Xuân Giáp Thân 2004

GIÓ XUÂN HAY GIÓ ĐÔNG ?

Người viết : Miệt Dưới Dũng Trần

 

Năm ngoái trong bài Tạp Ghi Cuối Năm Xuân Quí Mùi người viết có o bế vài cành đào và cành mai để tặng các bạn ta thưởng xuân. Trước khi cho bài Tạp Ghi này ra mắt các bạn ta, Hà huynh đệ dù cuối năm bận rộn túi bụi cũng ráng làm vài đường trang điểm cho bài này xem được mát mắt như các bạn ta cuối cùng đều đã thấy. Dĩ nhiên đối với ngườI viết thì tài làm trình bày của Hà huynh đệ thiệt là hết chổ chê. Nhưng độc đáo nhứt và khiến người xem có ấn tượng mạnh nhứt, người viết nghĩ có lẽ là tấm hình do Hà huynh đệ sưu tầm được và cho đặt ngay ở đầu bài. Hà huynh đệ đã đoan chắc như đinh đóng cột với người viết là tấm hình đó đã được chụp ngay vào cái phút ban đầu chàng thơ sanh họ Thôi vừa mới diện kiến dong nhan tiểu thơ má đào. Và dĩ nhiên là người viết tin liền, khỏi có thắc mắc lôi thôi gì hết ráo. Chỉ hơi ấm ức chút xíu ở chổ là cho tới nay người viết vẫn không biết Hà huynh đệ đã ra tuyệt chiêu hacking gì để đột nhập vô được cái d-base của dân aliens mà kiếm được tấm hình này ?

Vừa làm xong Hà huynh đệ đã mau mắn gởi ngay bổn nháp cho người viết xem duyệt. Quả nhiên độc đáo. Nhưng coi kỷ lại thì thấy có gì đó hơi là lạ. Chuyện gì vậy cà ? Thử quan sát cho kỷ lại. Thôi tiên sanh thì ăn mặc võ phục (?), coi tướng tá thấy cũng đường đường một đống anh hào, mặc dù không thấy có đeo gươm và chỉ thấy được cái lưng. Nhưng như vậy thì cũng không thể nói là lạ được. Bên cánh phải của tấm hình là một cành đào đỏ rực. Phải quá đi chớ ! Ở giữa là tiểu thơ thướt tha e ấp, đẹp gái thì khỏi cần bàn rồi. Nhưng mà dong nhan sao lại … xanh lè vậy cà ? Nhơn diện đào hoa mặt tái mét ! Không lẽ Thôi tiên sanh thấy tiểu thơ lịch sự quá rồi cầm lòng không đặng nên vừa mới thấy nửa đôi má đào nép dưới cành đào đã mất hồn đến nổi quên nhốt con dê lại, để nó sút chuồng chạy ra … dê quá cỡ khiến tiểu thơ thất kinh hồn vía chăng ?

Nhưng có phải hay không thì cũng tạm gác qua một bên. Chuyện trước mắt là phải nhờ Hà huynh đệ ra tay làm vài đường makeup đôi má của tiểu thơ lại kẻo sau khi trình làng thì thế nào cũng khiến các bạn ta phải thắc mắc. Bèn đề nghị với Hà huynh đệ cho tô thêm chút phấn hồng lên đôi má tiểu thơ. Nên cuối cùng thì các bạn ta đã được chiêm ngưỡng đôi má tiểu thơ ửng hồng rất là hấp dẫn, thiệt đúng với bài bản tương ánh hồng vậy ! Bàn tay tô son chuốc lục của Hà huynh đệ quả nhiên lợi hại, thiệt đáng khâm phục, khâm phục !

 

Nhơn đây người viết cũng xin được kể vài câu chuyện bên lề về bài thơ Đường đẹp hết ý này.

Chuyện thứ nhứt là năm ngoái Hà huynh đệ có nhắc với người viết rằng Hà huynh đệ nhớ tựa bài thơ của cụ Thôi hình như là Đề Tích Sở Kiến Xứ chớ không phải Đề Thích…như người viết đã ghi. Thú thiệt là người viết chỉ ghi lại theo trí nhớ của mình và mặc dù có tham khảo với bạn già Lưu Tường, nhưng bạn già vốn là người Việt gốc Canton nên đã cố vấn người viết trật lất. Sau này có dịp tham khảo lại các tài liệu về thơ Đường thì thấy các sách đều ghi là Tích nên sẳn đây người viết xin long trọng đính chánh lại cho đúng với cách phát âm Hán-Việt chuẩn. Nhắc tới tựa đề bài thơ này thì người viết năm ngoái có xem trên web site của GĐNN thấy lúc đó các sư huynh đang phát động rầm rộ phong trào dịch bài thơ này thưởng xuân. Quả nhiên hào hứng xôm tụ. Rất nhiều bản dịch nghe rất ướt át lãng mạn hoa đào (chứng tỏ là trái tim của các sư huynh ta vẫn còn hot lắm đó nghe !), thiệt tình có thể tự đứng ngang hàng với các bản dịch của cụ Trần, cụ Tản. Nhưng xem kỷ thì thấy các sư huynh đã sưu tầm được một bản chép khác của bài thơ này. Xin ghi lại đây để các bạn ta cùng tham tường cho vui.

