Giai Thoại

  Ba Que Xỏ Lá

Trong thời Pháp thuộc, có một bọn người chuyên tổ chức những "tṛ chơi có thưởng". Tṛ chơi của bọn họ gồm một cái que và ba chiếc lá. Mỗi lá có đính một chiếc ṿng nhỏ ở cuống. Người chơi cầm cái que nhỏ xỏ vào ba ṿng nàỵ Mỗi người chỉ được xỏ một lần. Người nào xỏ vào được một lúc cả ba lá và nhấc được chúng lên th́ được lĩnh thưởng. Ai xỏ trật, tức xỏ không vào lá nào hoặc chỉ vào một trong ba lá, sẽ mất toi số tiền đặt cược[1].
Cũng liên quan tới tṛ chơi này, có người kể lại cách thức chơi của bọn chủ tṛ có khác chút ít. Chúng thường dùng ba que nhỏ, trong đó chỉ có một que xỏ vào chiếc lá rồi ch́a cho mọi người xem. Chúng tuyên bố rằng nếu ai rút trúng que có chiếc lá khi chúng nắm tay lại th́ người đó trúng thưởng. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đặt cược [1] trước. Dù chơi theo cách thức nào đi nữa, th́ bọn chủ tṛ vẫn có nhiều mưu mẹo, khiến cho người chơi bao giờ cũng thua cuộc. V́ thế, người ta mới gọi bọn chủ tṛ là bọn "ba que xỏ lá" với hàm ư là bọn bịp bợm, lừa đảo, dối trá. Từ cách thức chơi thứ nhất, nhiều người cho rằng h́nh thức ban đầu của "ba que xỏ lá" là "xỏ lá ba que"[2].

Sở dĩ có sự thay đổi này là do việc đọc chệch cho thuận miệng, dễ đọc, dễ nhớ.

Thành ngữ "ba que xỏ lá" dần dần được mở rộng phạm vi xử dụng. Nó được dùng để chỉ tất cả những hạng người lừa lọc, bịp bợm, đểu cáng

Bá Nha Tử Kỳ
Bá Nha đời Xuân Thu là một người có tài đàn. Chung Tử Kỳ là người biết thưởng thức âm nhạc. Khi Bá Nha ngồi gảy đàn, bụng nghĩ đến núi, th́ Chung Tử Kỳ khen: "Tiếng đàn chót vót như núi cao". Lúc Bá Nha đánh đàn, ḷng nghĩ về sông nước, th́ Chung Tử Kỳ nói: "Tiếng đàn cuồn cuộn như nước chảỵ"

Sau khi Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha đập vỡ đàn, bảo rằng: "Trong thiên hạ không ai c̣n được nghe tiếng đàn của ta nữa".

Bá Nha Tử Kỳ, ư nói một t́nh bạn hữu thắm thiết.

         Bát Trân
Bát Trân ư nói là những món ăn ngon.

Ngày xưa, có 8 món ăn được liệt vào hạng ngon nhất, nấu công phu và rất bổ dưỡng, chỉ có vua chúa mới có dịp ăn, ấy là:

+ Nem Công: Thịt công ăn bổ, giải trừ thứ độc trong ngườị Khi làm, người ta phải cẩn thận cắt mật vất đi, v́ mật công rất độc.

+ Chả Phượng: Giống chim này sống ở núi cao, rất khó bắt. Con trống gọi là Phụng, con mái là Hoàng. Người xưa tin rằng khi nào chim phụng xuất hiện là điềm thánh nhân ra đờị

+ Da Tây Ngu: Tây Ngu c̣n gọi là Tê Ngưu (Tê Giác), một giống heo rừng lớn, chân có ba móng, đầu có ba sừng. Nó có h́nh dạng xấu xí, chỉ ăn cây rừng. Da Tây Ngu dày dao đâm không thủng, chỉ trừ da ở nách là mỏng, người ta lấy da này ngâm vào nước rồi nấu ăn.

+
Tay Gấu: Gấu có sức mạnh tập trung vào hai chân trước (tay)

+ Gân Nai: Gân nai nửa dẻo nửa gịn, ăn tráng dương bổ thận.

+ Môi Đười Ươi: Đười Ươi là giống khỉ lớn thích đùa giỡn, khi vui phát ra tiếng như cười nức nẻ

+ Thịt Chân Voi: Voi tuy lớn, nhưng chính giữa bàn chân voi lại có một lớp thịt gân rất mềm.

+ Yến Sào: Yến ăn rau câu bọt bẻ, pha trộn với nước miếng, chế thành một chất nhựa trong, nhiễu ra thành sợi để dệt tổ áp dính vào tường. Tổ yến làm rất công phu, ngon và bổ.

Bạch Diện Thư Sinh

Đời nhà Tống, ở vùng Vũ Khang thuộc Ngô Quận, có 1 người tên là Trầm Khánh Chi, từ nhỏ đă ôm chí lớn, lại có sức mạnh và giỏi về bài binh bố trận.

Niên hiệu Nguyên gia thứ 27, Tống Văn đế muốn mở mang bờ cơi về phương Bắc, sai nhóm Vương Huyền Mô đem quân Bắc phạt. Trầm Khánh Chi hết lời can ngăn, lại đưa ra trường hợp của nhiều vị vua trước, đă nhiều lần Bắc phạt nhưng đều thất bạị Tống Văn đế liền cử 2 vị quan văn ra tranh luận với Trầm Khánh Chị Trầm Khánh Chi nói :

- Giữ việc nước, cũng như lo việc nhà vậỵ Muốn bàn luận về việc cày ruộng th́ phải bàn luận với 1 nông phu nhiều kinh nghiệm. Muốn bàn luận về việc canh cửi th́ phải bàn luận với người đàn bà dệt vảị Nay Bệ hạ muốn mở chiến tranh với nước khác, mà lại để những người bạch diện thư sinh không 1 chút kinh nghiệm về quân sự đứng ra bàn luận, th́ làm sao mà thành công được.

Tống Văn đế không nghe lời Trầm Khánh Chi, cứ cho đem quân đánh phương Bắc, và quả nhiên bại trận nặng nề.

Từ câu nói của Trầm Khánh Chi mà người đời sau rút ra thành ngữ "Bạch diện thư sinh" để chỉ người trẻ tuổi, chỉ có cái học sách vở, không có kinh nghiệm ǵ và không biết đối phó với thực tế ngoài đờị

Châu Sa
Châu sa có nghĩa là nước mắt rơị

Tục truyền rằng đời xưa có một loại người gọi là Giao Nhân, ở dưới biển Nam Hải lên buôn bán với con ngườị Đến cuối năm th́ họ phải trở về Thủy Cung. Lúc chia tay loài người, họ quyến luyến nhỏ lệ. Lạ lùng thay, nước mắt họ lúc

Châu Về Hợp Phố
"Châu về Hợp (hiệp) Phố" ư nói trùng phùng gặp gỡ, đoàn tụ lạị

Hợp Phố xưa thuộc tỉnh Giao Châu, nay là Quảng Đông. Vào thời Bắc thuộc, miền bể ấy có rất nhiều ngọc châu (ngọc trai). Các quan Tàu cứ bắt dân phải đi ṃ và nộp cống. Các ngọc châu v́ vậy bỏ đi nơi khác.

Về sau có một người tên là Mạnh Thường về làm quan. Mạnh Thường thanh liêm và thương dân nghèọ Những ngọc châu tự nhiên lại trở về Hợp Phố.

 
Chim Chắp Cánh, Cây Liền Cành
"Chim chắp cánh, cây liền cành", ư nói đẹp duyên, hai người yêu nhau được lấy nhaụ

Trong Trường Hận Ca, ngày xưa vua Đường Huyền Tông và Dương Quư Phi yêu nhau, nói với nhau rằng:

"Tại thiên nguyện tác thị đực điểu,
Tại địa nguyện vi liên lư chi"
(Ở trên trời th́ làm con chim liền cánh. Ở dưới đất th́ làm cành cây liền thớ)

Chim Sa Cá Lặn

Ngày nay, mọi người đều hiểu thành ngữ này là một cách nói ngoa dụ để chỉ người đàn bà rất đẹp, giống như cách hiểu thành ngữ "hoa hờn nguyệt thẹn", tức đẹp tới mức hoa phải hờn v́ kém sắc, trăng phải thẹn v́ kém tươị Nhưng thật ra ư nghĩa ban đầu của thành ngữ này không phải vậỵ

Trang Chu, hay thường gọi là Trang Tử, người đời Chiến Quốc học thức rất uyên bác, không môn ǵ không biết. Trong sách "Nam Hoa Kinh", ông chép rằng: Mao Tường và Lệ Cơ là hai người đàn bà đẹp, cá thấy: ch́m vào chốn hang sâu, chim thấy: bay cao (ngư kiến chi nhập thâm, điểu kiến chi cao phi). Ư Trang Chu muốn nói rằng mọi sự trên đời đều là tương đối, Mao Tường, Lệ Cơ tuy đẹp, song chỉ đẹp đối với người, chứ biết đâu trông thấy họ, cá chẳng sợ mà lặn sâu, chim chẳng sợ mà bay cao ?

Người sau hiểu khác hẳn nguyên ư ấy của Trang Chụ Sách "Thông Tục Biên" dùng thành ngữ "trầm ngư lạc nhạn" tức "chim rơi cá ch́m" để chỉ nhan sắc người đàn bà cực đẹ.p.

Chim Xanh

Ngày xưa Hán Vũ Đế đang dạo chơi trong vườn thượng uyển, bỗng có hai con chim xanh bay đến. Đông Phương Sóc tâu rằng: Đấy là sứ giả nước Tây Vương Mẫu đem tin đi trước. Được một lát th́ Tây Vương Mẫu đến thật.

Chim Xanh ư nói là kẻ đưa tin.

Công Dă Tràng

Công dă tràng, ư nói có gắng công cũng vô ích.

Tục truyền có chàng thợ săn tên Dă Tràng, một ngày kia nh́n thấy một cặp rắn. Khi con rắn cái lột da th́ rắn đực đi t́m đồ ăn mang về chọ Nhưng khi rắn đực lột da th́ rắn cái bèn ḅ đi t́m rắn đực khác. Dă Tràng bất b́nh bèn bắn chết rắn cáị Rắn đực đi t́m vợ, gặp Dă Tràng mới hiểu ra vợ ḿnh xấu xạ Rắn đực bèn trả ơn Dă Tràng bằng một viên ngọc lạ, mỗi lần Dă Tràng ngậm viên ngọc này th́ có thể nghe và hiểu được tiếng nói của loài vật.

Tin viên ngọc lạ có thể cho cho con người hiểu ngôn ngữ loài vật bay đến tai vuạ Vua cho đ̣i Dă Tràng tới, mượn viên ngọc của chàng và ban thưởng nhiều của cảị

Một hôm vua xuống thuyền, ngậm viên ngọc, nghe được các loại cá mực hát rất haỵ Vua bật cười, viên ngọc bị rơi xuống biển.

Dă Tràng tiếc viên ngọc, ngày đem ngụp lặn t́m kiếm, kiệt sức chết đị Dă Tràng biến thành một loài cua bể ngày đêm tha cát lấp biển để t́m lại viên ngọc đă mất.

Dă Tràng tha cát lấp bể, sóng biển lại đánh vàọ Cho nên trong dân gian Việt
Nam có câu:

"Dă Tràng xe cát biển đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán ǵ"

Công Tử Bạc Liêu

Tục truyền rằng người giàu nhất Bạc Liêu ngày xưa là ông Hội đồng Trạch, vốn là thư kư làng.

Hội đồng Trạch có cả chục ngàn mẫu ruộng. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu bấy giờ có 13 lô ruộng th́ hết 11 lô là của ông Trạch. Ông có 3 con trai và 4 con gáị

Trong số 3 người con trai của ông Trạch có cậu ba Trần Trinh Huy là ăn chơi phung phí hơn hết.

Mỗi lần đi xem ruộng, cậu ba Huy mướn máy bay nhẹ có phi công người Pháp chở. Mỗi lần đi đ̣i nợ, cậu đi một chiếc xe khác. Có lần cậu đi hóng gió, dùng cả chục chiếc xe kéo, mỗi chiếc chở một món đồ của cậu như cái mũ, cây can ... Người ta c̣n kể nhiều truyền thuyết về cuộc sống đào hoa, phóng khoáng của cậu ba Huy nữa ...

Ngôi nhà của công tử Bạc Liêu nay trở thành bảo tàng tỉnh Minh Hảị

Ngày nay người dùng thuật ngữ "Công tử Bạc Liêu" để ám chỉ người ăn sung mặc sướng, không phải làm lụng cực nhọc.

Dây Tơ Hồng

Điển tích Tơ Hồng do chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi trăng, bắt gặp một ông già đang ngồi xe các sợi dây đỏ. Hỏi ra th́ ông ta nói ông là Nguyệt Lăo, chuyên coi việc xe duyên vợ chồng nhân gian. Ông nói "ta buộc dây tơ này vào chân người nào th́ dù thế nào cũng phải lấy nhau". Vi Cố bèn hỏi sau này ông sẽ lấy ai, Nguyệt lăo nói Vi Cố sẽ lấy một cô gái hàng rau rách rưới bẩn thỉụ Vi Cố giận lắm toan giết cô gái, nhưng rồi cuối cùng hai người cũng lấy nhaụ

Người Việt Nam tin t́nh duyên do tiền định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi th́ phải tạ ơn ông Nguyệt Lăo và cầu mong dây tơ hồng được cột chặt bền lâu

Đẩu Ngọc Xích Bố

"Đẩu ngọc xích bố" có nghĩa là một đấu lúa, một thước vảị
Ngày xưa Cao Tổ có hai đứa con Hán Văn Đế và Hoài Nam Vương. Hoài Nam Vương không tuân theo phép nước nên bị Hán Văn Đế đày sang đất Thục. Hoài Nam Vương uất ức nhịn đói mà chết.

Người đương thời mới đặt câu ca dao: "Nhất xích bố thương khả phùng, nhất đấu tất thương khả thung, huynh đệ nhi nhân bất tương dung", có nghĩa là một tấc vải cũng có thể may áo mặc chung, một đấu gạo cũng có thể chia nhau ăn chung, hai anh em sao lại không dung tha nhau được?.

Điển Tích Truyện Kiều - Ả Lư

Dâng thư đă thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lư bán ḿnh hay sao ?

Sách "Sưu Thần kư" có chuyện nàng Lư Kư:

Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung đất Đông Việt., trong một cái hang sâu có con rắn khổng lồ; dân chúng trong vùng rất kinh hăi, gọi là thần rắn. Hàng năm phải cung cho thần rắn một người con gái đồng trinh th́ dân mới yên ổn làm ăn. Nhưng dần cũng hết, t́m đâu ra con gái.

Bấy giờ ở huyện Tương Lạc, có nàng Lư Kư, nhà nghèo xơ xác, cả cha mẹ đều bệnh năng không tiền thuốc thang. Nàng Lư đă trốn cha mẹ, đến cửa quan tự nguyện bán ḿnh nộp mạng cho rắn, rồi nhờ chuyển tiền về cho cha mẹ.

Nàng xin quan lệnh ban cho một cây gươm bén và một con chó dữ. Vào bên trong hang, nàng thả chó dữ ra chiến đấu với rắn, và dùng gươm chém rắn từng khúc.

Dư Thiện là cháu lâu đời của Việt Câu Tiễn được Hán Vũ Đế phong vương ở đất Đông Việt. Biết được chuyện người con gái hiếu thảo, can trường, Đông Việt vương đă đón ả Lư về làm vợ.

Điển Tích Truyện Kiều - Ả Tạ

Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này.

Ả Tạ là Tạ Đào Uẩn, con gái quan Thái úy Tạ Công đời nhà Tấn, có nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nhất mực. thơ phú hay lừng tiếng.

Trong cùng một vùng, có họ Vương cũng ḍng giỏi gia phong, con cháu cũng thuộc vào bậc vọng tộc. Họ Tạ và họ Vương bắt thông gia với nhau, con trai con gái hai họ chỉ kết duyên vói nhau, không lấy người ngoài họ.

