Cảm tác bài thơ trọng nông của hai vị Vua Triều Nguyễn

 

Chính sách kinh tế của Việt Nam luôn luôn đặt nặng vấn đề canh nông từ xưa đến nay và vai trò người nông dân rất quan trọng trong tương quan xã hội. Coi trọng nghề nông đã trở thành truyền thống trong dân gian. Với truyền thống trọng nông này, nhà Nguyễn tiếp tục duy trì và phát triển.

Hai bài thơ dưới đây thể hiện tinh thần trọng nông và tấm lòng ưu ái của Vua Minh Mạng và Thiệu Trị.

 

Bài thơ "Vị Nông Ngâm" của Vua Minh Mạng

Bài thơ này làm theo thể Ðường luật thất ngôn bát cú, bằng chữ Hán, do vua Minh Mạng ngự chế vào năm 1832.

Vị Nông Ngâm

Tiền tiêu hàm hỷ tế thời lâm,

Kế thử liên liên tế tế châm.

Lẫm liệt đông trung tri thuận hậu,

Tuần tuần điền thượng khủng hàn xâm.

Y ôn niệm chức tồn dư ý,

Thực bảo tư nông động ngã tâm.

Giá sắc gian nan tùng cổ trọng,

Vô thời bất dĩ cử vi ngâm.

Nhâm Thìn hoạt bút (1)

Dịch nghĩa

Ngâm Ngợi Nhà Nông

Ðêm trước mọi người đều mừng trận mưa cứu mùa màng.

Tiếp đó hạt mưa rơ rả rích.

Trong mùa đông lạnh lẽo mà mưa như thế thì biết là thuận lợi.

Người nông dân lội bì bõm trên ruộng e sợ bị nhiễm lạnh.

Mặc ấm phải nhớ nghĩ đến người dệt vải, đó là điều còn mãi trong ý ta.

Ăn no phải nghĩ đến người làm ruộng, đó là điều làm cảm động đến lòng ta.

Nỗi gian nan trong chuyện cấy gặt, từ xưa vốn được coi trọng.

Không lúc nào ta không đem nỗi gian nan ấy cất lên thành khúc ngâm.

Viết năm Nhâm Thìn 1832 (1)

 

Dịch thơ

Ðêm qua mừng trận mưa rào,

Lâm thâm nối sợi rót vào canh thâu

Rét đông mưa giúp hoa màu,

Sợ ai ì oạp ruộng sâu lạnh lùng.

Ấm người, thợ dệt góp công,

No lòng, ta nhớ nhà nông muôn phần.

Bao đời tôn trọng nông dân,

Ngâm nga ta đã bao lần vì ai.

 

Cảm tác từ bài thơ trên:

Mơ màng trời chuyển cơn mưa,

Lòng như mở hội thuận mùa năm naỵ

Thương dân cực nhọc bao ngày

Ðồng sâu, ruộng cạn, cấy cày lắm công.

Ăn no, ta nhớ nhà nông,

Áo dày, ta nhớ tơ tằm ao gieo.

Ngẫm thương kiếp số dân nghèo,

Bài thơ ta viết nương theo luống cày.

(Hồ Phùng, Olympia, WA)

 

Bài thơ "Nông Lạc" của Vua Thiệu Trị

Vua Thiệu Trị đã làm hàng trăm bài thơ chữ Hán, trong đó bài thơ "Nông lạc" (Niềm vui của nhà nông), tìm thấy trên di tích của Huế.

Nông Lạc (1)

Chung tuế cần cù lực bá canh.

Thu thành vạn bửu toại tư sanh.

Nhương nhương lũng mẫu hoàng vân bố,

Ú úc thương sương ngọc lạp doanh.

Phủ ngưỡng hàm hân gia cấp túc,

Trưng khoa bất nhiễu pháp nghiêm minh.

Chiêu diên tựu thực hương thôn hội,

Túy bảo mao nghê hỷ ủy tình.

 

Dịch nghĩa

Niềm Vui Của Nhà Nông

Quanh năm làm việc cần cù, ra sức cày cấy khắp cả.

Mùa thu làm nên muôn vật qúy báu, toại ý về của cải vật chất nuôi sống.

Lớp lớp trên ruộng dưới đồng, lúa chín trãi ra như đám mây vàng.

Ăm ắp bồ, kho, tràn đầy hạt ngọc (tức là lúa gạo).

Ngó xuống trông lên đều hớn hở, việc cung cấp cho gia đình được đầy đủ.

Trong việc trưng thu không bị sách nhiễu, phép nước được gìn giữ nghiêm minh.

Xóm làng mở hội mời nhau đến cùng ăn uống.

No say, già trẻ đều mừng rỡ thỏa lòng.

 

Dịch thơ

Cần cù ruộng thấp đồng cao,

Sang thu cái sống được bao đền bù.

Mây vàng giăng hạt ruộng khô,

Ngọc lành ăm ắp đầy bồ chật kho.

Cảnh nhà giờ đỡ phải lo,

Làm thep phép nước trưng thu đàng hoàng.

Tiệc mừng tấp nập xóm làng,

No say ai cũng rộn ràng niềm vui.

(Vũ Bạch Ngô dịch)

 

Cảm tác từ bài thơ trên:

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,

Gió heo may thổi, hoa màu bội thu.

Dầm mưa giãi nắng không từ,

Lúa vàng hương ngát, lòng như mở cờ.

Bữa ăn nuốt vội trên bờ,

Toan lo thuế khóa, tính lo việc nhà.

Bây giờ nhắp chén hoan ca,

Ddẹp trăng mười sáu, đẹp nhà ấm no.

(Hồ Phùng, Olympia, WA)

 

Theo sách Ðại Nam Thực Lục, nhà Nguyễn coi ngành nông nghiệp là "Bản nghệ" tức nghề gốc, còn ngành thương nghiệp là "mạt nghệ" tức nghề ngọn.

Hồ Phùng 11/98

 

(1) Trích: Phan Thuận An, Huế -?một thuở kinh đô.