Bản chép mà người viết được biết

 題 昔 所 見 處 
 Đề Tích Sở Kiến Xứ

去 年 日 此 門 中
Khứ niên kim nhật thử môn trung 
人 面 桃 花 相 映 紅 
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng 
人 面 不 知 何 處 去
Nhân diện bất tri hà xứ khứ  
桃 花 依 舊 笑 東 風
Đào hoa y cựu tiếu đông phong  
          

崔 護 (Thôi Hộ)

Tựa Đề Tích Sở Kiến Xứ (Đề Nơi Gặp Gỡ Năm Trước) 

Câu cuối Đào hoa y cựu tiếu Đông phong

Bản chép các sư huynh sưu tầm được:

題都城南莊

Đề Đô Thành  Nam Trang

去 年 日 此 門 中
Khứ niên kim nhật thử môn trung 
人 面 桃 花 相 映 紅 
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng 
人 面 不 知 何 處 去
Nhân diện bất tri hà xứ khứ  
桃 花 依 舊 笑
Đào hoa y cựu tiếu xuân  phong  
          

Đề  Đô Thành Nam Trang (Đề Ở Trại Phía Nam Đô Thành)

Câu cuố Đào hoa y cựu tiếu xuân phong

 

Nói về tựa đề bài thơ thì xưa nay sách vở kinh điển như Đường Thi của cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim đều chép là Đề Tích Sở Kiến Xứ. Sách Điển Hay Tích Lạ của cụ Nguyễn Tử Quân thì kể lại rằng Thôi tiên sanh sau khi đề xong bài thơ trên cổng bèn đi luôn chẳng buồn đề tựa. Sách Giai Thoại Văn Học Đường thì tác giả Lê Văn Đình còn kể rõ hơn nữa là Thôi tiên sanh đã đề bài thơ trên cánh cổng bên tả (!) báo hại tiểu thơ xém chút uổng mạng, rồi đời sau si mê bài thơ này quá cỡ nên có người đã ân cần tặng cho nó cái tựa là Đề Đô Thành Nam Trang . Tới đây thì chắc các bạn ta đều đồng ý với người viết là câu chuyện đã rõ lắm rồi. Cụ Thôi vốn không có hề làm chuyện đề tựa cho bài thơ. Cho nên Đề Tích… hay Đề Đô… đều là do người đời sau yêu mến mà đề … giùm cho cụ. Nói như vậy thì đến nay các bạn ta đã được biết ít ra là đã có hai Đề, nhưng ngàn năm sau người đời hẳn là vẫn còn bị bài thơ hoa đào này mê hoặc dài dài, tới lúc đó không chừng có đến mấy chục cái Đề khác nữa chớ đâu phải chỉ có Đề Tích với Đề Đô ! Cho nên nếu như các bạn ta có sưu tầm được thêm cái Đề gì khác nữa xin đừng cất kỷ, nhớ cho trình làng. Càng đông càng vui mà !

Chuyện thứ nhì thì coi bộ còn gay cấn hơn nữa là thiệt ra Đào hoa y cựu tiếu Đông phong hay tiếu xuân phong ? Các bản chép Đông phong thì chử Đông ở đây là hướng đông. Vậy đông phong là gió từ hướng đông. Xin nhắc lại, riêng người viết dùng chử Đông viết hoa là để tưởng nhớ sư phụ năm xưa, người đã đầu tiên mở mắt cho người viết thấy là trên đời này quả có bài thơ hoa đào (giấy) đẹp hơn hoa đào (thiệt) này. Hảy thử ngâm cứu bài thơ này một chút xem có tìm ra chút ánh sáng nào về chuyện gió đông hay gió xuân hay không ?

Về phái gió xuân thì xưa nay ngưòi viết chỉ tìm thấy ở sách Đường Thi của cụ Lệ Thần. Cụ Lệ Thần đã chép rất rõ là xuân phong và được viết dưới cả hai dạng Quốc Ngữ lẫn chử Nho, nên không thể có chuyện in lầm được. Tuy nhiên hảy xem bản dịch của cụ.

Hôm nay, năm ngoái, cửa cài,

Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi.

Mặt người chẳng biết đâu rồi,

Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.