Khi Tạ Đào Uẩn đến tuổi cập kê, Tào Công nhờ em la Tạ An sang hà họ Vương kén rể. Được tin, tất cả nho sinh nhà họ Vương người nào cũng áo quần tươm tất, ăn nói đoan trang, muốn phô diễn ḿnh là bậc tài hoa thế phiệt. Tạ An hồi giờ để ư từng người nhưng chưa để mắt người đàn ông nào. Một hôm, Tạ An qui tụ các nho sinh họ Vương lại để thử tài đối đáp văn chương. Mọi người đang thi thố tài năng th́ Tạ An nh́n thấy về phía đông, một chàng trai tuấn tú, mặc áo để trật bụng ra ngoài, đang nằm vắt vẻo chân chữ ngũ trên giường. Tạ An hỏi ḍ:

- Công tử nằm ở giường phía đông tên là ǵ vậy?

- Chàng tên là Vương Ngưng Chi, tự Vương Hưu Quân có tiếng ham học, thông minh.

Tạ An ưng ư, về báo với Tạ Công. Quan Thái úy vỗ tay:

- Người đó mới là rể tốt của ta đó.

Vài hôm sau, Tạ Công gọi Vương Ngưng Chi đến, gả nàng Tạ Đào Uẩn. Chàng trai lơ đăng chuyện kết duyên rước nàng dâu tài sắc về rồi, thuờng ngày hay ra bờ sông Lan Chữ (tỉnh Triét Giang) ngâm vịnh, viết thư pháp, nét chữ tuyệt đẹp, người đời sau gọi là Thiếp Lan Đ́nh. Trong Kiều c̣n có câu:

Khen rằng bút pháp đă tinh
So vào với Thiếp Lan Đ́nh nào thua.

Chàng trai tuấn tú thông minh nằm vắt chân chữ ngũ trên giường phiá đông (đông sàng) mà lại được vợ đẹp. Người đời sau dùng điển tích Đông sàng là ư muốn nói chàng rể quí, xứng đôi với gái thuyền quyên.

Điển Tích Truyện Kiều - Ba Đào
Gặp cơn b́nh địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.

Các văn nhân xưa có câu đối:
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách.
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

Gió mưa không có then khóa mà giữ được khách.
Nhan sắc không phải sóng lớn mà d́m chết người.

Điển tích "Ba đào"- sóng lớn - trong sách Dị Văn lục: Triều Huệ Đế đời nhà Minh, tại huyện Tề Hàng, tỉnh Sơn Nam, có hai vợ chồng Trần Hoá Chiêu, Lương Tiểu Ngạ Tiểu Nga là con một gia đ́nh thúc nho lễ giáo, nổi tiếng là một trang quốc sắc thiên hương; thuở nhỏ được cha mẹ cho theo đ̣i bút nghiên, mười hai tuổi đă biết làm thơ phú, đọc thông các sách thánh hiền. Hoá Chiêu là học tṛ của cha Tiểu Nga; cậu học tṛ nghèo, mồ côi cha, thông minh, ham học, mặt mày khôi ngô, được thầy thương, gả con gái và cho ở rể. Sống chung với nhau được ba năm, th́ bố mẹ vơ, lần lượt qua đời, để lại cho vợ chồng một căn phố và ít vốn liéng để mở một tiệm tạp hóa.

Đời sống cũng được êm đềm. Trong vùng, các văn nhân thỉnh thoảng đến mua hàng và cùng vợ chồng Trần Hóa Chiêu xướng họa ngâm thơ. Cũng không ít khách lai văng thường xuyên đến đó vờ vĩnh mua hàng, để được dịp chiêm ngưỡng dung nhan Tiểu Nga; có phú hộ Trát Hiếu Sắc cũng thuộc loại khách này.

Nhưng không như những mối t́nh câm kia, đến nh́n để rồi thầm yêu trộm nhớ, Hiiếu Sắc đă manh tâm chiếm hữu người đàn ba này cho được. Phú hộ t́m hiểu, biết vợ chồng v́ ham thích thơ văn , nên buông lỏng chuyện mua bán, vốn liếng cụt dần. Phú hộ ra tay hào hiệp, cho mượn vàng bạc để gầy dựng lại. Ngại ngùng lần đầu, nhưng rồi tiếp những lần sau, Hoá Chiêu cầm vàng bạc mượn đi buôn bán xa, chuyến nào cũng lời khẫm. Lần nào, vợ chồng cũng nài nỉ hoàn lại vốn và trả lời, nhưng Hiếu Săc đều từ chối lấy lăi.

Cứ vậy, hai năm họ trở thành bạn thâm giao. Hiếu Sắc luôn tỏ ra ḿnh là người đàng hoàng, nghiêm túc, không bao giờ đến nhà bạn trong lúc vắng mặt Hoá Chiêu; những lúc tiếp chuyện với Lương Tiểu Nga, luôn luôn giữ thái độ đứng đắn. Vợ chồng Hoá Chiêu vui mừng có được người bạn hiền, hào phóng. Khi tự xét lư lịch "nằm vùng" của ḿnh đă đến lúc kết nạp được, Hiếu Sắc đề nghị chung vốn làm ăn lớn. Vợ chồng Hóa Chiêu hoàn toàn tin tưởng, hớn hở nhận lời ngay.

Việc buôn bán phất lên nhanh, nhưng Hiếu Sắc vẫn cương quyết không bao giờ nhận chia lăi, nại lư do để giúp vợ chồng bạn.

Một lần, Hiếu Sắc bàn với Hóa Chiêu phải đi buôn một chuyến lớn ở Hàng Châu xa xôi và thuê thuyền xong, cả hai cùng lên đường. Ṛng ră cả tháng trời thuyền mới đến Hàng Châu vào một đêm trăng thanh gió mát. Hai người đem rượu ra mũi thuyền đối ẩm tâm sự Hoá Chiêu, t́nh thật, ngâm một câu thơ, lại ngậm một chén rượu ; Hiếu Sắc th́ cứ làm động tác giả, hắt rượu qua vai. Quá nửa đêm, Hoá Chiêu rụng, người mềm nhũn. Lúc bấy giờđám gia nhân dưới thuyền cũng đă ngủ saỵ Hiếu Sắc lôi Hóa Chiêu, xô xuống sông. Đôi ba lần Hoá Chiêu ngoai ngóp trồi đầu lên, Hiếu Sắc lại dùng sào d́m xuống cho đến khi mặt nước không c̣n sủi bọt nữa.

Không cần phải buôn bán chi, Hiếu Sắc cho thuyền quay về Tề Hàng ngay. Mẹ Hoá Chiêu và Tiểu Nga đau ḷng với nỗi bất hạnh, nhưng vần cảm kích Hiếu Sắc đă bỏ cả chuyến hàng lớn để vội vàng trở về báo hung tin.

Rồi sau đó, đều đều, Hiếu Sắc lui tới thăm viếng và cấp dưỡng cho mẹ Hoá Chiêu và cô vợ góa trẻ. Và lần nào nước mắt phú hộ hào phóng cũng đầm đ́a.

Người đời càng nể trọng hơn khi thấy Hiếu Sắc ân cần chăm sóc mẹ của Hoá Chiêu chu đáo hơn vợ bạn, khiến mẹ già cũng có phần đăm chiêu\

Ba năm sau, măn tang. Hiếu Sắc cho người đến thưa chuyện với mẹ Hóa Chiêu xin cưới Tiểu Nga lam vợ. Bà mẹ đă đăm chiêu nhiều, nên thuận t́nh ngay, khuyên nhủ con dâu nên bước thêm bước nữa.

Lương Tiểu Nga vốn là gái hiền thục, vẫn c̣n thương yêu người chồng vắn số, nhưng vẫn phải vâng lời mẹ chồng, tái giá.

Cưới được Lương Tiểu Nga rồi, Hiếu Sắc vẫn một mực chăm sóc mẹ Hoá Chiêu; bà cũng an ḷng nghĩ rằng con dâu ḿnh có được bóng mát cho cuộc đời c̣n lại.

Vợ chồng ăn ở vơi nhau được mười năm, sinh được hai mụn con. Đời sống an nhàn. Một đêm trăng vào hạ, vợ chồng ra ngồi hóng mát bên ao sen. Hiếu Sắc nhấm rượu, và ngấm rượu; Đương lúc đó, có con ếch nhảy lên một lá sen. Tiểu Nga đưa cây sào thọc cho con ếch nhảy đi. Sào thọc xuống th́ con ếch lặn, cất sào lên, nó lại trồi lên. Tiểu Nga phải thọc vào con ếch mấy lần nữa, nó mới chịu lặn ch́m mất.

Bất giác, Hiếu Sắc buột miệng ngâm:

"Hồi ức thập tam niên tiền sự
Huyên tợ hà mô lục thủy thờị.
Nhớ chuyện mươi ba năm trước đây
Mường tượng ngày nay ếch ngóp ngoai

Nghe lời thơ lạ, Tiểu Nga bảo chồng lập lại để ḿnh họa theo. Hiếu Sắc lè nhè đọc lại rồi cao hứng nói vợ lấy giấy bút cho ḿnh chép lại làm thủ bút. Thôi rồi, kẻ hào hiệp chung chăn gối với ḿnh mười năm nay, th́ ra là một kẻ nham hiểm thâm độc.

Không thể để cho Hoá Chiêu chết oan, Tiểu Nga đă nắ lấy vật chứng là hai câu thơ thủ bút của Hiều Sắc, đem đi tŕnh quan.

Bị bắt tra vấn, Hiếu Sắc khai hết sự thật câu chuyện hơn mười ba năm trước, v́ đă cuồng si nhan sắc của Lương Tiểu Nga nên đóng tṛ đạo đức, rồi bày mưu giết chồng đoạt vợ Trát Hiếu Sắc bị xử tội tử h́nh.

Đúng là sắc bất ba đào dị nịch nhân, nhan sắc đâu phải là sóng lớn mà cũng d́m chết người, hai người chồng đều phải tức tưởi ĺa đời.

Sắc đẹp là tội lỗi, nàng đă đến công đường, xin xử tội cái nhan săc nàỵ Nhưng luật pháp có bao giờ lại tử h́nh một hồng nhan. Có chăng th́ lạ ǵ bỉ sắc tư phong, hồng nhan phải tự mang lấy cái nghiệp chướng đa truân.

> Điển Tích Truyện Kiều - Băng Nhân
Sự ḷng ngỏ với băng nhân
Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao

Băng nhân, người mối lái chuyện cưới hỏi, gả bán, từ một điển tích đời Tấn:

Văn nhân Linh Hồ Sách nằm mơ thấy ḿnh đứng trên băng tuyết nói chuyện với một người lạ nằm dưới băng tuyết. Linh Hồ Sách đem chuyện năm mơ của ḿnh thuật lại cho Sách Thẩm, một người rất giỏi về thuật số. Sách Thẩm giải mộng:

- Băng thượng nhân ngữ băng hạ nhân, tức là dương nói chuyện với âm. Điềm này tất có chuyện mai mối đây. Vậy nếu có ai nhờ tiên sinh se duyên, th́ cứ nhận lời. Đến khi băng tan, th́ lương duyên thành.

Mấy hôm saụ Linh Hồ Sách đưọc Điền Báo nhờ làm mối lái xin hỏi cưới con gái của Trương Công Vị. Linh Hồ Sách nhận làm mai và được Trương Công Vi đồng ư. Quả đúng, đến mùa xuân, khi băng tan hết th́ hôn lễ của Điền Báo với con gái Trương Công Vi được cử hành.

 
Điển Tích Truyện Kiều - Bể Dâu
Mở đầu Truyện Kiều:
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng

Bể dâu là biển cả và băi dâu, dịch nghĩa từ câu Thương hải tang điền , nói về những biến động đổi thay trong vũ trụ, trong đời sống con người.

Nhân sanh bách tuế chi kỳ. đời sống con người hữu hạn trăm năm, Nguyễ n Đu đă diễn ra thơ nôm :
Trăm năm trong cơi người ta.

Trong Thần tiên truyện có viết: tam thập niên vi nhất, thương hải biến vi tang điền nghĩa là cứ ba mươi năm một lần vũ trụ lại chuyển hóa, biển cả hóa thành nương dâu, nương dâu hóa thành biển cả .
Chu kỳ 30 năm một lần. biển cả c̣n biến thàn h ruộng đất huống chi con người chỉ là hạt bụi trong vũ trụ của tạo hóa, th́ sự chuyển dịch từ cơi này qua cơi khác, vận này qua vận kia là chuyện b́nh thường, sông có khúc, người có lúc.
Điển Tích Truyện Kiều - Bố Kinh
Đă cho vào bậc Bố kinh
Đạo ṭng phu lấy chữ trinh làm đầu

Bố kinh là hai chữ thu ngắn, Bố quần là chiếc quần bằng vải, kinh thoa là cái trâm cài đầu bằng gaị Bố kinh lấy từ chuyện Lương Hồng Mạnh Quang trong sách Di Uyển của Trung Quốc:

Lương Hồng là một hàn sĩ ơ Giang Nam, nhà nghèo xơ xác, hiếu học, trọng đạo đức nhân nghĩạ Nhiều người rất cảm phục nhân cách của chàng , trong đó có một phú hộ thật tâm muốn t́m cách giúp đỡ . Lần đầu tiên t́m đến gặp Lương Hồng, phú hộ muốn tặng chàng hai gói chè quí ngọn hái từ đỉnh núi Vũ Di . Lương Hồng nhẹ nhàng thưa:

- Nếu có ǵ cần dạy bảo xin ngài vui ḷng chỉ giáo, c̣n lễ vật ngài cho tôi xin được phép từ chối.

Phú hộ đành cầm lễ vật ra về, trong ḷng nghĩ hay là chàng nho sĩ kia v́ nghĩ phận ḿnh nghèo hèn không dám giao tiếp với người giàu sang như ta. Nghĩ vậy nên ít ngày sau, phú hộ lại t́m đến, chân đi giày cỏ, cẩn thận buộc ngưa từ ngoài xa. Trong lều tranh, Lương Hồng vẫn mải mê đọc sách; phú hộ kiên nhẫn chắp tay đứng đợi ngoài sân. Sau mấy canh giờ, Lương Hồng chợt gấp sách, nh́n ra ngoài, trông thấy vị khách đang đứng chờ. Chàng cung kính mời vào. Lần này phú hộ chỉ xin tặng một gói trà ngang, nhưng bên trong lại có mấy nén vàng, gọi là chút tiền độ nhật cho hàn sĩ. Lương Hồng nhất mực từ chối:

- Nếu ngài có ư coi trọng kẻ hèn nay th́hăy cư xử nhau bằng t́nh nghĩa; xin bảo trọng t́nh nghĩa trong sáng này, đừng để lễ vật làm hoen ố đi.

Phú hộ lại phải đem lễ vật về và vẫn không nghĩ ra cách ǵ để giúp đỡ con ngướ liêm khiết này. Và không những chỉ có phú hộ này, nhiều danh gia khác cũng nghe tiếng thơm Lương Hồng, muốn muốn đem gả ái nữ chọ Trong số này, có nhà họ Mạnh, gịng dơi nho gia, giàu có mấy đời, có tiểu thư Mạnh Quang, sắc nước khuynh thành, vương tôn công tử gần xa đều ngấp nghé. Nhà họ Mạnh chủ động muốn nhận Lương Hồng làm rể. Lương Hồng cũng nghe tiếng gia đ́nh họMạnh tuy giàu có, nhưng nổi tiếng mấy đời lương thiện, nên bằng ḷng kết nghĩa trăm năm với nàng Mạnh Quang.

Ngày hợp hôn, Mạnh Quang muốn làm đẹp ḷng chồng, trang điểm má phấn tô son, xiêm y lộng lẫy, vàng ngọc sáng ngờị Nào ngờ, trông thấy tân nương rực rỡ như vậy, tân lang lại tiu nghỉu, suốt bảy ngày đêm ủ ê không buồn động pḥng hoa chúc. Thoạt đầu, Mạnh Quang đă quá lo âu, không hiểu ḿnh đă lời ăn tiếng nói như thế nào để chàng phải phật ư; cuối cùng th́ nàng cũng nghĩ ra và đă vất bỏ hết các xiêm y, trang sức sặc sỡ đó, mà chỉ mặc quần áo vải và đầu cài thoa gai đến bên chồng. Đến đây, Lương Hồng mơi bật lên mừng rỡ, ôm chầm lấy tân nương:

- Đây mới thật là vợ của Lương Hồng. Trong phú quư', giàu sang, thường người ta không giữ được nhân nghĩạ Ta chỉ muốn sống trong thanh bần, tự ḿnh cày ruộng mà ăn, dệt vải mà mặc, cuộc sống đạm bạc nhưng vợ chồng luôn có nhau, tương kính nhau.

