi gia tăng lên nhiều .

  

Thuốc kháng sinh nhìn từ phía thú y

Thuốc kháng sinh dược dùng để phòng và trị bệnh gia súc ,  nhưng phần lớn trên 90 % thuốc được sử dụng như nhửng chất kích thích tăng trưởng( growth promoting) trong chăn nuôi và ngư nghiệp . Thuốc kháng sinh được trộn vào thức ăn hổn hợp với những nồng độ thật thấp ( sous thérapeutique)  để giúp thú mau lớn và tăng trọng nhanh . Kỹ nghệ nuôi cá salmon  vùng ven biển Vancouver, Canada cũng áp dụng phương pháp nầy . Sự kiện sử dụng quá bừa bãi thuốc kháng sinh từ mấy chục năm nay đã làm phát sinh ra rất nhiều chủng vi khuẩn mang tính kháng thuốc . Vi khuẩn Salmonella đã đề kháng cùng 1 lúc với thuốc Ampicilline, Chloramphenicol, Streptomycine, và Tétracycline .  Vào cuối thập niên 90 ,tại Anh quốc  vi khuẩn Salmonella typhimurium DT 104  đã hoành hành dử dội trong chăn nuôi . Một thời gian sau đó ,người ta đã phát hiện những vi khuẩn nầy ở người và điều tai hại nhất là chúng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kể cả với thuốc Trimethoprim sulfaFluoroquinolone .Năm 1985, tại Californie trên 1000 người đã ngã bệnh vì ăn phải hamburger có nhiễm khuẩn Salmonella newport đề kháng với nhiều loại thuốc ….Ngày nay các vi khuẩn thông thường của đường ruột như Entérobacter, Campylobacter, và E.coli 0157 : H7 ( bệnh Hamburger ) cũng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kháng sinh .

 

Ăn thịt chứa chất tồn dư kháng sinh có hại không?

Câu hỏi nầy thường được mọi người nêu ra . Trên lý thuyết chúng ta nên tránh dùng thịt có chứa chất tồn dư ( résidu ) kháng sinh . Thực tế rất khó thực hiện, ngoại trừ trường hợp mình tự nuôi lấy súc vật để làm thịt .  Thịt có tồn dư kháng sinh có thể gây hại cho sức khỏe như :

·        - Gây dị ứng .Ví dụ Penicilline sẽ chuyễn thành acide Pénicilline là 1 chất dị ứng ( allergène ) , tuy nhiên cũng rất hiếm thấy  xảy ra .

·        - Tạo ra những chủng vi khuẩn mang tính kháng kháng sinh sau nầy.

·        - Một vài loại thuốc kháng sinh trong chăn nuôi bị nghi ngờ là có thể gây ung thư ( carcinogène ). Thuốc kháng sinh Carbadox( Mecadox) thường được sử dụng để trị tiêu chảy ở heo con và cũng đồng thời giúp chúng không bị mất sức giãm cân trong lúc lẻ bầy . Thuốc cho thấy gây ung thư ở chuột trong  phòng thí nghiệm , bởi vậy để ngừa nguy cơ nầy ở người dùng thịt heo , thời gian ngưng thuốc Carbadox trước khi gởi heo đi hạ thịt phải trên 42 ngày  để thịt không còn chứa chất tồn dư. Một số Quốc gia như Anh và Úc châu đả cấm sử dụng , Bộ y tế Canada mới đây củng ra quyết định cấm bán Carbadox .

 

Phải chăng tất cả vi khuẩn đều có hại  ?

 Thật ra không phải vi khuẩn nào cũng đều có hại cả . Có loại vi khuẩn hiền sống trong ruột và trên da của chúng ta . Chỉ có những loại vi khuẩn xấu mới làm chúng ta bệnh . Khoa học gọi chúng là những pathogènes . Khi chúng ta sử dụng các chất diệt khuẩn để chùi rửa , tất cả vi khuẩn tốt lẩn vi khuẩn xấu sống trên da đều bị diệt hết . Nếu chỉ dùng savon thường để rửa thì vi khuẩn tốt không hề hấn gì nhưng ngược lại vi khuẩn xấu sẽ dể dàng bị loại đi . Vậy tốt nhất là nên xài  savon loại thường và tránh bớt việc dùng các loại savon diệt khuẩn (savon antibactérien ) .Đây là 1 trong nhiều cách để ngăn chận phần nào sự xuất hiện của những vi khuẩn kháng thuốc .

 

Ai ít sử dụng kháng sinh thì khỏi phải lo sợ hiện tượng lờn thuốc  ?

Vấn  đề ở đây không phải là bệnh nhân kháng thuốc , nhưng chính vi khuẩn mới thật sự là đối tượng lờn thuốc. Vi khuẩn kháng 1 loại thuốc nào đó khi chất nầy không đũ sức để diệt được nó . Vi khuẩn mang sẳn  tính kháng thuốc có thể nhiễm vào môi sinh, vào nguồn nước cũng như vào bất luận 1 loại thức ăn thức uống  nào  đó . Vấn đề thịt chứa chất tồn dư kháng sinh cũng là nguyên nhân  gây ra những chủng vi khuẩn kháng thuốc . Luật thú y Canada  đả quy định rỏ rệt thời gian  bắt buộc phải ngưng chửa trị súc vật ( période de retrait, withdrawal period) bằng kháng sinh truớc khi gởi đến nhà máy để hạ thịt . Thời gian này dài hay ngắn tùy theo loại thuốc  sử dụng . Test thử nghiệm (Cast test, Stop test, DSSP) sự hiện diện của chất kháng sinh trong thịt vẫn thường được thực hiện thường xuyên  tại lò sát sinh.