Có thể nói ngay là cụ Lệ đã dịch bài thơ này rất sát cả từ lẫn ý … trừ chữ cuối ! Người viết đã nghĩ rất lâu vẫn không sao tìm được lý do nào khiến cụ Lệ phải dịch xuân phong gió đông thay vì gió xuân, mặc dầu rõ ràng là nếu dịch ra gió xuân thì hoàn toàn không có trục trặc gì với vần luật lục bát và ý tứ của toàn bài dịch chỉ có thể hay hơn chớ không kém gió đông. Mà ngày nay thì còn biết tìm cụ Lệ Thần ở đâu mà xin chỉ giáo ? Than ôi ! Có phải người viết đang tự kiếm chuyện để uống panadol chăng ?

Còn phái gió đông thì coi bộ lấn lướt thấy rõ. Các sách Điển Hay Tích Lạ, Giai Thoại Văn Học ĐườngTự Điển Thành Ngữ Điển Tích đều chép là đông phong. Còn nữa, trong Đoạn Trường Tân Thanh cụ Tố Như cũng đã dùng điển tích hoa đào này để diễn tả nổi lòng "sầu khổ dịu dàng" (1) của chàng Kim sau khi từ Liêu Dương trở lại vườn Lãm Thuý nhưng không còn được gặp Thuý Kiều tiểu thơ nữa.

Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Vậy thì có nên suy đoán là cụ Tố Như cũng đã được xem Đề Tích với bản chép đông phong chăng ?

Sách vỡ thì như vậy. Tuy rằng phái gió đông tạm thời có vẽ đang ở thế lấy thịt đè phái gió xuân, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để kết luận là cụ Thôi đã hạ bút viết đông phong. Vậy hảy thử mổ xẻ ý nghĩa xuân phongđông phong trong bài thơ này xem sao. Đào hoa y cựu tiếu xuân phong, hoa đào nở vào đầu xuân, thì cười cợt với gió xuân nghe phải quá đi chớ ! Chắc không có bạn ta nào phản đối chớ hả ? Vậy còn hoa đào cười với làn gió đến từ hướng đông thì sao ? Để trả lời xin mời các bạn ta bỏ chút thì giờ quan sát địa dư của Trung Quốc và xem lại một số thi từ cổ. Trước tiên, ở Trung Quốc hướng gió thay đổi theo mùa. Kế đến, người Trung Quốc xưa nay vẫn có thói quen hoặc là dùng tên mùa hoặc là dùng tên hướng xuất phát để đặt tên ngọn gió. Vào mùa xuân gió thổi từ hướng đông, nên gió xuân cũng còn gọi là gió đông. Mà không phải chỉ có gió xuân mới bị đổi tên thôi đâu ! Chẳng hạn như :

Gió mùa đông còn được gọi là gió bắc. Thí dụ : Hồ mã tê bắc phong (Kinh Thi) (2)

Gió mùa thu còn được gọi là gió tây. Thí dụ : Tây phong minh tiên xuất Vị kiều (Chinh Phụ Ngâm Khúc) (3)

Gió mùa hạ còn được gọi là gió nam. Thí dụ : Nam phong khởi hề, khả dĩ giãi ngô chi dân… (Kinh Thi ?) (4)

Vì vậy mà như sư phụ năm xưa đã giãng là vì hằng năm gió đông mang mùa xuân đến nên người Trung Quốc đã gọi vị thần cai quản mùa xuân là Đông Quân. Chưa hết, cái trận gió lừng danh thổi vào lịch sử Trung Quốc vào đời Tam Quốc mà Gia Cát quân sư đã ra tay mượn đỡ mấy ngày để Châu đô đốc đốt tám mươi vạn binh Tào cũng chính là ngọn gió đông này. Xin phép các bạn ta cho người viết cà kê một chút về ngọn gió đông thiếu lập trường trung lập này.

Mùa thu năm Kiến An thứ mười ba (đời Hán Hiến Đế), Tào thừa tướng khởi năm mươi vạn đại quân nam chinh. Trước là đuổi các cụ Lưu, Quan, Trương và Gia Cát quân sư chạy vắt giò lên cần cổ, sau mới thong thả thò tay ra lượm luôn Kinh Châu, thu hết thủy lục Kinh Châu được thêm ba chục vạn, rồi nhơn tiện thậm xưng gan ruồi mỡ muỗi thêm chút nữa cho thành trăm vạn. Sẳn trớn Tào thừa tướng muốn vượt Trường Giang lấy luôn Đông Ngô, bèn lập thuỷ trại trên sông Xích Bích để luyện tập quân sĩ cho quen thuỷ chiến. 