Người đời sau lấy chữ Bố kinh trong điển tích này để nói đến các bà vợ hiền thục.

Trong truyện Kiều, khi giai nhân vượt thành lễ giáo t́m đến thư pḥng Kim Trọng trong đêm. Đă có lúc, chàng Kim ra chiều lả lơị Kiều khoan nhặt ..

Thưa rằng: đừng lấy làm chơi
Giả chưa hết một lời đă nao
Vẻ chi một đóa yêu đào
Buồng hồng chi dám ngăn rào chim xanh
Đă cho vào bậc Bố Kinh
Đạo ṭng phu lấy chữ trinh làm đầu
Ra tuồng trên bộc trong dâu
Th́ con người ấy ai cầu làm chi.

Điển Tích Truyện Kiều - Cầm Đài (Bá Nha Tử Kỳ)



Rằng nge: Nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ

Cầm đài: cái đài để Tư Mă Tương Như ngồi gảy đàn. Tri âm: hiểu biết nhau qua tiếng nhạc; từ chuyện Tử Kỳ tri âm Bá Nha thời Chiến Quốc, tri âm đă là nghĩa chung của một t́nh bạn thiết thân, thông hiểu được ư nhau.

Theo sách Lă thị xuân thu: "Bá Nha cổ cầm, Chung Tử Kỳ tại ngoại thiết tính chi viết: nguy nguy hồ như thái sơn, dương dương hồ như lưu thủy" (Bá Nha gảy đàn, Chung Tử Kỳ ở ngoài nghe trộm, khen rằng: ngun ngút như núi Thái Sơn, cuồn cuộn như ḍng nước chảy).

Vào lúc Tấn, Sở đang giao hảo nhau. Bá Nha là người nước Sở, nhưng lại làm quan đến chức Thượng đại phu của nước Tấn. Bá Nha nổi tiếng là một khách phong lưu văn mặc, lại có ngón đàn tuyệt diệu nhất đời; ngày liền đêm, Bá Nha không bao giờ rời cây Dao cầm thiết thân của ḿnh.

Năm ấy, trên đường từ Sở về lại Tấn sau sau chuyến công cán, Bá Nha cho thuyền đỗ lại bến Hàm Dương vào một đêm trăng thanh gió mát. Bá Nha cho đồng tử đốt lư trầm trước thuyền, rồi lấy Dao cầm ra so phím thử dây. Dưới ánh trăng trong, tiếng đàn quyện lấy hương trầm đang cất vút lên cao giữa đêm thu thanh vắng, bỗng một tiếng " bựt " khô khan, dây tơ đồng đứt. Bá Nha nghĩ dây đàn đứt ắt có quân tử nào nghe lén đây, bèn sang sảng cất tiếng:

- Có cao nhân nào trên bờ lắng nghe tiếng đàn của tại hạ, xin vui ḷng ra mặt.

Từ trên vách núị có tiếng vọng xuống:

- Xin đại nhân thứ lỗi cho, tiểu dân này đi kiếm củi về muộn, đi ngang qua đây, nghe tiếng đàn tuyệt diệu quá, nên cất bước đi không đành.

Bá Nha cười lớn:

- Tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đàn với ta ?

Tiếng nói từ trên núi lại đáp lại:

- Đại nhân nói vậy, kẻ hèn này trộm nghĩ là không đúng. Há đại nhân không nhớ câu nói của người xưa: "Thập nhất chi ấp tất hữu trung tín" (Trong một ấp có mười nhà ắt có người trung tín). Hễ trong nhà có quân tử th́ ngoài cửa ắt có người quân tử đến...

Bá Nha có vẻ ngượng khi nghe câu nói của người tiều phu. Biết ḿnh lỡ lời, ông tiến sát đến mũi thuyền nói lớn:

- Nếu thật là người trên bờ biết nghe đàn, th́ xin cho biết lúc năy tại hạ đă đàn khúc ǵ ?

Giọng trên bờ b́nh thản vọng xuống:

- Đó là Khổng Vọng Vi, Đức Khổng Tử khóc thầy Nhan Hồi. Hồi năy, đại nhân đang đàn th́ đứt dây, nên c̣n thiếu mất câu chót.

Nghe xong, Bá Nha thấy ḷng phơi phới lạ, vội sai tùy tùng lên bờ rước người tiều phu xuống thuyền. Bá Nha trân trọng đón tiếp:

- Quư hữu biết nghe đàn, vậy chắc cũng rơ được xuất xứ của cây Dao cầm?

Tiều phu không ngập ngừng:

- Nghe nói, thuở xưa vua Phục Hy t́nh cờ trông thấy có năm sắc sao rơi xuống cụm ngô đồng và chim phượng hoàng đến đó đậu. Vua biêt cây ngô đồng là thứ gỗ quư, hấp thụ tinh hoa của trơi đất, có thể dùng để làm nhạc khí được, liền cho người hạ cây, cắt làm ba đoạn. Đoạn ngọn, tiếng quá trong và nhẹ, đoạn gốc tiếng đục và nặng, chỉ có đoạn giữa tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được. Nhà vua cho ngâm đoạn giữa thân cây giữa ḍng nước, đúng bảy mươi hai ngày đêm, vớt lên phơi trong mát cho thật khô rồi gọi người thợ giỏi Lưu Tử Kỳ đẻo thành cây Dao cầm. Dao cầm dài ba thước sáu tấc, một phần án theo ba trăm sáu mươi mốt độ chu thiên, mặt trước rộng tám tấc, án theo tám tiết, mặt sau rộng bốn tấc án theo bốn mùa, bề dày hai tấc án theo lưỡng nghi. Đàn gồm mười hai phím, tượng trưng cho mười hai tháng trong năm, lại có thêm một phím phụ tượng trưng cho tháng nhuận. Đàn có năm dây án theo ngũ hành tượng trưng cho năm âm: cung, thương, giốc, thủy, vũ. Xưa, vua Thuấn gảy đàn Ngũ huyền, thiên hạ thái b́nh. Khi vua Văn Vương bị ngồi tù nơi Dũ Lư, Bá Âp Khảo thêm một dây oán, gọi là văn huyền (dây văn). Về sau, khi Vũ Vương đánh nước Trụ, thêm môt dây nữa gia tăng kích động gọi là vũ huyền (dây vũ). Do đó, Dao cầm lúc đầu có năm dây, sau có bảy dây. Dao cầm có bốn điều kỵ là: rét lớn, nắng lớn, gió lớn và tuyết lớn; và bảy điều không nên là: không đàn ở đám tang, không đàn lúc ḷng rối loạn, không đàn lúc ḷng không thanh bạch, không đàn lúc bận rộn nhiều việc, không đàn lúc y trang không chỉnh tề, không đàn lúc không có trầm hương và không đàn lúc không có bạn tri âm.

Bá Nha nghe nói, biết tiều phu là bậc kỳ tài, đem ḷng kính thương:

- Hiền hữu quả là người tinh thông nhạc lư. Xưa kia, Khổng Tử đang gảy đàn, thầy Nhan Hồi bước vào, nghe thanh âm sao mà u trầm, biết là trong tâm Khổng Tử đang giao động . Hỏi ra, mới hay là trong khi Khổng Tử đàn, thấy con mèo đang bắt chuột, nên tâm tư đă chùng tiếng tơ đồng. Trước kia, Nhan Hồi nghe tiếng đàn mà biết được ḷng Thầy, c̣n ngày nay, nghe tiếng đàn Bá Nha này , hiền hữu có biết ḷng ta đang tư lự ǵ không?

- Xin đại nhân cho nghe một vài khúc nhạc nữa
Bá Nha thay dây đàn, gảy khúc Ư tại non cao.

Tiều phu ngẩng mặt mỉm cười:

- Tuyệt thay, ư chí cao vút. Ư tại non cao.

Bá Nha giật ḿnh ngưng đàn. Một lúc sau gảy thêm khúc Ư tại lưu thủy.

Tiều phu khua tay xuống ḍng nước:

- Trời nước bao la. Ư tại lưu thủy.

Bá Nha thất kinh, nh́n người tiều phu không ngớt mắt, sao lại có người cảm thấu được tiếng đàn của minh như vậỵ Ông sai nguời hầu dẹp trà, bày tiệc rưọụ Xong, ông đứng lên trước mặt người tiều phu, kính cẩn hỏi:

- Dám hỏi tiên sinh quư danh và quê quán.

Tiều phu vội đứng lên, chắp tay thi lễ:

- Tiện dân họ Chung, tên Tử Kỳ, người thôn Tập Hiền gần núi Mă Yên này. C̣n đại nhân, chẳng hay cao danh quư tánh là ǵ, hiện đi trấn nhậm nơi đâu mà ghé thuyền lại đây văng cảnh.

- Tại hạ họ Du tên Thụy, là Đại phu nuớc Tấn, nhân đi sứ nước Sở về, thấy cảnh Hàm Dương trăng thanh gió mát, nên ghé thuyền thưởng lăm. Tại hạ chỉ là một kể tài hèn đức bạc mà thôi. C̣n như tiên sinh đây học thức uyên bác cớ sao không xuất thân lập công danh, pḥ vua giúp nước, mà lại sống ẩn dật chốn núi non hẻo lánh này.

- Tôi c̣n cha mẹ già, không có anh em, phận làm con phải lo tṛn chữ hiếu, dẫu cho công hầu khanh tướng cũng không thể đổi được một ngày báo hiếu của tại hạ.

Tử Kỳ hai mươi bảy tuổi. Bá Nha trân trọng nói:

- Tiện chức hơn tiên sinh những mười tuổi. Nếu tiên sinh không chê tôi đức mọn tài hèn th́ xin kết làm anh em để khỏi phụ duyên tri âm.

Chung Tử Kỳ khiêm nhượng đáp:

- Đại nhân là bậc công khanh nơi triều đ́nh, tại hạ là kẻ áo vải chốn sơn lâm th́ làm sao kết bạn với nhau được, xin đại nhân miễn cho.

- Giá trị con người đâu ở chỗ giàu sang phú quư, mà ở đức hạnh tài năng. Nay nếu tiện sinh chịu nhận làm anh em th́ thật là vạn hạnh cho tiện chức.

Bá Nha đă có thành tâm, Tử Kỳ không từ chối nữa.. Bá Nhà sai người hầu đốt ḷ hương mới, lập hương án trước thuyền, cùng Tử Kỳ lạy trời đất tám lạy, nhận nhau làm anh em khác họ. Rồi hai bạn cùng đối ẩm chuyện tṛ với nhau rất chi là tương đắc.

Đến lúc ánh trăng nhạt nḥa, tiếng gà eo óc gọi ánh nắng mai, đoi bạn đành phải chia tay. Bá Nha giọng run run, nh́n Tử Kỳ:

- Ḷng huynh quá cảm mộ, chưa nỡ rỡi hiền đệ. Hiền đệ có thể cùng huynh đi thêm một đoạn đường để thêm đước một khúc chuyện tṛ cho thỏa mối tâm t́nh.

Chung Tử Kỳ cũng không dấu được xúc động:

- Theo lễ, tiểu đệ phải tiễn hiền huynh vài dặm đường mới phải, ngặt v́ song thân của tiểu đệ đang trông ngóng ở nhà, xin hiền huynh thứ lỗi.

- Vậy th́ hiền đệ về nhà xin với song đường qua nước Tấn thăm chơi, chắc là sẽ được nhận lời.

"Phụ mẫu tồn , bất khả viễn du", làm sao Tử Kỳ có thể rời cha mẹ để vui chơi cùng bạn được. Cuối cùng, Bá Nha nắm tay Tử Kỳ, giọng khẩn thiết:

- Sang năm, cũng vào giờ này, xin hẹn hiền đệ tại đây.

Rồi lấy ra hai nén vàng, hai tay dâng cao lên trước mặt:

- Đây là món lễ vật mọn của ngu huynh làm quà cho bá phụ, bá mẫu, đă xem nhau là cốt nhục xin hiền đệ chớ từ chối.

Cảm t́nh tri ngộ, Tử Kỳ không từ chối. Lưu luyến chia tay, đôi bạn bịn rịn không thốt lên nỗi lời tạm biệt.

Thấm thoát một năm qua, ngọn gió heo may từ phương Bắc về đem mùa thu đến. Bá Nha vào triều kiến vua Tấn xin được phép về Sở thăm quê nhà. Thuyền đến bến Hàm Dương, Bá Nha cho dừng lại dưới núi Mă Yên. Ḷng bồn chồn trông ngóng. Vừng kim ô đă ngả bóng xuống ḷng sông, khói sóng dâng lên nghi ngút, sao măi vẫn không thấy bạn tri âm. Bá Nha cho đồng tử đốt ḷ hương, rồi lấy Dao cầm đàn một khúc. Trong cơn gió nhẹ đầu thu, Bá Nha bỗng nghe tiếng đàn của ḿnh sao mà ai oán, năo nùng. Bá Nha thất kinh, ngừng tay đàn, tâm thần rối bời ; cung thương bỗng nghe sầu thảm như thế này th́ chắc là Chung Tử Kỳ gặp nạn lớn rồi. Cả đêm, Bá Nha trăn trở, nhớ thương và âu lo cho bạn. Trời chưa sáng, Bá Nha đă khoác cây Dao cầm lên lưng, bỏ vào túi mười nén vàng ṛng rồi cùng vài tên hầu t́m đến chân núi Mă Yên. Dọc đường. gặp một ông lăo, tay xách giỏ mây, tay cầm gậy trúc. Bá Nha lễ phép thưa:

- Xin lăo trượng chỉ đường đi đến Tập Hiền thôn.

- Có Tập Hiền thông thượng, Tập Hiền thôn hạ. Tiên sinh cần đến thôn nào ?

- Thưa lăo trượng, người Tử Kỳ họ Chung ở thôn nào?

Vừa nghe nhắc đến tên Chung Tử Kỳ, lăo ông sa sầm nét mặt, đôi mắt trũng sâu chảy dài hai hàng lệ. Lăo ông sụt sùi, giọng ngắt đoạn:

- Chung Tử Kỳ là con lăo. Năm ngoái cũng vào ngày này, nó đi củi về, gặp một vị quan nước Tấn tên là Bá Nha và kết nghĩa huynh đệ v́ chỗ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Lúc chia tay, vị quan có tặng cho vợ chồng lăo hai nén vàng. Ở nơi núi non heo hút thế này, vợ chồng lăo chưa cần đến số vàng đó, nên con lăo đă dùng đổi lấy sách, đọc bất kể ngày đêm, giờ giấc, ngoài việc đốn củi mưu sinh. Có thể v́ quá lao nhọc, con lăo đă lâm bệnh mà qua đời...

Chưa kịp nghe hết lời, Bá Nha đă bật ̣a khóc, ôm chầm lấy ông lăo, hậu sinh này chính là người bạn kết giao của Chung Tử Kỳ đây. Ông lăo thảng thốt:

- Mang ơn đại nhân không chê trách cảnh bần cùng, đă cùng con lăo kết nghĩa tâm giao. Lúc lâm chung, con lăo đă trối trăn lại: " Sống không trọn đạo làm con, chết xin được chôn dưới chân núi Mă Yên để trọn đạo nghĩa với bạn, nằm bên triền dốc chờ đúng lời hẹn mùa thu này" Con đường mà đại nhân vừa đi quạ phía bên phải có nấm đất nhỏ là ngôi mộ của Tử Kỳ. Hôm nay đúng một trăm ngày mất, lăo vừa đi viếng mộ con về th́ gặp đại nhân.