 

Phương pháp duy nhất làm diụ bớt triệu chứng đau cổ họng và các cơn ho kéo dài lâu ngày là nên uống kháng sinh ?

Trong thực tế phần lớn trường hợp trên lúc bị cãm cúm đều có nguyên nhân là virus,cho nên uống kháng sinh không có hiệu quã được. Bác sĩ có thể chẩn đoán tác nhân gây bệnh , do virus hay do vi khuẩn Streptococcus  bằng cách cho thử nghiệm và cấy vi khuẩn ( làm culture ) . Các cơn ho kéo dài lâu ngày 2-3 tuần thường là do virus gây ra   (ví dụ viêm phế quản do siêu vi, bronchite virale).Bác sĩ có thể cho  chụp hình X ray và kê toa kháng sinh nếu cần . Chỉ có bác sĩ mới có thẩm  quyền chuyên môn cho phép uống hay không cần uống kháng sinh .

   

Những người ăn chay, không ăn thịt thì không phải lo ngại đến hiện tượng kháng thuốc  ?

 Điều nầy sai. Các loại vi khuẩn gây bệnh có mang sẳn tính kháng thuốc có thể đã hiện diện trong rau cải hoa quả rồi . Phân súc vật là nguồn lây nhiễm chính .

  

Nếu nấu thịt cho thật chín có nghỉa là tôi sẽ loại được tất cả vi khuẩn mang tính kháng thuốc  ?

 Không hoàn toàn đúng như vậy . Sự nấu chín không đồng nghỉa với sự tiệt trùng (stérilisation ). Một số vi khuẩn sống sót vẩn có thể làm hại ta như thường . Bên cạnh vấn đề vi khuẩn , thịt cũng có thể chứa các chất tồn dư kháng sinh nửa .

   

Toa ghi rõ uống 4 viên kháng sinh 1 ngày, nhưng ta chỉ cần uống 2 viên là đủ rồi   ?

Không nên làm như vậy . Cần phải tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu . Khoãng cách giửa các liều uống có mục đích đảm bão trong máu lúc nào cũng phải có 1 nồng độ thuốc cần thiết . Việc không tôn trọng liều lượng sẽ làm trị liệu không kết quã và có thể dẩn đến tình trạng vi khuẩn kháng thuốc sau nầy .. Bệnh nhân cần uống cho đúng cách, đúng liều , uống liên tục cho đến khi hết thuốc . Đây là điều tối quan trọng để bảo vệ sức khõe không những cho riêng cá nhân mình, mà còn cho cã những người trong gia đình và cho cả súc vật nuôi trong nhà nửa .

  

Kháng sinh còn dư trong lọ có thể để dành sử dụng lại sau nầy, hoặc để cho người khác  ?

Không nên . Điều quan trọng là phải uống  thuốc như toa đã ghi mới có thể hết bệnh được. Uống không hết thuốc , một số vi khuẩn vẩn có thể còn sống sót và trở nên kháng thuốc sau nầy . Bệnh trạng mổi người mổi khác. Mổi loại kháng sinh đều có chỉ định dặc biệt để trị 1   hay nhiều loại vi khuẩn nào đó . Đem thuốc dư của mình cho người khác là không đúng . Thuốc dư, thuốc củ quá thời hạn sử dụng không nên vứt bỏ vào thùng rác, lavabo hay vào toilette vì chúng có thể làm ô nhiễm nguồn nước và có thể làm xuất hiện tính kháng thuốc ở 1 số vi khuẩn sống trong môi sinh . Cách tốt nhất là đem thuốc củ đến các dược phòng để nhờ họ gởi đi hủy bỏ 1 cách an toàn .

  

Chúng ta không nên lo sợ tình trạng kháng kháng sinh vì có rất nhiều loại thuốc trên thị trường ?

 Điều nầy không hoàn toàn đúng . Các loại vi khuẩn gây bệnh không nhửng chỉ đề kháng với 1 thứ kháng sinh ,nhưng chúng cũng có thể  kháng cùng 1 lúc với nhiều loại thuốc khác nhau. Số thuốc kháng sinh trong kho tàng trị liệu sẽ trở nên khan hiếm và đắt tiền hơn .

 

Kết luận

Hiện tượng kháng kháng sinh là một hiễm họa chung của nhân loại . Chúng ta không thể giải quyết vấn đề nầy một cách đơn thuần cục bộ được , mà phải tìm một giãi pháp chung cho cả thế giới . Mọi người đều nhìn nhận là cần nên áp dụng các biện pháp như, giáo dục dân chúng , ban hành những luật lệ gắt gao để kiễm soát việc sử dụng và lưu hành thuốc kháng sinh , canh tân hóa các bệnh viện , mở mang chuồng trại ,cãi tiến kỹ thuật chăn nuôi để giãm thiểu sự sử dụng kháng sinh trong việc phòng chống bệnh tật. Nhưng tất cả những  điều vừa kể đều chỉ là ảo tưỡng nếu không có một quyết tâm chính trị thật sự mạnh mẻ đi kèm . Chuyện không đơn giản đâu …..

 

Tài liệu tham khảo :

 

-         Santé Canada , Bulletin Recherche sur les Politiques de Santé , No 6,Juin 2003

-         George G. Khachatourias, Agricultural Use of Antibiotics and Evolution and Transfert of Antibiotic Resistant Bacteria . CMAJ nov , 1998

-         Stuart B.Levy ,TheChallenge of Antibiotic Resistance. Scientific American , march1998

 

Montreal , October 1 , 2004