Nhưng trừ mấy vạn thuỷ quân Kinh Châu mới thu được, đa số còn lại đều là quân lấy từ các châu Thanh, Từ, Yên, Đại ở miền bắc từ nhỏ tới lớn chưa hề biết chiếc thuyền là cái thứ gì. Cho nên mấy mươi vạn bắc quân sau khi xuống thuyền rồi thì bổng dưng có biến cố lạ lùng xảy ra. Xưa rày Tào binh kỷ luật có tiếng là nghiêm mà khi không cứ như bị ma nhập, trống lịnh ầm ầm cũng thây kệ, mạnh ai nấy cứ ôm miết cái be thuyền mà cùng nhau há miệng ra ngắm Hà Bá, để bao nhiêu thứ xà bần trong bụng mặc tình tự do nghịch chuyển phun thẳng xuống sông. Đám thầy lang trong quân lăng xăng kê ra bao nhiêu là toa thuốc thời khí nhưng rốt cuộc đều chui vô bụng tôm cá hết ráo. Tào thừa tướng rầu thúi ruột vì không biết làm gì với mấy chục vạn quân đang sanh lòng hâm mộ Hà Bá hơn thừa tuớng này. Đang tính cho người lẻn qua sông thỉnh các thầy bà Vu, Hích (5) về làm phép trừ tà, thì đột nhiên có có ẩn sĩ Giang Đông, một người một thuyền tới thẳng thuỷ trại xin vào ra mắt Tào thừa tướng. Ẩn sĩ tuổi trạc ba mươi, hình dong cổ quái, tự xưng họ Bàng, tên Sĩ Nguyên. Sau khi ca một bài thuộc lòng rất khách sạn xưng tụng công đức Tào thừa tướng cho đúng thủ tục hành chánh, rồi ẩn sĩ bèn rút trong tay áo ra một toa thuốc gia truyền tên là Liên Hườn dưng lên thừa tướng. Tào thừa tướng xem toa thuốc xong mừng còn hơn bắt được vàng (nói nào ngay vàng thì thừa tướng thiếu gì !), bèn truyền ban thưởng Bàng ẩn sĩ rất hậu, nhưng ẩn sĩ thiệt khiêm nhường thấy thương, từ tạ hết mọi lễ vật, chỉ xin thừa tướng một tờ điệp văn “Thừa Tướng Ghi Công” lận lưng, phòng sau này rủi bắc quân có sang sông thì cũng có tờ giấy che cho ấm đầu ! Rồi Bàng ẩn sĩ cáo từ trở xuống thuyền giương buồm dông lẹ.

Phần Tào thừa tướng thì lập tức theo toa hốt thuốc, lịnh truyền cho công binh ngày đêm rèn đập ra thiệt nhiều xích to khóa bự, rồi ràng buộc hết các thuyền lớn lại khiến cho dưới thuyền cũng vững vàng như trên bộ. Và bắc quân cũng tự nhiên hết bịnh há miệng nhìn Hà Bá và hăng hái luyện tập thuỷ chiến. Nhưng trong quân có mưu sĩ họ Trình đã nhắc nhở với Tào thừa tưóng là ràng khóa thuyền lại như vậy rủi bị tụi Đông Ngô đánh hỏa công thì chạy tản ra sao kịp, ắt là toàn quân có đường bị bá-bợ-khều ngay từ hiệp đầu ! Thừa tướng bèn cả cười chọc quê ông mưu sĩ dốt thiên văn địa lý rồi lên lớp giãng cho Trình mưu sĩ nghe một bài như vầy. Nếu như đã vào tiết tiểu xuân thì quả nhiên ta phải cẩn thận đề phòng, nhưng nay đang lúc tiết đông chí gió bắc thổi mạnh, thuỷ trại ta ở bờ tây bắc, còn quân địch đóng cả ở bờ nam, bọn chúng đâu có ngu đến nỗi dùng hỏa công để tự đốt thuyền mình ! Trình mưu sĩ nghe xong bèn quê độ im thin thít hết dám hó hé. Tào thừa tướng từ đó yên tâm đêm đêm ngồi ngắm trăng trên sông uống rượu, mơ tưởng đến ngày thuỷ quân đã luyện tập thuần thục, rồi đội ngũ chiến thuyền chỉnh tề ồ ạt sang sông đạp bằng Giang Tả . Trước là tức nhiên trói cổ Ngô hầu, đóng gông Châu đô đốc. Sau mới tới thẳng Nam Từ rước hai nàng Kiều đem về bắc vui hưởng tuổi già, đền bù lại cả một thời trai tráng phải xông pha trận mạc, tắm sương gội tuyết, vứt áo cắt râu.

Nhưng coi bộ người tính vẫn không qua trời tính. Tào thừa tướng đâu có ngờ rằng trong thuỷ trại quân Giang Đông lại có cái ông thường ngày ưa phe phẩy quạt lông mà có tài kêu mưa gọi gió. Bởi vậy cái ông ưa cầm quạt lông này sau khi thấy các chiến thuyền của Tào thừa tướng đã ràng khóa lại chắc chắn rồi, mới bày cái trò lập đàn Thất Tinh làm phép. Rồi sớm tối ba bận đăng đàn xõa tóc, tay cầm kiếm gổ chỉ chỏ vớ vẩn, miệng đọc mấy câu thần chú kiểu Indiana Jones (6)

Vậy mà chỉ qua ngày thứ nhì đã mời được một ngọn gió đông rất quạu tới dạo chơi sông Xích Bích luôn ba bữa ! Mới khiến Châu lang có cơ hội châm lửa lò bá-bợ-khều Xích Bích mà đốt. Thôi thì mấy trăm dặm trên bờ lẫn dưới sông lửa cháy đùng đùng, đỏ trời đỏ đất. Thương thay cả tám chục vạn Tào binh lớp bị cháy đen thui cùng số phận với chiến thuyền, lớp thì quýnh quá nhảy xuống sông rồi mới nhớ ra chưa học xong khóa bơi lội căn bản !