Trước mộ Tử Kỳ, Bá Nha vừa lạy bạn xong, truyền đem đàn đến, ngồi trên tảng đá tấu khúc "Thiên thu trường hận". Tiếng đàn đang réo rắt bỗng trầm hẳn xuống. Tiếng gió ngàn rít mạnh, bầu trời trở màu tối sẩm và tiếng tiếng chim từ xa vọng vềnghe u uất năo nùng. Bá Nha ngưng đàn. Gió ngừng rít, trời trong sáng trở lại, chim ai oán lặng tiếng. Bá Nha nh́n Chung lăo thưa:

- Tử Kỳ đă về đây chứng giám cho ḷng thành của tiểu sinh. Cháu vừa đàn khúc đoản ca để viếng người tri âm tài hoa mệnh yểu, và xin đọc thành thơ đoản ca này:



Ức tính khi niên xuân
Giang thượng tằng hội quân
Kim nhật trùng lai phỏng
Bất kiến tri âm nhân
Đản kiến nhất phân thổ
An nhiên thương ngă tâm
Bất giác lệ phân phân
Lai hoan khứ hà khổ
Giang ban khởi sầu vân.
Tử
Kỳ , Tử Kỳ hề !
Nhĩ, ngă thiên kim nghĩa
Lịch tận thiên nhai vô túc ngữ
Thử khúc chung hề bất phụ đàn
Tam xích Dao cầm vị quân tử.

(Từ nhớ đến muà thu năm trước
Bến trường giang gặp bạn cố nhân
Năm nay lại đến Giang Tân
Gịng sông lạnh ngắt cố nhân đâu rồi
Buồn chỉ thấy nấm mồ bên núi
Cơi ngàn năm chia cắt đau ḷng
Ôi thương tâm, ôi thương tâm
Sụt sùi lai láng bao hàng lệ rơi
Mây sầu thấp thoáng chân trời
Đêm vui đổi lấy một đời khổ đaụ
Tử Kỳ ơi, Tử Kỳ ơi
Ngàn vàng khôn chuộc được bầu tâm can
Thôi từ nay, thôi phím đàn
Ngàn thu thôi hết mơ ṃng cố nhân...)

Lời thơ vừa dứt, Bá Nha nâng Dao cầm lên cao, đập mạnh xuống tảng đá. Dao cầm vỡ tung từng mănh, trụ ngọc, phi'm đồng rơi lả tả. Lăo ông hoảng kinh, sao đại nhân lại đập vỡ đàn quí. Bá Nha đáp lời bằng bài thơ tứ tuyệt:



Thốt đoái Dao cầm phượng vĩ hàn
Tử Kỳ bất tại, hướng thùy đàn ?
Xuân phong măn diện giai bằng hữu
Dục mịch tri âm, nan thượng nan.

(Dao cầm đập nát đau ḷng phượng
Đă vắng Tử Kỳ đàn với ai
Gió xuân bốn phía bao bè bạn
Khó thay t́m được bạn tri âm)

Bốn câu thơ là bài văn tế cho bạn. Bá Nha quay lại phía lăo ông, sụp quỳ xuống:

- Bá Kỳ Tử Nha đă y lời hẹn đến đây rồị Nay tiểu sinh có đem theo ít nén vàng, xin thành tâm dâng lên bá phụ cùng bá mẫu để cung dưỡng tuổi già và tạo mươi mẫu ruộng làm tự cho Tử Kỳ. Bốn năm nữa hạ quan sẽ dâng biểu từ quan, về đây chung sống với bá phụ bá mẫu, với người bạn tri âm.

Chung lăo không từ chốị Bá Nha lạy Chung lăo, lạy tạ từ bạn rồi quay xuống cho thuyền nhổ sào, trở về nước Tấn.


Điển Tích Truyện Kiều - Chàng Tiêu

Có điều chi nữa mà ngờ
Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu

Hững hờ chàng Tiêu chuyện được ghi trong sách T́nh sử Trung Quốc:

Thời Khai Nguyên nhà Đường, có chàng Tú tài Thôi Giao, văn tài trác tuyệt, nhưng thế cô, nhà lại nghèo xơ xác nên khó bề lập thân. Tuy vậy chàng Tú vẫn thiết tha yêu đời v́ có người yêu Lục Châu, một dung nhan kiều diễm đang tuổi trăng tṛn, giỏi thi phú, đàn ca xướng hát.

Gia cảnh Lục Châu cũng vào thuộc loại bần hàn, nên nàng phải làm thị tỳ cho người cô của Thôi Giao. Cũng là một cơ may để cho đôi lứa có nơi chốn mà t́nh tự. Bà cô cũng có ư muốn tác hợp cho hai trẻ, nên cô gắng buôn bán vài chuyến lớn kiếm lăi, tổ chức hôn lễ đàng hoàng và cho đôi tân hôn chút của hồi môn.

Chẳng may, chuyến buôn này rồi chuyến buôn khác cứ bị lỗ lă nặng. Gia sản bà sa sút quá nhanh chóng, rồi sinh nợ chồng chất. Đường cùng, để khỏi bị con nợ tịch biên nhà cửạ bà cô phải bán Lục Châu cho quan Liên súy Vũ Địch, giá bốn mươi vạn tiền.

Vậy là từ đó, đôi uyên ương như chim cụt cánh, như cây cụt cành.

Quan Vũ Địch đưa nàng Lục Châu vào dinh nhưng vẫn không làm điêù chi sỗ sàng quá đáng. C̣n chàng Thôi Giao th́ lang thang thất thểu đó đây, tự đặt tên cho ḿnh là Tiêu Lang. Nhưng dù có nghêu ngao ở đâu, sáng nào chàng ta cũng đứng ngấp nghé ngoài cổng dinh phủ, mong được nh́n thấy người yêu. Nhưng mỗi lần may mắn gặp mặt, Tiêu Lang lại phải nén ḷng, quay mặt đi nơi khác, làm ra vẻ hờ hững. Lục Châu cũng bị xé nát tâm cang, cắn răng cúi đầu, lẫm lũi bỏ đi. Giọt châu lă chă khôn cầm.

Một hôm, vào tiết hàn thực trời rét như cắt, Lục Châu có việc ra ngoài, phải mặc đến hai áo bông; nàng chợt trông thấy Tiêu Lang đứng dưới gốc liễu rũ, thân thể gầy g̣ run rẩy trong trong chiếc áo rách mỏng manh. Không cầm ḷng được, nàng chạy đến ôm chầm lấy chàng. Thôi th́ tha hồ mà khóc, kể lễ nỗi nhớ thương. Lâm ly lắm rồi cũng phải ngậm ngùi chia tay. Lục Châu choàng áo bông ôm ấp hơi ấm cho chàng. Thôi Giao cỡi chiếc áo rách lổ chổ, viết lên đó mấy câu thơ tặng nàng:
" Công tử vương tôn trực hậu trần
Lục Châu thúy lệ thấu la cân
Hầu môn nhất nhập thâm như hải
Ṭng thử Tiêu Lang thị lộ nhân "
Ngô Tất Tố dịch:
Theo chân bao kẻ ngộp mùi hương
Tầm tă khăn the lệ mấy hàng
Một tới cửa hầu sâu tợ biển
Chàng Tiêu từ đó khách qua đường.

Lục Châu ôm thơ về, đêm đêm gối đầu chờ mộng.

Trong phủ Liên Súy Vũ Địch có một tên hầu, ngày trước đă từng rắp' tâm bắn sẻ Lục Châu, nhưng đâu được toại nguyên, nên sinh thù ghét. Gặp dịp may đưa đến, hắn trộm chép bài thơ, dán gần cửa thư pḥng Vũ Địch. Quan đọc được thơ, tra hỏi kẻ hầu người hạ, biết được tác giả là Tiêu Lang Thôi Giao. Vũ Địch cho lính truy t́m, đưa được Thôi Giao vào phủ đường. Tiêu Lang nghĩ rằng mạng sống sắp tiêu tùng, nhưng dù có được chết v́ t́nh, cũng không khỏi run sợ. Nhưng khi tiếp kiến Vũ Địch, quan không bắt qú chịu tội, mà lại chỉ ghế mời ngồi. Quan bước lại gần, cầm lấy tay Tiêu Lang, cười độ lượng:

- Một tới cửa hầu sầu tợ biển, Chàng Tiêu từ đó khách qua đường. Hai câu thơ này hẳn làcủa Tiêu Lang rồi. Từ lâu ta vẫn nghe danh Tú tài Thôi Giao tài hoa. Nhưng chỉ v́ tội nghèo mà không tiến thân được, lại không giữ được người yêu. Sá ǵ bốn mươi vạn tiền mà ta phải làm tan nát một mối t́nh.

Vũ Địch cho người hầu chuẩn bị một số tiền bạc, nữ trang và mộ t cổ xe ngưa, rồi cho mời Lục Châu:

- Nay ta ban tặng cho người con gái thủy chung chút vốn liếng và lễ vật. Nàng hăy lên xe cùng với Thôi Giao, về quê cũ xây tổ ấm.

Điển Tích Truyện Kiều - Đào Nguyên

Chào mừng , đón hỏi ḍ la
Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây

Đào nguyên là gốc đào, có người c̣n gọi là động đào nguyên hoặc động bích (động xanh).

Đời nhà Tấn có nhà thơ Đào Tiềm, tức Nguyên Lượng Đào Uyên Minh. Trong những bài thơ của ông, được truyền tụng nhất là hai bài Quy khư lai từ và Đào Nguyên kư, được kể thành chuyện:

Đời nhà Tấn , tại huyện Vơ Lăng có một lăo chài, đánh cá dọc theo khe núị Một hôm đang chèo thuyền đánh cá, ông thấy một đóa hoa đào trôi từ khe núi rạ Ông nghĩ:

- Hoa đào trôi ra từ nơi phát nguyên, chứng tỏ ở đầu nguồn có dân cư và nơi ấy có trồng nhiều hoa quí, nhất là anh đào.

Ông lăo chèo thuyền ngược ḍng nước để t́m chốn đào nguyên. Thuyền đi măi, chỉ thấy rừng núi xanh mướt, lăo ông không nản. Sau cùng cũng t́m đến được một nơi dân cu khá đông, đời sống an nhàn và có trồng nhiều loài hoa quí, nhất là hoa đào.. Lăo ông đi sâu vào xóm th́ thấy ở đây vườn đào san sát, đúng là một động đào. Dân sống trong các vườn đào đều ăn mặc theo y phục kiểu nhà Tần, thời Chiến quốc. Thật là một điều lạ, ở nơi rừng sâu núi cao lại có một vùng dân cư, cuộc sống đă có từ lâu đời mà không ai biết. Hỏi ra mới hay: họ vốn là những người nước Tần, nhưng không chịu được chế độ hà khắc của Tần Thủy Hoàng và tướng Ly Tư nên kéo nhau di cư lên đây đă mấy đời. Con ngườ sống ơ" đây thật khả ái, thanh thản. Lăo ngư ông lưu lại ít ngày, rồi xuôi ḍng trở làng cũ, thuật lại mọi điều ḿnh đă trông thấy nơi đào nguyên.

Thời gian sau, lăo ông rời bỏ quê ḿnh, ngược ḍng t́m đến đào nguyên. Những đào nguyên trước, không c̣n t́m thấy đâu nữa.

Hay đây là cảnh tiên. Từđó người đời sau dùng chữ đào nguyên để chỉ nơi tiên cảnh .


Điển Tích Truyện Kiều - Đoạn Trường

" Làm cho sống đọa thác đày
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi
"

Đoạn trường nghĩa là đứt từng khúc ruột. Khi chịu sự đau khổ cùng cực, nỗi đau có thể làm cho người đứt từng khúc ruột hay có thể ĺa đời.

Sách "Đường thi kỷ sự" đă chép chuyện nàng Mạnh Tài Nhân của vua Đường Vũ Tông:

Khi lâm chung. biết ḿnh không qua khỏi, Đường Vũ Tông nắm chặt tay Mạnh Tài Nhân mà rằng:

- Ta chết đi cũng đành, nhưng thương cho người rồi sẽ ra sao..

Mạnh Tài Nhân nấc từng tiếng, chỉ vào chiếc túi vải đựng ống sáo:

- Thần thiếp xin lấy chiếc túi đó để tự vẫn, theo cùng quân vương.

Vũ Tông bật khóc. Mạnh Tài Nhân thưa:

- Xin bệ hạ hăy nghe thiếp ca bài Cung từ của Trương Hộ để tiễn đưa thiêp cùng bệ hạ xa ĺa cơi đời này.

Tiếng hát cất lên cao vút, cao vút nghe quá i ai, đến hết bài th́ nàng đứt hơi, đứng bất động trước vua. Nhà vua gọi ngự y khám và được tâu lại: Mạch của tài nhân vẫn c̣n ấm, nhưng nàng đă đứt ruộ t màchết rồi.

Vua thương xót quá đỗi và rồi cũng theo nàng đi luôn.

Đến khi di quan, th́ linh cữu nhà vua như tŕ xuống quá nặng, đội quân khiêng không nhắc lên nỗị Hay là Hoàng thượng c̣n muốn đợi tài nhân? các quan bèn sai đưa quan tài của Mạnh Tài Nhân rạ Quả nhiên, quan tài của hai người được khiêng đi rất đằm.

Cảm kích cho mối t́nh thắm thiết , Trương Hộ viết bài thơ, đề tựa: "Tài nhân v́ ḷng thanh nên đứt ruột mà chết, nhà vua v́ ḷng thành mà mệnh chung; những kẻ khích liệt ngày trước v́ nghĩa mà chết cũng không hơn được." Thơ rằng:

" Ngẫu nhiên ca băi vịnh kiều tần
Truyền xướng cung trung nhị thập xuân
Khước vị nhất thanh Hà Măn Tử
Hạ tuyền tu điếu cựu Tài nhân "

(Ngẫu nhiên tàn tiệc vịnh đôi vần
Truyền tới trong cung hai chục xuân
Lại bởi một câu Hà Măn Tử
Tuyền đài phái điếu bậc Tài nhân)

Điển Tích Truyện Kiều - Đồng Tước

"Thanh minh trong tiết tháng Ba" chị em Kiều trên đường đi tảo mộ về, chợt trông thấy nấm mồ hoang đầy cỏ dại, lạnh không chút khói hương. Trong lúc ḷng Kiều đang xót xa cho thân phận Đạm Tiên, th́ Kim Trọng, trên lưng ngựa trắng, theo sau lẻo đẻo hai tiểu đồng, cũng t́nh cờ đi ngang qua đấỵ Lần đầu tiên được diện kiến giai nhân, tâm trạng vui mừng của chàng thư sinh được diễn tả bằng hai câu thơ:

Trộm nghe thơm phức hương lân
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều.

Đồng Tước, tên của một đền đài nguy nga tráng lệ thời Tam Quốc, nay không c̣n nữạ Khi qua sông Xích Bích, Đỗ Phủ đă có bài thơ hoài cổ, trong đó có câu:

Đông phong bất dữ Châu Lang tiện
Đồng Tước thâm xuân tỏa nhị Kiềụ
(Gió đông chẳng giúp thuận chiều
Trong đền Đồng Tước hai Kiều khóa xuân)
(Trần Trọng Kim dịch).

Trở lại thớ Tam Quốc . Tào Tháo tự Mạnh Đức, là Ngụy Vơ Đế cho xây đài Đồng Tước trên sông Chương Giang, tỉnh Hà
Nam. Trong lễ tiệc khánh thành, Tào Thực, con của Tào Tháo, đă làm bài phú vịnh Đồng Tước đài, có câu:

Liên nhị kiều ư Đông Tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống.
(Bắc liền hai cầu ở Đông Tây như các cầu vồng nổi lên giữa lưng trời).

Vào lúc này, thế của Lưu Bị đă suy yếu hẳn; quân sư Khổng Minh phải vận dụng mưu lược mong khôi phục nhà Hán, bằng cách phải tạo mối thù nghịch giữa Tôn Quyền và Tào Tháọ Ở Giang Đông, tuy Tôn Quyền là chúa tể , nhưng mọi binh quyền đều thuộc về tay Châu Dụ Châu Du và Tôn Sách, chúa của Đông Ngô là hai anh em cột chèo, rể của Kiều Công. Tôn Sách lấy người chị là Đại Kiều, Châu Du, lấy người em là Tiểu Kiềụ Cả hai chị em đều là giai nhân tuyệt sắc.
Khổng Minh lặn lội vào Đông Ngô, t́m đến Châu Du:
- Trong lúc thế chiến đang căng thẳng, dân gian đang mong đợi thanh b́nh, vậy mà Tào Tháo vẫn lấy uy quyề của vua để ức hiếp mọi nơị Lại c̣n lấy của kho, xây đài Đồng Tước tốn kém biết bao nhiêu mà kể, mục đích làm ǵ, tướng quân có biết không ?.
Châu Du chưa trả lời, th́ Khổng Minh đă tiếp:
- Tào Tháo xây Đồng Tước đài là muốn gây chiến vơi Đông Ngộ
- Muốn chiến tranh với Đông Ngô th́ xây đài Đồng Tước làm ǵ ?
- Thật t́nh tướng quân không biết sao ?.
Châu Du lắc đầụ Khổng Minh tiế'p ngay:
- Chẳng lẽ việc Tào Tháo luyện tập thủy binh ngày đêm, tướng quân không biết saỏ
Châu Du ngậm ngự:
- Việc đó tôi có nghe
Khổng Minh bồi thêm:
- Cùng với việc luyện tập thủy binh, Tào Tháo c̣n cho xây cất Đồng Tước đài, để sau chiến tranh, chiếm cứ được Đông Ngô, Tào Tháo sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều về Đồng Tước đài mà hoan lạc.
Châu Du mặt đỏ gay, thét to:
- Dựa vào đâu mà ông dám nói Tào Tháo xây Đồng Tước đài để bắt Nhị Kiều đem về hành lạc.
Khổng Minh thong thả đáp:
- Xin tướng quân hăy nguôi giận. Vậy th́ tướng quân không biết bài phú của Tào Thực vịnh Đồng Tước đài à. Nguyên văn như thế này....

Nhưng đến hai câu:
Liên nhị kiều ư Đông Tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống...th́ mưu sĩ Khổng Minh lại đọc là:
Lăm nhị Kiều ư Đông Nam hề
Lạc triêu tịch chi dữ cộng
(Bắt hai nàng Kiều ở Đông Nam về để sớm tối chung vui).
(nhị kiều của Tào Thực là hai cây cầu; nhị Kiều cuả Gia Cát Lượng làvợ của Tôn Sách và vợ của Châu Du)..

Châu Du, tươ"ng hữu dơng vô mưu đă trúng kế độc của Khổng Minh. Sau đó, tướng này đă dàn trận hỏa công trên sông Xích Bích, thiêu rụi mười vạn quân Tào, Ngụy Vơ Đế đại bạị Lợi dụng thời cơ, Lưu Bị xua quân chiếm Kinh Châu, chiếm' vào Lưỡng Xuyên, h́nh thành thế chân vạc thời Tam Quốc.

Điển Tích Truyện Kiều - Gieo Thoi

Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?

Gieo thoi, ư muốn nói người con gái ném con thoi của khung dệt để bảo toàn tiết hạnh.

Trong tích Tây Sương kư cũng có lời nàng Thôi Oanh Oanh "gợi ư" cho Trương Quân Thụy v́ có t́nh ư cùng chàng: "Quân tử hữu viện cầm chi khiêu, bỉ nhân vô đầu thoa chi cự (quân tử có ôm đàn mà bỡn cợt, bỉ nhân này không dám quăng thoi mà cự tuyệt).

Theo chuyện đời nhà Tấn, Tạ Côn có cô hàng xóm họ Cao nhan sắc khó ai b́, chuyên nghề dệt cửi. Tạ Côn thường hay t́m qua nhà cô gái thả lời ong bướm. Có lần, cô gái ngưng dệt, cầm con thoi ném vào mặt Tạ Côn, làm chàng ta găy mất hai cái răng. Từ đó hết lời trêu ghẹo.

Điển Tích Truyện Kiều - Giọt Hồng

Nh́n càng lă chă giọt hồng
Rỉ tai, nàng mới giăi bày trước sau:
Hổ sinh ra phận thơ đào
Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong ?

Trong sách thuốc có viết: Nhân hữu vựng uất, hốt hôn mê bất tỉnh nhân sự (người có chứng vựng uất thường hay bị ngất).

Giọt hồng, giọt nước mắt có màu hồng như máu, người đời c̣n gọi là huyết lệ khóc cho nổi đau khổ cùng cực trong những ḥan cảnh khốn cùng. Điển tích Giọt hồng có trong trong Ngụy Thư:

Đời vua Ngụy Văn Đế có vị quan Tiết Hằng tuổi già về quê ở huyện Lộc
Nam cùng với vợ và con gái Tiết Linh Vân. Linh Vân đang tuổi trăng tṛn, nổi tiếng là một trang thiên hương quốc sắc, học giỏi, lại rất hiếu thảọ Hai năm sau khi Tiết Hằng về quê, trong vùng Lộc Nam nạn cướp bóc hoành hành, giáp biên giới giặc giă lại nổi lên. Triều đ́nh sai Trương Bá Sanh, một vị quan trẻ kiêu ngạo, tham lam, về dẹp loạn. T́nh h́nh tạm yên; Bá Sanh được bổ nhiệm làm tri huyện Lộc Nam.

Nghe tiếng nhan sắc Linh Vân, quan huyện mon men t́m đến. Khi trở về, tức tốc huyện ta cho người mai mối. Cha con Linh Vân từ chối. Bá Sanh sinh thù. Nhân lúc giặc giă lại nổi lên, Bá Sanh lập mưu vu cáo lăo quan về hưu tư thông giặc rồi sai nha quân đến nhà bắt Tiết Hằng dẫn lên huyện đường, giam vào ngục, nói là chờ ngày xét xử nhưng thật ra để ép duyên Linh Vân. Linh Vân quá đau đớn v́ nỗi hàm oan của cha, đánh liều gởi thư về triều kêu oan. Làm sao thư đến được tay vua. Linh Vân lại thư cầu cứu đến vị quan thứ sử họ Huỳnh, là một người bạn cũ của cha nàng. Huỳnh Thứ sử vào chầu vua xin chiếu chỉ, phái Mạnh Quang, một viện sĩ Hàn Lâm giỏi văn chương thi phú, về huyện Lộc
Nam tuần tra.

Hai tháng về Lộc
Nam thanh tra, hồ sơ kêu oan của người dân đă chất cao ngất, vậy mà hàn sĩ Mạnh Quang không hề ngó ngàng tới. Suốt này quan thanh tra chỉ thơ thới với gió núi mây ngàn, chẳng buồn quan tâm đến chuyện thế sự.

Một hôm Mạnh Quang lang thang xuống đường. Phố chợ sao mà đ́u hiu, dân t́nh xơ xác. Mạnh Quang ghé vào một quán nước chè, bỗng gặp một giai nhân, áo quần xốc xếch, không chút phấn son, đang ngồi khóc tấm tức. Mạnh Quang hỏi ḍ bà lăo chủ quán, mới hay người đẹp là Tiết Linh Vân đang khóc cho nỗi oan khiên của cha. Bấy giờ Mạnh Quang mới chợt nhớ nhiệm vụ của ḿnh là về đây giải oan cho gia đ́nh người con gái hiếu thảo này.

Mạnh Quang đi thẳng đến huyện đường Lộc
Nam, vào nhà tù thăm các phạm nhân. Mạnh Quang đ̣i quan huyện Trương Bá Sanh tŕnh những hồ sơ của các phạm nhân có quan hệ với giặc. Xét xong hồ sơ, Mạnh Quang chỉ thị phóng thích hết các tù nhân loại này v́ không đủ chứng cứ buộc tội.

Huyện quan chấp hành lệnh quan triều đ́nh. Ít hôm sau, Mạnh Quang lại xuống chợ, ghé lại quán nước chè của bà lăo, lại vẫn thấy nàng Tiết Linh Vân ngồi khóc tức tưởi. Hỏi ra mới hay, nhiều tù nhân đă được về đoàn tụ gia đ́nh, nhưng phụ thân của nàng bị hàm oan, vẫn chưa được cứu xét. Mạnh Quang hộc tốc quay về nha phủ gặp quan huyện:

- Ta được chiếu chỉ về huyện Lộc
Nam này xét lại các vụ án kêu oan. Nay, ta muốn thẩm tra hồ sơ của Tiết Hằng, người bị kết tôi tư thông với giặc.

Th́ ra, Bá Quang đă dấu nhẹm hồ sơ của Tiết lăo. Bây giờ quan khâm sai của triều đ́nh đă gọi đích danh th́ phải tŕnh rạ Bá Quang đem hồ sơ về, ngày sau trả lại cho Bá Sanh với lời phê: không nhân chứng, không vật chứng sao lại kết tội người ta, lệnh phải tức tốc phóng thích nghi can.. Bá Sanh hận vô cùng, nhưng đành cắn răng chấp lệnh của quan khâm sai.

Hai ngày sau, Bá Quang t́m đến thăm gia đ́nh Tiết Hằng. Một già một trẻ, mới gặp nhau lần đầu mà đă tâm đắc, văn chương thi phú đối đáp đến sáng đêm. Tiết Hằng ngỏ ư muốn gả con gái ḿnh cho Bá Quang. Quan khâm sai hân hoan nhận lời. Bá Qung cáo từ phải về kinh tŕnh tấu kết luận thanh tra và xin hẹn tháng sau sẽ trở lại lam lễ thành hôn cùng Tiết Linh Vân.

Phần quan huyện Bá Sanh, v́ oán thù cha con Tiết Hằng, nay lại được tin t́nh địch của ḿnh là Bá Quang sắp ẵm nàng Tiết Linh Vân đi, đâu được, ta phải cho chúng bây tan tác. Trương Bá Sanh liền thư về triều đ́nh, dâng lên vua, xin đề cử tiế'n cung một nhan sắc tuyệt trần chim sa cá lặn. Vua Ngụy Văn Đế thích ư, liền ra chỉ dụ, triệu Tiết Linh Vân nhập cung.

Ôi thôi, lại một kiếp hồng nhan. Ngày phải bước lên kiêu về cung, Tiết Linh Vân đă khóc như mưa, nước mắt uớt cả xiêm y. Ḷng quặn đau thương cha . nhớ mẹ, nặng t́nh quê hương. Hai t́ nữ theo hầu, phải dùng một b́nh sứ để hứng nước mắt cho nàng. Khi về đến kinh thành, b́nh sứ đă đầy quá nửa nước mắt hồng, cô đặc lại như máu, gọi là huyết lệ.

Điển Tích Truyện Kiều - Gương Vỡ Lại Lành

Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc đă dành có nơi
C̣n duyên may lại c̣n người
C̣n lời trăng bạc, c̣n lời nguyền xưa
Quả mai ba bảy đương vừa
Đào non sớm lựa xe tơ kịp th́

Thời Nam Bắc triều, Trần Hậu Chủ là một hôn quân, ham mê tửu sắc, không màng chi việc triều chính. Trong lúc đó, nước Tùy ở phương Bắc đang trổi dậy, thanh thế lớn nhanh; Từ Văn Đế Dương Kiên ngấp' nghé mưu toan diệt Trần.

Em gái Trần Hậu Chủ là quận chúa Lạc Xương, một giai nhân tuyệt sắc, có chồng là nho sĩ Từ Đức Ngôn. Tuy sống trong phú quí hoàng cung, nhưng vợ chồng TừĐức Ngôn cứ phập phồng lo sợ, một ngày nào đó ngoại xâm sẽ giày xéo giang sơn nhà Trần.

Ngày đó không xa, quân Tùy đă tràn vào như thác lũ. Đức Ngôn vội vàng thu quén ít tiền bạc, định đưa cả gia đ́nh bỏ trốn khỏi kinh thành. Nhưng Lạc Xương đă ngăn lại:

- Chàng là bậc nam nhi, gặp lúc loạn ly, phải xả thân cứu quốc. Thiếp sẽ luôn ở bên chàng, thà chết vinh hơn là sống nhục.

- Đúng, ta phải ở lại góp sức diệt giặc. Nhưng nàng, một nhan sắc không khỏi bị nhục khi giặc tràn vàọ Vây nàng hăy vâng lời ta, một ḿnh trốn đi.

Lạc Xương thuận theo lời chồng, rồi cầm lấy chiếc gương hàng ngày ḿnh vẫn soi bóng, đập vỡ làm đôi:

- Chàng hăy cầm lấy nửa mảnh gương này, thiếp giữ một nửa. Nước sẽ mất, nhà sẽ tan, nhưng t́nh đôi ta không có ǵ có thể chia cắt được. Chúng ḿnh phải sống cho nhau; hẹn chàng, đến ngày thượng nguyên, không được năm nay, th́ qua năm khác, qua năm nữa..., vợ chồng ḿnh đem mảnh gương này ra chợ Tràng An bán. Nếu trời thương cho vợchồng ḿnh c̣n gặp nhau, th́ hai mảnh gương sẽ đuợc ghép khít vào , gương vỡ lại lành, đôi ta sum vầy.

Vợchông bùi ngùi chia tay.

Chưa đầy một tháng, kinh thành nước Trần thất thủ, vua tôi lưu lạc tán loạn. Tướng Tùy là Việt Công xua quân, tha hồ càn quét. Lạc Xương, từ ngày chia tay chồng đă chạy thoát gần đến biên giới an toàn, nhưng v́ lo âu cho chồng, nên lại quay trở về kinh thanh ḍ la tin tức, không may lọt vào ṿng vây của giặc. Một nhan sắc giữa rừng gươm, hỏi ra lại là ḍng dơi trâm anh thế phiệt, th́ làm sao Việt Công lại không rúng động. Tên tướng Tùy liền giành lấy cánh hoa này, đem về ép làm hầu thiếp. Lạc Xương kháng cự mănh liệt, hoặc là giữ được tiết hạnh hoặc chọn lấy cái chết. Cũng may, Việt Công không phải là tên vơ biền háo sắc, hạ tiện nên đă không cố ép liễu nài hoa. Nghĩ rằng rồi thời gian, giai nhân sẽ xiêu ḷng nên cho nàng cấm cung, có đàn cung nữ hầu hạ, canh giữ ngày đêm.

Rồi xuân đến, lơi hẹn ḥ Tết nguyên tiêu hăy t́m đến nhau, nhưng giờ này đôi uyên ương lưu lạc nơi nào. Phần nàng, bị vây trùng trong cung cấm, làm sao đem mảnh gương t́m ra chợ đây?.

Phần Từ Đức Ngôn, từ khi kinh thanh thất thủ, bôn ba chạy đi khắp nơi; kịp lúc xuân về, chàng hồi hộp đem mảnh gương vỡ ra chợ, giả vờ bán.

Trong cung cấm. Lạc Xương may mắn đă thuyết phục được một nàng hầu, nên đúng ngày rằm tháng giêng nàng đă nhờ hầu nữ này cầm mảnh gương ra chợ Tràng An t́m Đức Ngôn. Đến chợ, hầu nữ thấy đám đông đang đứng vây quanh một anh chàng, trêu chọc thằng điên đang đ̣i bán một tấm gương vỡ với giá ngàn vàng.

Biết là gặp đươc người đang t́m, cô hầu đưa ngay nửa mảnh gương cho thằng điên. Hai mảnh gương ghép khít vào nhau, Từ Đức Ngôn bật khóc như đứa trẻ. Chàng hôn hít tấm gương rồi viết vào mặt sau, bài thơ gởi người t́nh:

Ảnh dữ nhân câu khứ
Ảnh qui nhân vị qui
Vô phục hằng nga ảnh
Không lưu minh nguyệt huỵ
Theo người gương vỡ mắt sâu
Gương đà về đó, nhưng đâu thấy nàng
Chị Hằng cũng quạnh tâm cang
Vầng trăng sầu muộn úa vàng năm canh.

Nàng hầu lật bật đem gương về. Lạc Xương đọc được thơ, ôm lấy hai mảnh gương vào ḷng mà khóc tức tưởị Việt Công t́nh cờđi vào, trông thấy, gạn hỏi sự t́nh. Lạc Xương phải t́nh thật, kể lại hết chuyện t́nh của ḿnh. Nghe xong chuyện, Việt Công giả vờ nghiêm giọng thét to:

- Gương đă vỡ..

Lạc Xương hoảng hốt:

- Nhưng...