Tào thừa tướng được một số tướng sĩ trung thành liều chết xông pha vượt vòng khói lửa, cứu thoát được lên bờ. Rồi thừa tướng kéo tàn binh cứ nhắm hướng bắc mà quất ngựa còn bạo hơn tráng sĩ tây phong minh tiên xuất Vị kiều nữa. Dọc đường gặp không biết bao nhiêu là phục binh với truy binh. Hết bị quân Ngô rượt lại tới binh của Lưu sứ quân chận đường ăn ké ! Sau trận lửa cháy xém mặt lại tới mắc mưa dầm dề. Chạy hết một đêm một ngày mà cứ bị phục kích miết không lúc nào kiếm được một chổ yên thân để nấu cơm. Lúc về gần tới thành Nam Quận, lội qua được bãi sình, nhìn lại chỉ còn chục viên tướng với vài mươi quân kỵ, mà ngựa không yên, người không áo, đầu trần chưn đất, ai cũng đói lạnh xanh xám mặt mày, run lập cập. Tình cảnh thê thãm quả thiệt ngôn ngữ trần gian không sao tả xiết. Đến nước này mà lúc tới con đường Huê Dung hẹp tép hai ngựa đi không lọt, vừa quẹo cua thì đụng ngay cố nhơn mặt đỏ râu dài, tay cầm Thanh Long đao, ngồi trên lưng Xích Thố đang đứng giữa đường chờ đón ! Hỡi ơi ! Sao trên đời lại có cuộc tái ngộ cố nhơn absolutely wrong time, wrong place như vậy ? 

Đám tàn binh của thừa tướng vừa láng cháng thấy bóng tướng quân mặt đỏ thì ai nấy hai chưn đã mềm xèo như sáp ong gặp lửa, muốn khóc mà sợ điếng hồn đến nỗi không còn nhớ là nên khóc bằng tiếng Hẹ hay tiếng Tiều ? Thừa tướng còn biết tính sao, phải đành xuống ngựa rồi sụt sùi sáu câu kể lể ơn tình năm xưa, mục đích giục hưỡn cầu mưu. Thời may cố nhơn vốn có tánh hay mủi lòng sảng. Ngó thấy thừa tướng quá xệ, áo quần rách rưới, đầu không mão tóc rối nùi, mũi dãi lòng thòng; cầm lòng không đậu nên cố nhơn thở dài một tiếng rồi quay mặt đi chổ khác ngơ ngẩn nhìn trời.

Thừa tướng đang nỉ non ỉ ôi kể lể, thấy vậy liền cùng đám tàn binh kéo cương lôi ngựa dông lẹ. Tới lúc tướng quân mặt đỏ nhìn lại thì Tào thừa tướng cùng với đám tàn binh đã chạy khá xa rồi. Mặc dầu vẫn còn dư sức rượt kịp, nhưng nhìn thấy cái tướng chạy trối chết của thừa tướng sao mà giống y chang tráng sĩ đang lúc đau bụng (7), tướng quân mặt đỏ lại cất tiếng thở dài rất não nuột khiến tất cả quân sĩ có mặt ai nghe cũng thấy nao lòng. Rồi tướng quân quay ngựa truyền lịnh rút quân.

Vì sao đã quyết ý tha cho cố nhơn một con đường sống mà tướng quân còn thở dài ai oán vậy ? Lại phải nhắc tới cuộc cá độ giữa tướng quân mặt đỏ với quân sư quạt lông vào hai ngày trước. Trước mặt nhơn chứng là huynh trưởng Huyền Đức, tướng quân đã khẳng khái ký tên cam kết là nếu quân sư quạt lông đoán trúng Tào thừa tướng sẽ chạy qua ngõ Huê Dung thì tướng quân sẽ chờ ở đó mà túm cổ lôi về cho quân sư vặt râu trị tội. Ai thua thì phải chung cái đầu ! Mà bây giờ chẳng những Tào thừa tướng cũng không mà cả tù binh và chiến lợi phẩm cũng không luôn, điệu này trở về tướng quân cầm chắc là phải hai tay ôm đầu đưa cho quân sư quạt lông rồi. Hỏi sao tiếng thở dài của tướng quân không xao xuyến lòng người cho được ? Nhưng thực tế lúc trở về tướng quân có phải chung cái đầu của mình cho quân sư quạt lông hay không xin mời các bạn ta tìm đọc Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, hồi thứ năm mươi mốt sẽ rõ.