Sắc diện của Việt Công bỗng hiền ḥa, đôn hậu:

- Nhưng ..giờ nay lại lành. Ta cảm phục mối t́nh của hai ngườị Dù ḷng dạ lang sói cũng phải động ḷng...

Rồi Việt Công sai quân hầu lập tức chạy ra chợ rước Từ Đức Ngôn vào thành, đăi đằng trọng thể, trao trả hạnh phú c cho t́nh yêu.

Điển Tích Truyện Kiều - Hán Sở Chiến Trường

So dần dây vũ dây văn
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt , tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư mă Phượng cầu
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng ?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng Hoa nhạc, hai rằng Qui vân
Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
Tiếng khoang như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưạ.

Đây là chuyện Hán Sở tranh hùng, đoạn kết oan nghiệt của mối t́nh Hạng Vơ Ngu Cơ:

Với mưu lược của Hàn Tín, quân Hán của Lưu Bang đă chiếm được Bành Thành, cứ điểm cuối cùng của quân Sở. Hạng Vơ phải kéo quân về thủ trại trên bờ sông Ô Giang. Tuy t́nh h́nh đă nguy khốn, nhưng quân số Sở vẫn c̣n kháđông. Hạng Vơ lại là một dũng tướng phi thường, trong một ngày đánh lui hơn 60 viên tướng Hán mà đao không nhụt, ngựa không lùị V́ vậy quân Hán chỉ bao quanh trại quân Sở reo ḥ inh ỏi, nhưng không có thêm tướng nào dám vào nghinh chiến với Hạng Vơ.

Tướng sĩ tâu tŕnh với Hạng Vơ:

- Cả ngày hôm nay, Đại Vương thân không rời giáp , ngựa chẳng hở yên. Bây giờ tướng Hán đă khiếp sợ, án binh bất động. Vậy xin Đại Vương cho đóng dinh để Hoàng hậu nghỉ tạm qua đêm.

Hạng Vũ đồng ư và cho mời Ngu Cơ đến:

- Quân Hán đă cướp thành. Đêm nay ái hậu cùng ta qua đêm bên gịng sông Ô Giang này, màn trời chiếu cỏ kể cũng thi vị. Ngày trước ta đánh Chương Hàm, phải mất chín ngày mới thắng được. Nay chỉ một sớm chiều đă đánh bạt được hàng chục tướng Hán, chỉ v́ muốn kết trận sớm để về với nàng.

Trong lúc ấy, quân sư Hàn Tín của Lưu Bang đang đứng ngồi không yên, suy mưu tính kế. Các tướng Hán đă hợp sức giao tranh với Hạng Vơ mà vẫn thua chạy dài, th́ không dùng thế cương mà thắng được. Hàn Tín cho mời Trương Lương đến vấn kế:

- Luôn mấy ngày ác chiến với Hạng Vương, các tướng Hán không ai địch nổị Nếu để t́nh h́nh này kéo dài, Hạn Vương sẽ thoát được ṿng vây, kéo về Giang Đông mà dưỡng binh, th́ chiến sự sẽ khó phân bề thắng bạị Xin tiên sinh chỉ giáo một mưu chước mới ḥng đánh bại được Sở vương.

Một chút trầm ngâm, Trương Lương trả lời:

- Việc đó không khó. Bây giờ cứ làm cho các tướng sĩ của Hạng Vơ phân lỵ Khi Sở vương đă bị cô thế rồi, th́ ta bằ't sống dễ dàng. Từ nhỏ, tôi có học được khúc tiêu của một dị nhân. Nghe khúc tiêu này, ḷng người xao động mănh liệt t́nh hoài hương, đang vui th́ sẽ hân hoan khó tả, đang buồn th́ lại càng da diết nhớ quệ Nay đang lúc vào thu, gió heo may về, cây cỏ xao xác lá vàng, kẻ chiến chinh chắc không thể nào không thổn thức nhớ quệ Tối nay, tôi sẽ vào vách núi Kê Minh, trong canh vắng, tiếng tiêu vọng lên th́ quân tướng Hạng Vơ chẳng c̣n ḷng dạ nào mà nghĩ đến chuyện binh đao.

Đêm về khuya, làn gió se lạnh, ánh trăng thu nhạt nḥa trong màn sương. Tiếng tiêu trỗi lên réo rát, sầu thảm như ḷng cô phụ, mênh mang như ḷng mẹ nhớ con, thỏ thẻ như tiếng trẻ mong cha về... ḷng ai có sắt đá đến đâu bỗng chốc cũng yếu mềm như cánh liễu non trước cơn gió lốc. Tiếng tiêu lại c̣n cách đoạn bằng lời ca bi ai:

Đêm thu mù mịt trời sương
Có người thiếu phụ quê hương lạnh lùng
Sa trường vó ngựa
Trẩy gót binh nhung
Con thơ nheo nhóc mịt mùng dặm xa
Cơ hàn đau đớn mẹ cha
Canh khuya ṿ vơ tuổi già đợi con
Chí trai vạn dặm
Hồ thỉ bốn phương
Nhưng con đi đă lầm đường
Giúp người tàn bạo không thương dân t́nh
Mơ mang giữa nửa giấc ba sinh
Một đi một nhớ một ḿnh canh thâụ

Tiế'ng địch trên sông Lô dẫn theo lời ca nỉ non đă mau chóng làm mềm ḷng tướng sĩ của Sở vương. Họ buông gươm giáo, cỡi bỏ chiến bào, lặng lẽ đào ngũ. Chỉ c̣n lại hai tướng trung kiên là Chu Lan và Hoang Sở đă cưỡng lại đước cái âm thanh mê hoặc đó. Cả dinh trại trong phút chốc bỗng rơi vào cái tĩnh lặng đáng sợ. Chính cái tĩnh lặng này đă đánh thức dũng tướng Hạng Vơ. Sở vương vùng đứng đậy, quay mặt về phía núi Kê Minh, nơi đang vọng ra tiếng tiêu năo nùng. Sở vương ngửa mặt lên trời than:

- Ôi cơ đồ của ta, trong thoáng chốc đă tiêu tan v́ tiếng tiêu này.

Hai vị tướng quân đang qú dưới trướng, cúi đầu không nói nên lờị Hạng Vơ truyền hai tướng bày ti^ẹc rượu, rồi cùng Ngu Cơ đối ẩm:

Tấm thân lấp biển vá trời
Thanh gươm yên ngựa một đời dọc ngang
Giờ đây mưa gió phũ phàng
Anh hùng mạt lộ giang sơn tan tành.

Ngu Cơ nhắp tiếp mây chung rồi đáp:

Cát đằng nương bóng cội tùng
Bấy lâu khăng khít thủy chung một ḷng
Tả tơi v́ ngọn gió đông
Cội tùng ngả bóng cát đằng bơ vơ.

Mặc cho trời đổ, đất nghiêng, như đôi t́nh nhân đang say men t́nh, Hạng Vơ Ngu Cơ vẫn ngồi b́nh thản uống rượu ngâm thơ. Đến lúc trời rạng ánh mai, Chu Lan và Hoàng Sở mới rón rén bước vào:

- Trời sắp sáng rồi, xin quân vương lên đường bôn tẩu.

Ngu Cơ cũng hối thúc:

- Xin lang quân hăy nhanh chóng lên đường, đừng v́ t́nh mà lụỵ Cả một cơ đồ lang quân hăy phục hưng lại Xin một lạy tạ từ phu quân. Thiếp không thể theo phu quân làm vướng bận bước chân người.

Hạng Vơ hiểu ư người yêu, rút đoản đao ra trao cho nàng. Ngu Cơ cầm lấy, đâm vào cổ tự vẫn, vĩnh biệt t́nh lang . Hạng Vơ nước mắt đầm đ́a, thét lớn: Ngu Cơ t́nh ơi !. Cùng lúc ấy, quân Hán kéo vào vây phủ. Hạng Vơ một thân một ngựa phá được ṿn g vây, thoát ra bờ sông Ô giang. Giang sơn giờ nay đă tan mờ sương khói, không thể nào khôi phục được. Hạng Vơ quay nh́n gịng sông, rút gươm tự kết liễu một đời vẫy vùng dọc ngang. Người đời sau có thơ:

Sức mạnh kinh thiên vạn cổ truyền
Vẫy vùng yên mă đoạt giang yên
Hạ thành ai luận anh hùng sự
Mănh hổ sa cơ cũng phải hèn

Điển Tích Truyện Kiều - Hoa Tàn Mà Lại Thêm Tươi
Hoa tàn mà lại thêm tươi Trăng tà mà lại hơn mười rằm xưa
Hoa tàn mà lại thêm tươi điển tích trong sách Tam ngôn truyện.
Thời Tống Nhân Tông có chàng Thu Tiên uyên bác, nhưng không màng công danh, sống ẩn nhẫn cùng hoa thơm cỏ lạ.

Vợ mất sớm, không có con, từa tự được mấy mẫu đất, chàng không canh tác màu, mà chỉ trồng hoa. Cơm không đủ ăn, áo không có mặc, được đồng nào chàng dành để mua những giống hoa quí. Vườn hoa của Thu Tiên đẹp nổi tiếng ở đất Giang
Nam.

Bấy giờ trong thành B́nh Giang có tên Trương Ủy ngang tàng, độc ác, chẳng coi ai ra ǵ. Một hôm hắn ta cùng bọn thủ hạ đi ngang qua nhà của Thu Tiên, nh́n thấy vườn hoa quí bạt ngàn màu sắc rực rỡ. Trương Ủy chẳng cần hỏi han chủ nhân, sai bọn thuộc đạp đổ hàng giậu, xông thẳng vào trong tha hồ bẻ, ngắt hoa. Thu Tiên quá đau ḷng, nhưng càng van xin th́ tên Trương Ủy và thuộc hạ càng làm tới:

- Mày không biết ta là ai à? Hôm này có ta đây đặt chân đến vườn hoa này là vinh hạnh cho mày đấy. A ḱa, loại hoa mẫu đơn kia mới đẹp làm sao. Thật là uổng phí loài hoa quí phải yên phận trên mảnh đất của tên ngốc nghếch này. Khu vườn này phải thuộc về ta.

Nói xong, tên côn đồ lại giang tay bứt hết những cánh hoa mẫu đơn. V́ quá thương yêu hoa, Thu Tiên đă phải chắp tay van xin:

- Xin công tử hăy nương tay, đừng hủy hoại hoa tội nghiệp. Loài mẫu đơn này đơn này tôi đă phải ngày đêm chăm sóc, nâng niu.

Trương Ủy cười ha hả, bóp nghiến cánh hoa trong tay:

- Mày yêu hoa, mày chăm sóc nâng niu. Ta yêu trăng hoa ta thích dày ṿ tan nát. Vườn hoa này phải là của ta. Ta cho mày ít thời gian để lo cuốn gói đi ở nơi khác. Ta sẽ trở lại đây sau hai ngày nữa, không để tao phải trông thây các mặt thằng yêu hoa ngu si như mày.

Bọn Trương Ủy bỏ đị Thu Tiên nằm vật xuống lăn lộn, người xác xơ c̣n hơn cả những cánh hoa tơi tả trên đất. Chàng khóc tức tưởi như chàng thư sinh đánh mất mối t́nh đầu. Bỗng có ai đó khẽ động trên vai. Thu Tiên quay lại; một tiểu thư kiều diễm đang nh́n chàng ngời thương cảm.

- Xin hỏi tiểu thư từ đâu đến đây?

- Thiếp ở cach đây không xa. Nghe chàng khóc thương cho loài hoa , thiếp xin đến đây được chia sẻ nỗi niềm. Hoa đă rơi rụng hế t rồi. Nhưng xin chàng chớ quá âu sầu. Chàng đă yêu hoa như thế th́ muốn hoa tàn mà lại thêm tươi cũng chẳng khó ǵ...

Đang lúc buồn bă , người đẹp lại nói chuyện phong thần, Thu Tiên càng rầu rĩ thêm. Tiểu thư biết Thu Tiên không tin, cũng chẳng phân giải; nàng nói Thu Tiên hăy thu nhặt nhữ`ng cánh hoa tàn gom lại, rồi đi gánh nước. Thu Tiên miễn cưỡng làm theo. Khi đôi thùng nước quay lại, th́ kỳ diệu thay cả vườn hoa bừng sống lại, nở rộ hương sắc. Người đẹp đă biến mất.

Thu Tiên quá đỗi mừng rỡ, chàng đưa tay nựng từng cánh hoa mà cứ tưởng như trong mợ Nàng ấy chăc hẳn là từ cơi trần tiên về đây ban phép lành cho chàng.

Ḷng thành , Thu Tiên thắp nén hương, quỳ xuống van vái:

- Xin tạ ơn tiên nữ giáng trần thương cho kẻ trần gian này....

Lâng lâng với niềm vui dào dạt, chàng nằm xuống giữa hai luống hoa, kê đầu bên một gốc mẫu đơn rồi ngủ thiếp đi giữa áng mây chiều. Chập chùng trong giấc mơ, Thu Tiên thấy ḿnh đang gối đầu trên chân một thiếu nữ; đúng là tiểu thư lúc ban ngày. Nàng cúi xuống thủ thỉ bên tai chàng... thiếp nào đâu phải là tiên nữ, mà chỉ là một kiếp hoa. Cảm ơn chàng đă nâng niu đời hoa. Từ đây thiếp sẽ măi ở bên chàng. Sẽ không có kẻ phàm phu nào đến quấy nhiễu chàn g nữa. Chàng nặng t́nh với hoa, th́ thiếp măi bên chàng, măi bên chàng....

Tiếng noí nhỏ nhỏ dần, nhỏ dần rồi cùng với h́nh dáng yêu kiều hút vào ḷng đất

..Thu Tiên chợt tỉnh giấc mơ hoa; đầu chàng đang kề sát một gốc mẫu đơn, thoang thoảng tỏa hương thơm d́u dặt. Trên cao xa lắc, ánh sao hôm đang lấp lánh.

Điển Tích Truyện Kiều - Hồ Cầm

Cung thường làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.

Nàng Chiêu Quân, húy danh là Vương Tường, c̣n gọi là Minh Phi, là một cung phi của vua Hán Nguyên Đế. Có quá nhiều cung nữ được tuyển, đến nỗi vua không sao thấy mặt hết. Có nhiều hồng nhan , từ khi tuyển vào cung cho đến lúc vua băng hà, chưa một lần được diện kiến long nhan. Để tiết kiệm thời gian vàng ngọc, vua truyền nội thần Mao Diên Thọ cho họa sĩ vẽ chân dung từng cung phi trưng bày tại nội điện, để cho vua chọn mỗi ngày.

Các cung phi muốn h́nh của ḿnh đẹp mới mong được ơn mưa móc, phải đút lót cho các hoạ sĩ trổ tài phượng múa rồng bay. Nàng Chiêu Quân, nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn, lại có tài đàn ca giỏi, thi phú hay; nàng không thèm mua chuộc nên các họa sĩ gieo họa, đă không vẽ h́nh nàng. Vua nào hay biết đến nàng.

Ngày tháng Chiêu Quân ch́m sâu trong cung cấm. Một hôm tiếng đàn lâm ly tỉ tê của nàng đến tai Lâm Hoàng Hậu; bà cho vời Chiêu Quân đến mới hay Hán Đế đă bỏ rơi một quốc sắc thiên hương. Hoàng hậu tâu lại với vua. Vua nổi giận, a th́ ra bọn thợ vẽ quả là khi quân. Đám họa sĩ bị đem ra chém đầu; Mao Diên Thọ bị khiển trách nặng.

T́m gặp Chiêu Quân, nhà vua giật ḿnh, ôi đúng là một tiên nga, mắt sáng sao, mày xanh lá liễu, da tuyết mịn màng. Mấy ngàn cung nữ đă tuyển chọn nay lùi sau mộ t khoảng cách quá xa đối với nhan sắc, tài nghệ Chiêu Quân. Hán Đế phong cho Chiêu Quân làm Tây Phi; từ đó ngày đêm vua say đắm ở tây pḥng.