Theo chánh sử Trung Quốc chép thì Tào thừa tướng cuối cùng sống sót trở về tới Hứa Đô. Nhưng theo truyền thuyết Hậu Xích Bích mà người viết có lần nằm mơ được nghe kể thì Tết Nguyên Đán năm đó, sáng sớm mùng một thừa tướng lên triều cùng bá quan văn võ chúc thọ vua Hiến Đế xong, trong lòng vẫn còn buồn bực chuyện thua trận Xích Bích nên lui về Nghiệp Quận, lên Đồng Tước đài (8) uống rượu thanh mai cho đỡ sầu đời. Nhưng chưa uống còn đỡ, uống vào rồi thì sầu càng sầu. Tám chục vạn đại quân chỉ còn vài chục lính kỵ, thiệt là thua cháy túi. Nhưng đối với một người trong tay nắm đại quyền nghiêng thiên hạ như thừa tướng thì thua cỡ vậy cũng chỉ là chuyện nhỏ, không đem được hai mỹ nhơn Giang Đông về đây hú hí tuổi già mới thiệt là chuyện lớn ! Ngó qua hai lầu Ngọc Long, Kim Phượng thấy vắng tanh. Hỡi ôi mắt phượng với mắt bồ câu của nhị Kiều Giang Đông giờ đây hà khứ xứ ? Để thừa tướng ngày đầu năm phải ngồi uống rượu trên lầu Đồng Tước mà ngắm mấy chục cặp mắt hí sơn xanh sơn đỏ của mấy con nhỏ gái bắc xí xọn, khiến đang uống rượu mơ xanh mà cũng bị mắc nghẹn. Đã vậy ngó xuống vườn còn phải thấy cái cảnh đám hoa đào cười cợt gió đông khiến thừa tướng vốn đang muốn quên mà lại phải nhớ tới cái ngọn gió đông phản nghịch thà giúp hai nhà Tôn, Lưu chớ không chịu giúp họ Tào. 

Càng nhớ càng sôi máu (dê), thừa tướng bèn truyền hết thảy tướng sĩ thuộc Lữ Đoàn Phòng Vệ Đồng Tước Đài tập họp trước lầu rồi bắt loa đồng loạt lôi ngũ đại nhà Đông Quân ra mà chửi ! Hể thừa tướng chửi trước một câu thì tướng sĩ cứ đồng thanh lặp lại. Thôi thì ông cố nhà ngươi chăn trâu, ông nội nhà ngươi ở đợ, ông già tía nhà ngươi gánh nước, còn nhà ngươi suốt đời làm ăn mày, con cháu nhà ngươì đời đời … thất nghiệp ! Mùa xuân năm đó Tào thừa tướng đã (rất om xòm) chúc Đông Quân vạn câu chúc dữ, thiệt là cổ kim đệ nhứt tuyệt (9) !

Cà kê chuyện đông phong Tam Quốc bao nhiêu đó kể cũng đã dư, xin trở lại chuyện gió đông gió xuân của cụ Thôi. Như vậy sau khi mài dao cho bén để mổ xẻ ý nghĩa xuân phong với đông phong thì thấy là cả hai đều có chổ đứng vừa vững chắc vừa đẹp mắt trong bài thơ hoa đào của cụ Thôi, nên coi bộ rồi cũng huề cả làng ! Có cần xét tới vần luật chăng ? Chắc khỏi luôn ! Xưa nay chưa hề có ai than phiền là chữ đông hay chữ xuân là thất luật cả. Nhưng có một điều chắc chắn là cụ Thôi chỉ hạ bút viết một trong hai chữ này mà thôi (10). Nên cái chứng cớ cụ thể duy nhứt mà đời nay người ta có thể may ra còn tìm được, theo thiển ý của người viết, thì chính là cái cánh cổng bên tả của Đào Hoa gia trang như tác giả họ Lê đã đoan chắc. Hảy hy vọng cánh cổng này làm bằng gổ lim cứng như sắt, chẳng có mối mọt nào gặm nổi và cho dù nắng mưa cả ngàn năm cũng không hề xuy xuyển. Ít ra là người viết được biết thời xưa người Trung Quốc không có cảm tình với cổng nhà làm bằng gổ tòng gổ bách. Nếu vậy thì ta có quyền hy vọng là có một gia tộc nào đó ở Trung Quốc, thuộc loại cha truyền con nối mê đồ cổ và ưa sưu tầm thủ bút của các danh sĩ, hiện đang cất giử cánh cổng này. Nhưng họ đang dấu biệt, sợ tiết lộ ra ngoài nhà nước hay được sẽ tịch thâu đem vô chưng trong Viện Bão Tàng. Vì vậy đến nay vẫn chưa có ai biết được tông tích của cánh cổng này. Không biết các bạn ta có ai cười người viết đang mở mắt nằm mơ hay không ? Nhưng người viết thì thiệt tình hy vọng như vậy. Có người đời nay đã than rằng :

Năm xưa ai dấu cổng này ?