Bấy giờ, Hung Nô là nước lân bang nhưng thường xuyên cứ đem quân quấy nhiễu biên cương. Thời đại Tần Thủy Hoàng đă cho xây vạn lư trường thành để ngăn giữ rợ Hung Nô, nhưng nay chúng vẫn vượt qua cướp' bóc. Biên ải Nhạn Môn Quan nhiều phen cấp báo về triều xin cứu viện.

Nội thần Mao Diên Thọ từ ngay bị vua quở trách, đâm ra oán hận Chiêu Quân. Y đánh cắp chân dung Chiêu Quân, lén đem nạp cho vua Hung Nô là Thiền Vụ Chỉ mới nh́n chân dung mà rúng động cả ḷng, Thiền Vu liền cất quân sang đánh, buộc vua Hán phải gả nàng Chiêu Quân th́ mới băi binh. Giao tranh xảy ra ác liệt Hán Đế thất trận đành phải, hoặc nước mất nhà tan dưới sức xâm lược vũ băo Hung Nô hoặc phải đem nàng Tây Phi yêu dấu của ḿnh cống Hồ. Phải có cuộc chia tay, quá năo nùng. Chiê Quân gạt lệ:

- Một chút huy hoàng được quân vương sủng ái, c̣n hơn suốt đời bị lăng quên trong cung cấm. Thôi cũng đành, thần thiếp hy sinh v́ việc nước. Nay xin vĩnh biệt bệ hạ để rồi sẽ chết trên đất rợ Hồ, thay cho cái chết muôn vạn quân binh ngoài biên ảị T́nh duyên kiếp này vắn số, xin hẹn quân vương kiếp saụ Thần thiếp c̣n song thân, hiện chưa đền đáp được hiếu đạo nay xin gởi lại song đường, mong bệ hạ chu toàn sớm hôm.

Hán Đế đă bật khóc:

- Ái khanh đă nén t́nh riêng để cứu lấy muôn dân; ḷng trẫm xót xa dường nào, nhưng cũng đành. Ta sẽ thay nàng chu toàn hiếu đạo với song đường.

Sau chén rượu ly bôi, Hán Đế cho gọi Lưu Văn Long - một quan văn trẻ, có tài vào cung, căn dặn:

- Nay việc đi Phiên quốc sẽ gặp nhiều gian khổ. Trẫm cho ngướ theo pḥ tá Tây cung. Nhà ngươi sẽ được cải thành họ Vương để làm người em của Tây hậụ Vương Long tuân lệnh, pḥ tá nàng Vương Tường Chiêu Quân lên đường.

Sách Hán Thư cũng đầm đ́a nước mắt theo buổi biệt ly sầu thảm này.


Sau gần cả tháng trời vất vả đường trường mới đến được ải Nhạn Môn Quan, cửa khẩu Hán - Phiên. Đêm đó, nơi quan ải, Chiêu Quân đánh đàn t́ bà ca khúc tạ từ dưới ánh trăng:

Ai ơi xin chứ sai lời
Sai lời thề nguyện
Duyên nợ ba sinh
Giấc mộng năm canh
Trách hẳn trời xanh
Sao khéo vô t́nh
Bâng khuâng nhớ thuở tơ đào
Ra vào dưới gối
Duyên cớ v́ đâu dần đến cách xa
Ôi, đau đớn ḷng ta
Tự cổ hồng nhan bạc mệnh
Mong sao sông núi an ḥa.

Trong cơn sầu muộn sâu thẳm, nàng chỉ biết gởi gấm tâm sự trong tiếng đàn t́ bà của ḿnh; v́ vậy t́ bà của Chiêu Quân c̣n gọi là hồ cầm.

Điển Tích Truyện Kiều - Kết Cỏ
Rằng: Tôi bèo bọt chút thân,
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh
Dám nhờ cốt nhục tử sinh
C̣n nhiều kết cỏ ngậm vành về sau

"Kết thảo, hàm hoàn" là nói sự đền ơn đáp nghĩa.

Kết thảo - kết cỏ lấy điển tích từ thời Chiến quốc Xuân Thu. Vua Cảnh Nông nước Tấn sai Tuần Lâm Phủ làm đại tướng, Ngụy Khỏa là phó tướng đem quân đánh Lộ, là nước nhỏ. Nước Lộ khồng chống cựnổi, chúa là Anh Nhi bị bắt giải về nước Tấn. Ngụy Khỏa được lệnh ở lại trị v́ nước Lộ Cảnh Nông không giết Anh Nhi, nhưng lại đối đăi tử tế, xây một lâu đài riêng cho Anh Hi ở.

Chúa nước Tần là Tần Hoàng Công hay tin Tấn đánh chiếm nước Lộ, bắt Anh Nhi về, cho ở riêng một lâu đài, c̣n cho Ngụy Khỏa ở lại giữ thành Lộ, đang thu phục nhân tâm, tính việc dài lâụ Hoàng Công lo ngại nếu Tấn thống trị được nước Lộ, dân t́nh Lô, quy phục nước Tấn th́ uy thế nước Tấn sẽ vượt hẳn nước Tần. Hoàng Công vội sai đại tướng Đỗ Hồi đem binh cứu Lộ. Đỗ Hồi là một vị tướng có sức mạnh muôn người, chuyên dùng vũ khí là cái búa lớn năng 120 cân; nước Tần nhờ có Đỗ Hồi mà giữ an được bờ cơi, không nước nào dám ḍm ngó cả.

Đỗ Hồi đem quân đến nước Lộ, chỉ một ḿnh một ngưa xông lên phía trước như thế chẻ tre. Ngụy Khỏa không địch nổi phải đóng cửa thành cố thủ, chờ binh cứu viện. Tấn Cảnh Nông tiếp' được thư cầu cứu của Ngụy Khỏa, tức tốc sai tướng Ngụy Ư, là em của Ngụy Khỏa đem binh tiếp viện. Hai cánh quân hợp sức, trong thành đánh ra, viện binh đánh vào những cũng không đẩy lui được quân của Đỗ Hồị Hai anh em lại phải kéo quân vào thành cố thủ.

Đêm đó, Nguỵ Khỏa nằm mơ thấy một lăo ông râu tóc bạc phơ đến nói nhỏ vào tai: "Thanh thảo pha, thanh thảo pha...". Ngụy Khỏa giật ḿnh thức giấc, không hiểu giấc mơ là điềm ǵ, đến hỏi em. Ngụ Ư suy nghĩ hồi lâu chợt nhớ ra:

- Cách đây năm dặm, gần đất Phu Thi có một địa danh tên là Thanh thảo pha. Có lẽ thần linh mách bảo cho anh em chúng ta phải đánh quân Tần tại đó.

Hai anh em đồng ư. Nửa đêm hôm đó, Ngụy Ư lặng lẽ đem quân đến mai phục vùng Thanh Thảo pha. Sáng sớm, Ngụy Khỏa ào ạt kéo quân ra khỏi thành khiêu chiến, rồi bỏ chạy cho quân Đỗ Hồi đuổi theo đến chỗ phục binh. Mặc dù bị rơi vào ổ phục kích, ṿng trong, ṿng ngoai đều bị vây kín, nhưng Đỗ Hồi vẫn tả xung hữu đột rất dũng mănh, giết địch vô số kể. Anh em Ngụy Khẩn kinh hăi, toan thu góp tàn quân chạy về thành, th́ thấy Đỗ Hồi đang mănh liệt vung búa, bỗng nhiên người ngựa đều té lăn xuống đất. Con ngựa hí vang, đứng dậy đi ít bước lại ngă xuống. Đỗ Hồi cũng gượng đứng thẳng nhưng rồi cũng lảo đảo quị gốị Quân lính của Ngụy Khỏa, Ngụy Ư hè nhau bắ t trói được dũng tướng của nước Tần. Sau đó Nguỵ Khỏa truyền chém đầu Đỗ Hồi , cho đem thủ cấp về dâng cho Tấn vương và đại tướng Tuần Lâm Vũ.

Đêm đó, Ngụy Khỏa lại nằm mợ thấy lăo ông trở lại, nói:

- Lăo ông chúc mừng tướng quân thắng trận.
Ngụy Khỏa ṿng tay thưa:

- Có phải lăo trượng đă giúp anh em ta thắng Đỗ Hồi ở trận Thanh thảo pha không?

- Quả đúng như vậỵ Lăo đây đă kết cỏ ở Thanh thảo pha lại, quấn lấy vó ngựa, làm tướng Tần sa chân, người và ngựa không xoay trở được th́ phải thúc thủ.

Ngụy Khỏa bái tạ lăo ông:

- Mạc tướng này chưa được biết lăo trượng, sao lại được giúp' đỡ hết ḷng..

Nguỵ Khỏa chưa nói dứt, thi lăo ông đă cắt lời:

- Lăo phu này là người hàm ơn nặng với tương công. Việc kết cỏ vừa rồi, lăo phu chỉ mong đền ơn đáp nghĩa phần nàọ Lăo đây chính là cha của Tố Cơ, cảm ơn tướng quân ngày trước đă không chôn sống con gái lăo, mà lại cho kết duyên vớ một người xứng đáng. Ơn ấy, dù nay đă ở suối vàng, lăo cũng không quên.

Nói xong, h́nh ảnh ông lăo tan biến mất.

Tỉnh giấc, Ngụy Khỏa t́m đến em. Hai anh em hồi tưởng lại dĩ văng...

Cha Ngụy Khỏa là Ngụy Lê, một tướng tài ba của nhà Tấn, có một hầu thiếp trẻ đẹp là Tố Cơ, nhan sắc mặn mà, nết na đoan chính, thật là một giai nhân quốc sắc. Tướng già, có được hầu thiếp trẻ đẹp, Ngụy Lê vô cùng thương yêu Tố Cợ Sinh thời, lúc c̣n cầm quân xông pha trận mạc đó đây, Ngụy Lê thường căn dặn con:

- Nếu chẳng may cha có bỏ thân nơi chiến trường, th́ con nên t́m nơi tử tế mà gả Tố Cơ, đừng để nàng bơ vơ chếch bóng, làm sao cho nàng được hạnh phúc th́ cha mới ngậm cười nơi chín suối.

Nhưng về sau, Ngụy Lê không da ngựa bọc thây ngoài trận địa, mà lại chết già tại gia. Lúc lâm chung, ông lại "trở chứng", dặn ḍ Ngụy Khỏa:

- Ta sắp ra đi rồị Đến hết đời, cha chỉ có Tố Cơ là người yêu quí nhất. Vậy khi cha chết đi, con hăy chôn nàng theo ta để chim liền cánh, cây liền cành.

Cha chết rồi, Ngụy Khỏa không làm theo lời trăn trốị Ngụy Ư hỏi:

- Sao anh không chôn d́ Tố Cơ theo di mệnh của phụ thân?

Ngụy Khỏa đáp:

- Lúc thân phụ c̣n là một tướng dũng mănh, đem quân đi chinh phạt đó đây, có dặn nếu có mệnh hệ nào, th́phải t́m nơi tử tế gả chồng cho d́ Tố Cơ, để mong nàng an vui hạnh phúc. Lời dặn ḍ đó là một "chân mệnh". Nhưng bây giờ, trước khi mất, tâm thần mê sảng, ư chí không c̣n minh mẫn th́ di mệnh của thân phụ trong lúc lâm chung là "loạn mệnh", chúng ta phận làm con cho tṛn chữ hiếu th́ không nên theo những lời đó.

Ba năm sau, khi đă măn tang cha, Ngụy Khỏa làm chủ hôn, gả d́ Tố Cơ cho một nho sĩ danh tiếng; cuộc đời nàng được an nhàn hạnh phúc.

Thân phụ của Tố Cơ, cho đến chết vẫn ghi ḷng tạc dạ người cứu mạng con gái ḿnh, nên đă hiển linh hiện hồn về, kết cỏ nơi trận địa Thanh thảo pha để đền ơn đáp nghĩa.

Điển Tích Truyện Kiều - Khúc Quảng Lăng
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng Hoa nhạc, hai rằng Qui vân

Kê Khang là một trong nhóm bảy người bạn chí thân người nước Ngụy: Kê Khang, Nguyễn Tịch, Lưu Linh, Nguyễn Đàm, Vương Mậu, Sơn Đào và Hương Tú.

Khi Tư Mă Viêm diệt nhà Ngụy, lập nên nhà Tấn, th́ bảy người này không hợp tác với tân triều, bỏ thị thành vào rừng trúc ở, nên người đời gọi là "Trúc lâm thất hiền". Mỗi người đều có cá tính và nét độc đáo riêng của ḿnh, nhưng nổi bật hơn cả là Kê Khang và Nguyễn Tịch.

Sử nhà Tấn viết rằng Kê Khang là một con người phong nhă, giỏi cầm kỳ thi họa; thường đêm ông ngủ ở đ́nh Hoa dương. Một hôm có người khách tự xưng là người xưa, cảm phục tài hoa của Kê Khang, tặng cho chàng khúc Quảng Lăng, nhưng bắt thề là không được truyền lại cho ai. Sau khi Quảng Lăng chết, khúc nhạc ấy xem như mất. May mắn về sau có nàng Ngọc Nữ khi gảy khúc nhật cung, nguyệt cung, đă dẫn khúc Hoa nhạc và Qui vân đúng âm điệu của Khúc Quảng Lăng c̣n sót lại.

Điển Tích Truyện Kiều - Lam Kiều
T́nh riêng tưởng ít nhớ nhiều
Xăm xăm dè nẻo Lam Kiều lần sang.

Kim Trọng đă mang nặng sầu tương tư Thúy Kiều, thương nhớ dẫn lối cho chàng thư sinh xăm xăm dè nẻo Lam Kiều lần sang.

Lam Kiêù là cây cầu trên sông Lam, thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Chuyện xưa viết: đời nhà Đường, có chàng nho sĩ Bùi Hằng dáng người khôi ngô tuấn tú, tài cao học rộng, lại đủ tài cầm kỳ thi họạ Thành danh xong, một ḿnh trên lưng ngựa trắng, chàng lên đường dong ruổi đó đây , áo xanh Tư Mă Giao Châu, túi thơ bầu rượu. Tiêu dao với danh lam thắng cảnh và cũng mong t́m được ư trung nhân, nhưng măi chàng vẫn chưa gặp được người trong mộng.

Một hôm chàng đi về phía tây bắc thành Thiểm Tây, chợt thấy một thiếu phụ trạc tứ tuần, nhưng dung nhan vẫn c̣n lưu lại nét thanh xuân tuyệt sắc. Không đừng được, Bùi Hằng xuống ngựa, lân la tiến gần đến làm quen. Người đàn bà đẹp, như có ư đợi chờchàng từ trước; nàng tự giới thiệu tên là Vân Kiều và đă biết chàng nho sĩ đa t́nh từ lâu đang cố tâm t́m người xe duyên kết tóc. Nàng bước vào nhà, viết mấy câu thơ lên một mảnh giấy rồi sai người nhà đem ra cho Bùi Hằng:

Nhầ't ẩm quỳnh tương bách cảnh sanh
Huyền sương đáo tận kiến Vân Anh.
Lam Kiều bổn thị thần tiên chốt
Hà tất khi khu thưởng ngọc kinh
(Uống chén quỳnh tương bách cảnh sanh
Huyền sương giă thuốc thấy Vân Anh
Lam Kiều vốn chỗ thần tiên ở
Hà tất đi t́m đến ngọc kinh).