Khiến nay hậu thế tìm hoài hổng ra !

 

Tóm lại, cái nghi vấn văn học xuân phong với đông phong này chắc còn tồn tại dài dài. Ai đang nuôi hy vọng có ngày người ta sẽ tìm được cánh cổng bên tả, người viết xin mời ai đó gia nhập Câu-Lạc-Bộ của Những Người Đang Đi Tìm Cái Cổng (The Club of People Searching For The Left Gate) và người viết xin cầu chúc hy vọng của ai đó có ngày biến thành sự thiệt. Nhưng trong khi vẫn chưa kiếm được bằng chứng cụ thể nào thì tiếu xuân phong hay tiếu đông phong tức nhiên hoàn toàn tùy ý mỗi người.

Đã kể đủ thứ chuyện bên lề về bài thơ hoa đào rồi mà không nhắc tới tác giả của nó thì thiệt là một thiếu sót lớn. Người viết xin mạn phép có đôi dòng về cụ Thôi.

Cụ họ Thôi, huý Hộ, tự Ân Công, quê ở Bác Lăng, Kinh Châu, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, là một danh sĩ đời Đường. Về năm sanh và tử của cụ, các sách vẫn chưa thống nhứt, càng tham khảo càng muốn điên ! Chẳng hạn như có sách ghi là cụ sanh năm 618, mất năm 907, phần phụ lục không thấy ghi đính chánh gì hết ráo, tức là nói cụ sống thọ 289 tuổi !. Tuy nhiên, căn cứ vào chi tiết cụ thi đậu tấn-sĩ năm Trinh-Nguyên, nhiều sách suy đoán có lẽ cụ sống vào thời trung Đường (766 – 836).

Không biết bình sanh cụ đã sáng tác bao nhiêu thơ văn, nhưng truyền lại đời sau chỉ duy nhứt một bài thất ngôn tuyệt cú. Cũng tương tự như trường hợp cụ Trương Kế với độc nhất một bài Phong Kiều Dạ Bạc, bài Đề Tích Sở Kiến Xứ của cụ Thôi đã mê hoặc bao nhiêu khách yêu thơ Đường khắp Đại Giang nam bắc, trãi suốt một chiều dài lịch sử mười hai thế kỷ. Và ngày nào còn có người thắp đèn đọc Đường thi thì bài thơ hoa đào của cụ vẫn còn tiếp tục mê hoặc thiên hạ dài dài. Cụ nổi tiếng không những vì bài thơ hoa đào mà còn do câu chuyện tình cực kỳ lãng mạn thần tiên cổ tích của cụ. Tương truyền chàng thơ sanh Thôi Hộ năm xưa vốn là một mỹ mạo nam tử, tánh tình quả hợp, ít đi lại giao thiệp với ai. Năm đó Thôi thơ sanh rời quê hương Bác Lăng về kinh đô Trường An chuẩn bị luyện thi tấn-sĩ. Một ngày thanh minh trời đẹp, Thôi thơ sanh du xuân ở phía nam kinh thành, vui chưn đi hơi xa, tới trưa khát nước mới nhìn quanh thì bắt gặp một gia trang có trồng rất nhiều đào, bèn tới gỏ cổng xin nước uống. Và chuyện tình hoa đào từ đó phát sanh khiến Thôi thơ sanh phải thay đổi chương trình làm ngay tiểu đăng khoa trước, còn đại đăng khoa tính sau.

Về sau cụ thi đậu tấn-sĩ, xuất chánh làm quan tới chức tiết-độ-sứ (cỡ tương đương thống đốc tiểu bang đời nay) ở đất Lãnh-Nam. Xin nói thêm ở đây là đất Lãnh-Nam đời Đường nằm về phía bắc Lục Châu (Quảng Yên, Lạng Sơn). Như vậy ông bà ta thời đó có lẽ sanh sống ở ngoài vùng cai trị của quan phụ mẫu họ Thôi (?).

Một chi tiết nữa người viết thấy cũng cần nhắc đến là các thi nhơn đời Đường mang họ Thôi mà sách vỡ còn ghi thì tất cả có năm cụ, trong đó có cụ Thôi Hiệu. Nhiều người tưởng lầm cụ Thôi Hộ với Thôi Hiệu chính là một. Thiệt ra không phải vậy, cụ Thôi Hiệu (còn gọi là Thôi Hạo) là một người khác.

Cụ Thôi Hiệu người Biện Châu, nay thuộc tỉnh Hà Nam, sanh năm nào không rõ, mất năm 754, sống vào thời thịnh Đường (713 – 765). Cụ thi đậu tấn-sĩ năm Khai-Nguyên thứ 13 đời vua Đường Huyền Tôn, xuất chánh làm quan đến chức Tư huân viên ngoại lang (người viết hoàn toàn không biết đó là chức gì và tương đương với chức gì đời nay). Cụ để lại nhiều bài thơ rất nổi tiếng, trong đó có bài Hoàng Hạc Lâu mà các sư huynh đã đem ra ngâm vịnh trên trang web GĐNN. Sau này nếu có dịp, người viết sẽ trở lại chuyện cụ Thôi Hiệu với Hoàng Hạc Lâu.

Đọc đến đây chắc thế nào cũng có huynh đệ tỉ muội sẽ nổi sảy ngứa ngáy muốn hỏi ngay người viết một câu giống như phu nhơn người viết vừa hỏi rằng: “Gió xuân thì sao ? Gió đông thì sao ? Gió nào chẳng gió ? Mắc chi tướng công mất thời giờ làm chuyện tầm phào ?".

Hỏi thiệt hay ! Và nói thiệt nghe, phu nhơn vừa hạ người viết knockout vì thiệt tình người viết bí trâng không biết trả lời làm sao hết ! Bèn xin chấm hết như vầy :

Gió xuân với lại gió đông ?

Gió nào chẳng gió, tướng công tầm phào !

Phu nhơn khoan quạu đi nào !

Để tui chấm hết, kính chào bạn ta.

 

Chú thích:

(1) Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng. Thơ của nhà thơ quá cố Nguyễn Tất Nhiên. Nhắn riêng của người viết : Có sư huynh đệ tỉ muội nào biết được thiệt ra cái gì là sầu khổ dịu dàng xin liên lạc người viết qua địa chỉ i-meo. Người viết tha thiết mong được chỉ giáo.

(2) Vào mùa đông ngựa Hồ (ở phương bắc) cất tiếng hí vang khi gió bắc thổi đến.

(3) Bản Nôm của Cụ Đoàn Thị Điểm dịch là Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu (tây phong = gió thu).

(4) Tác giả có lẽ là vua Thuấn, xin tạm dịch là Gió nam thổi đến có thể giãi cơn nóng bức của dân ta.

(5) Vu là bà bóng, Hích là ông đồng. Dịch vụ Vu, Hích đã trăm hoa đua nở ở đất Ngô, Việt (nay là Giang Đông) từ thời Chiến Quốc.

(6) Muốn biết Indy đã đọc thần chú như thế nào, xin mời các bạn ta xem lại phim The Temple of Doom.

(7) Tương đương với thành ngữ Tào Tháo rượt nhưng tuyệt đối không thể dùng thành ngữ này để diễn tả trường hợp của Tào thừa tướng.

(8) Sau khi tận diệt nhà họ Viên, Tào thừa tướng cho trú quân ở thành Ký Châu. Một đêm xem thiên văn thấy phía đông có luồng kim quang từ dưới đất bốc lên, liền cho người đến chổ có luồng sáng đào lên thì bắt được một con chim sẻ bằng đồng (đồng tước). Mưu sĩ Tuân Văn Nhược bàn là điềm tốt nên Tào thừa tướng truyền lịnh cho xây một kiến trúc nhiều tầng rất tráng lệ bên bờ Chương Hà làm nơi nghĩ mát. Đài gồm ba tòa : tòa giữa đặt tên là Đồng Tước, tòa bên tả là Ngọc Long, bên hữu là Kim Phượng. Rồi xây hai cái cầu vồng bắc ngang trên không nối hai tòa bên vào tòa giữa. Thừa tướng có năm con trai, tứ công tử là Tào Tử Kiện rất mực thông minh mẫn tuệ, văn tài trác lạc, thường ngày rất được thừa tướng yêu mến. Sau khi đài xây xong, Tào tứ công tử có làm một bài phú ca tụng Đồng Tước đài đáng được kể là một áng văn chương kiệt tác.

(9) Xin đừng quên Tào thừa tướng từng xuất thân Hiếu Liêm, văn tài cũng rất lừng lẩy thời bấy giờ. Nên có thể suy đoán là một vạn câu chửi của thừa tướng, dù chỉ dùng để chửi, cũng là một kiệt tác.

(10) Ai mà tin là cụ Thôi đã viết cả hai chữ thì thiệt là không biết thưởng thức tài hoa của cụ vậy !

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Lệ Thần Trần Trọng Kim, Đường Thi, NXB Tân Việt in lần thứ hai, 1974.

  2. Lệ Thần Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, NXB Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục, in lần thứ nhứt, 1971

  3. Trần Trọng San, Thơ Đường, Tủ Sách ĐHTH TPHCM, 1990.

  4. Nguyễn Tử Quang, Điển Hay Tích Lạ, Nhà Sách Khai Trí xuất bản, 1974.

  5. Lê Văn Đình, Giai Thoại Văn Học Đường, NXB Thanh Hóa, 1997.

  6. Diên Hương, Tự Điển Thành Ngữ Điển Tích, Nhà Sách Khai Trí xuất bản, in lần thứ tư, 1969.