Theo bốn câu thơ dẫn lối chỉ đường của Vân Kiều, th́ chàng phải t́m đến Lam Kiều, chốn thần tiên ở, sẽ gặp Vân Anh, đó duyên trăm năm của chàng. Nhưng Vân Kiều là ai nhỉ, có là giai nhân tuyệt sác như người thiếu phụ này không ?. Chàng cảm nhận Vân Kiều có ư giúp đỡ ḿnh, nên bái biệt giai nhân. lên đường ḍ hỏi t́m đến Lam Kiều. Đi suốt ngày cho đến lúc bóng đêm đen chùm xuống. Bú Hằng phải dắt ngựa vào một quán trọ bên đường, xin nghỉ tạm . Chủ quán là một bà lăo phương phi, trông có dáng tiên phong đạo cốt. Suôt đêm, chàng trăn trở không ngử được, h́nh bóng Vân Anh như nhẹ nhàng từVân Kiều bước ra, đứng ngồị Sáng sớm, Bùi Hằng từ giả chủ quán; vừa đi được dặm đường, khi ngoảnh lại th́ quán lá đă biến đâu mất, mà chỉ là một rừng cây rậm rạp. Trước mặt, một con sông lớn, có chiếc cầu bắc ngang. Có phải Lam Kiều đây không?. Nao nao hồi hộp, chàng lần bước đến bên cầụ Gần đó có một quán nhỏ nằm lọt thơm giữa vườn dâu xanh ngắt. Chủ quán cũng là một bà lăo tóc bạc phơ, tướng mạo uy phong. Chàng xuống ngựa, đi vào quán xin nước uống. Từ nương dâu xanh mướt, bước ra một nhan sắc tuyệt trần. Giai nhan hai tay bưng chén nước mờị Ôi thế gian này sao lại có người đẹp như vậy. Đă bao năm t́m kiếm, từnay ta đă có nàng. Bùi Hằng tŕnh lá thư của Vân Kiều cho bà lăo xem:
- Ta có hai người con gáị Vân Kiều đă thành gia thất; c̣n lại Vân Anh sớm hôm hầu hạ mẹ già. Nhưng nay, rơ ràng là duyên trời định cho đôi lứa, ta nào dám trái ư. Nhưng muốn cưới con tạ th́ phải nạp sính lễ. Sính lễ không phải là vang bạc châu báu, mà là một vật quí. Đó là chiếc chày ngọc để giă thuốc huyền sương; chiếc chày ngọc đó phải khít với cái cối ngọc này.

Bà lăo đưa cho Bùi Hằng xem cái cối ngọc. Cối ngọc làm bằng thứ ngọc quí, xanh biếc. Biết t́m đầu ra chày ngọc. Bùi Hằng đăm đăm nh́n Vân Anh, rồi như sợ sẽ tan mất người trong mộng, chàng đứng vụt dậy, quyết tâm đi t́m cho bằng được vật quí đem vềlàm sính lễ.

Ngày tháng qua quá ê chề, một ḿnh một ngựa bôn ba khắp nơi chân trời góc biển, làm sao t́m được trong dân gian cái chày ngọc để giă thuốc huyền sương. Chút già nua cùng đă ẩn hiện trên dáng dấp phong tú của chàng thư sinh. Rồi một hôm, cũng có một quán bên đường cho chàng dừng chân lại nghỉ qua đêm. Chủ quán, lại là một bà lăo, tay cầm chiếc chày bằng ngọc, hát nghêu ngao:

Chày sương ta có
Ai muốn cần dùng
Duyên thắm chỉ hồng
Cầu sương đợi khách.

Vừa trông thấy chày ngọc trên tay bà lăo, Bùi Hằng quá mững rỡ, vội vàng khấu đầu thi lễ:

- Bao nhiêu năm gian khổ, tiểu nhân đă lặn lội cố t́m cho được chày ngọc giă thuốc huyền sương để làm sính lễ sánh duyên cùng giai nhân bên Lam Kiềụ Xin lăo bà thương t́nh giúp cho tiểu nhân toại ước.

Bà lăo cười hiền hậu :

- Đây là báu vật chỉ trao tặng cho người kiên nhẫn, thành tâm với duyên phận. Công tử xứng đáng nhận sính vật này để thành gia thất với Vân Anh.

Tờ mờ sáng hôm sau, Bùi Hằng tạ từ bà lăo, hối hả lên đường t́m về lại Lam Kiềụ.Bao năm tháng qua đi, nhưng thời gian ở đây như dừng lạị Vân Anh, ôi nhan sắc yêu kiều đang ngồi xe tơ dệt lụa như ngóng trông đợi chàng trở về. Chày ngọc ướm thử vào cối ngọc, vừa khít. Lăo bà vui vẻ cho đôi trẻ làm lễ tơ hồng.

Lam Kiều là điểm hẹn cho duyên lành và là nơi trao đổi sính lễ xe duyên cầm sắc cho t́nh đôi lứa.

Điển Tích Truyện Kiều - Lá Thắm Chỉ Hồng

Lúc t́nh đến độ, Kim Trọng ướm chuyện trăm năm. Thúy Kiều thỏ thẻ thưa:

Dẫu khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.

Lá thắm, theo điển tích là thư từ qua lại của đôi lứa trong ngày con thơ . Nước Sở có thành Tây Độ Quan trấn thủ là Kiều Công Di có aí nữ là Kiều Nga, một giai nhân tuyệt sắc. Bấy giờ, t́nh h́nh trộm cướp như rươị dân t́nh không được an cư lạc nghiệp. Nội thành dành cho người quyền quí; ngoại thành cho thứ dân. Cửa thành luôn được canh pḥng nghiêm ngặt, thường dân ra vào bị xét hỏi rất ngặt.

Giai nhân Kiều Loan đă thầm yêu trộm nhớ chàng nho sinh mạc rệp Kim Ngọc. Nhà chàng ở ngoại thành, nghèo rớt mồng tơi. Cậu học tṛ không dễ ǵ qua được cổng thành, nói chi đến chuyện lọt được nha môn để gặp gỡ người yêu. Bên này bên kia thành quách mà tưởng như núi non ngh́n trùng. Không gặp nhau được, mỗi người chỉ biết nh́n gịng sông thở vắn than dài. Sông kia, mỗi ngày hai lần triều lên xuống, con nước từ ngoại thành đi vào rồi lại chảy rạ Theo triều lên xuống, đôi gái trai đă viết thơ trên lá, thả xuống sông, nhờ gịng nước mà trao đổi tâm t́nh cho thỏa nhớ thương. Gịng sông đă trở thành gịng lá thắm.

Những câu nói trong dân gian như lá thắm, tơ hồng vươn vấn hoặc nguyệt lăo xe tơ đều lấy trong điển tích ông tơ bà nguyệt. Theo Thần tiên tuyện , thời Nguyên Ḥa nhà Đường rất thái b́nh, có quan đại thần Chung Thôi rất giàu sang, thuộc vào hàng danh gia vọng tộc. Quư tử của Chung Thôi la Chung Hạo thông minh đĩnh ngộ; mới 12 tuổi đa ~ văn hay chữ tốt, quan lại trong triều ai cũng khen ; các vị có con gái đều mong muốn kết sui gia với Chung Thôi.

Ngoài thời gian vui thú cùng cầm kỳ thi họa, Chung Hạo cũng thường theo cha đi săn bắn. Một hôm đi săn, mải đuổi theo con thỏ, Chung Hạo lạc vạ rừng sâu, quanh co cả ngày không t́m được lối rạ Đêm xuống lạnh giữa rừng hoang, Hạo bắt đầu thấy sợ Dưới ánh trăng bỗng nghe tiếng suối róc rách. Chàng lần đến t́m nước uống. Bên bờ suối, trong hang đá, một bà lăo đang ngồi xe chỉ, màu chỉ đỏ thắm. Chung Hạo khẽ bước lại gần, kính cẩn thưa:

- Tiểu nhân đi săn, bị lạc đường. Xin hỏi nơi đây là đâu, sao lăo bà lại ngồi một ḿnh xe chỉ đỏ

- Đây là động tiên. ta đang ngồi xe duyên cho những đôi t́nh yêu nhau dưới trần gian. Chỉ này là dây tơ hồng. Ta xe nhiều hay ít th́ trai gái cũng theo đó mà thương yêu nhau nhiều hay ít. Ta muốn đôi trai gái nào nên vợchồng th́ ắt chúng sẽ kết duyên, không xa ĺa nhau được.

- Vậy thưa lăo bà có thể cho tiểu nhân biết sau này sẽ được sánh duyên cùng ai ?.

Lăo bà đưa mắt nh́n vào bên trong động. Ở đó có một ông lăo đang cúi gầm trên một cuốn sách dày cộm.

- Kià là ông tợ Công tử muốn biết th́ hỏi ông ấỵ

Ông lăo hỏi tên tuổi Chung Hạo rồi lật từng trang sách ra tra cứu:

- Sau này công tử sẽ được xe duyên với Tố Lan, con gái một mụ ăn mày ở chợ Đông, gần kinh thành.

Laơ ông chưa dứt lời, Chung Hạo đă đùng đùng nổi giận. Đường đường là một quí tử của quan đại thần, tài nghệ, văn hay chữ tốt khó ai b́ kịp mà sau này lại kết duyên cùng vơi con gái mụ ăn mày. Tức tối, chàng quay bước đi, không một lời chàọ Ông tơ vẫn chúi đầu trong sổ bộ, bà nguyệt vẫn b́nh thản xe xe chỉ hồng.

Chung Hạo chaỵ thụt mạng suốt đêm trong rừng sâụ May mắn, sáng sớm mai, gặp được quân lính triều đ́nh đang tỏa đi t́m kiếm. Trở về dinh, sau ngày đó, chàng công tử đâm ra biến ăn lười nóị Lời tiên tri của ông tơ như cứ lởn vởn rít ra trong đầu. Đến một hôm, không không d́m được sự thôi thúc, Chung Hạo cùng một gia đồng t́m xuống chợ Đông. Vừa đến đầu chợ, đă gặp ngay một đứa bé gái chừng 9 tuổi mặt mày lem luốc, áo quần rách bươm, dắt theo một bà ăn xin mù ḷa. Tên gia đồng dọ hỏi th́ biết được tên của con bé là Tố Lan. Chung Hạo thất kinh, ù té chạy về dinh, tâm thần hoảng loạn. Không được, không thể nào, ta lại chịu khuất phục số mệnh, để làm chồng một con bé ăn mày bẩn thỉu như vậy được. Làm thế nào đâỵ Suy nghĩ cạn nước, chỉ c̣n cách làdiệt trừcái mầm định mệnh khắc nghiệt đó đi..

Với rắp tâm sẵn, một buổi sáng Chung Hao một ḿnh t́m xuống chợ Đông. Anh ta đứng nấp sau một thân cây lớn. Cô bé dắt mẹ đi qua. Chàng ta cầm ḥn đá, liệng ngay vào đầu con bé rồ́ ù chạỵ Sau đó, ḍ hỏi tin tức th́ được biết con bé bị thương tích quá nặng, e không sống được; và rồi bà lăo mù cũng không c̣n thấy ăn xin giữa chợ Đông nữa.

Bảy năm saụ Chung Hạo đă nên danh phận. Nghe tin thiên hạ bàn tán ở huyện Trúc Giang có con gái quan Thái úy nổi danh là một giai nhân sắc nước hương trời, tên là Thảo Nương. Vương Tôn công tử gần xa, ngày đêm đến cầu thân, nhưng chưa ai được kén chọn. Chung Hạo t́m đến, thuê một pḥng trọ trước phủ đường. Mới một lần t́nh cờ nh́n thấy Thảo Nương, Chung Hạo chao động cả ḷng. Chàng vội quay trở về nhà, xin phụ thân Chung Thân tính đường mai mố
i. Hai gia đ́nh là môn đăng hộ đối, nên việc kết hôn sớm viên thành . Đôi uyên ương nên vợ chồng yêu nhau mặn nồng.

Một hôm, Chung Hạo âu yếm gội đầu cho Thảo Nương. Thấy vợ ḿnh có mộ t cái thẹo lớn đàng sau gáy, chàng hỏi:

- V́ sao có cái thẹo này ?

- Nguyên, thiếp là con một bà ăn mày mù ở chợ Đông. Lúc nhỏ, một hôm đang dắt mẹ đi ăn xin, không hiểu sao lại có một kẻ xấu cầm đá ném vào đầu. thiếp, thương tích nặng, tưởng đă ĺa đời. May nhờbà con tận t́nh cứu chữa. Và sau đó, may mắn được quan Thái úy có ḷng từ tâm, lại hiếm muộn , nên đem hai mẹ con thiếp' về nuôi dưỡng. Thiếp' được nghĩa phụ dạy dỗ, cho ăn học. Mẹ thiếp qua đời. Thiếp được giúp việc bút nghiên cho nghĩa phụ nơi công đường. Đă rất nhiều đám đến dạm hỏi, nhưng đều bị từ chối. Lạ thay, bên nhà chàng vưa ngỏ , th́ dưỡng phụ bằng ḷng ngay. Chúng ta đẹp duyên ngày nay chắc là có duyên nợ

- Không, Thảo Nương nàng ơị Nếu là định mệnh th́ nàng phải là...

- Tố Lan. Tố Lan là tên của thiếp lúc c̣n bé. Sau khi được đưa về dinh, nghĩa phụ đă xin ư mẹ, đổi tên này.

Thiên Hạo đă tin hẳn duyên giai ngẫu là do thiên định. Chàng say đắm ngắm nh́n cái duyên số Tố Lan của ḿnh và khẽ ngâm:
Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng

(Có duyên ngàn dặm xa vẫn gặp
Không duyên tận mặt vẫn cách ḷng
)

Điển Tích Truyện Kiều - Liễu Chương Đài

Khi về hỏi liễu Chương đài
Cành xuân đă bẻ cho người chuyền tay

Đời vua Đương Huyền Tông có chàng tú tài Hàn Hủ, nổi tiếng là danh sĩ, lên kinh đô Trường An chuẩn bị thi tiến Sĩ. Chàng ta thuê pḥng trọ ở phố Chương đài, phía Tây kinh thành.

Cạnh bên nhà trọ Hàn Hủ là nhà Liễu thị, một ca kỹ tài sắc đă làm đắm say lắm tao nhân mặc khách, nhưng không ai dám ngỏ t́nh, v́ giai nhân đă có vị tướng quân họ Lư bảo bọc. Mỗi lần tướng Lư đến thăm Liễu thị, đều có mời Hàn Hủ sang chơị Hai người đối ẩm trong giọng ca tiếng đàn nàng Liễụ Phần Liêũ thi, những lúc ở nhà một ḿnh, lại thường nh́n qua kẽ vách ḍm sang nhà Hàn. Liễu thị thấy Hàn Hủ tuy nghèo khó, nhưng lại rất phóng khoáng, hiếu khách. Nh́n trộm lâu ngày, thấy thương, rồi thầm yêu chàng tú tàị Hôm đó, Lư tướng quân đến, Liễu thị đánh bạo, thưa:

- Hàn Tú tài là người có hoàn cảnh khó khăn nhưng lại rất hào sảng. Tương quân đă kết thân với chàng ta, th́ thiếp nghĩ cũng nên t́m cách giúp đỡ.

Tướng Lư gật gù, cười độ lượng, truyền Liễu thị bày tiệc, rồi mời Hàn Hủ sang nói chuyện:

- Hàn Tú tài là bậc danh sĩ ; Liễu thị là kỹ nữ tài sắc. Danh sĩ mà sánh duyên cùng tài sắc chẳng phải là xứng đôi lắm sao?. Ta đứng chủ hôn cho đôi lứa.

Cả hai người được gá duyên đều ngây người trước thái độ bao dung của tướng quân. Qua hồi xúc động, đôi lang nương lạy tạ ơn vị tướng quân " fair play " nàỵ Sau đó, Lư tướng quân từ biệt , hai người sống chung với nhau như vợ chồng, t́nh yêu tha thiết.

Tú tài Hàn Hủ tuy là người lỗi lạc, nhưng thi tiến sĩ lại không đỗ. Vợ chồng không lấy thế làm điều khổ tâm, vẫn thương yêu nhau trong cuộc sống hàn vị Bốn năm sau, có quan Tiết độ sứ Thanh Châu là Hầu Di Dật, từ lâu ngưỡng mộ tài năng của Hàn Hủ, đă tâu với vua xin chàng về làm ṭng sự Hàn Hủ phải về Thanh Châu nhận chức, hẹn với Liễu thị khi cuộc sống ổn định, sẽ trở về lại kinh đô rước nàng.

Nhưng rồi công việc tất bật, sau ba năm Hàn Hủ không về kinh được, gởi cho nàng lá thư với nỗi phập phồng nàng kỹ nữ đă ôm cầm sang thuyền khác:

"Chương đài Liễu, Chương đài Liễu
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ
Túng sử trường điều tự cửu thùy
Dă ưng phan chiết ta nhân thủ ".
(Liễu Chương đài, Liễu Chương đài
C̣n chăng thuở trước dáng xanh tươi
Thướt tha vẫn giống như năm nọ
Vin bẻ đành tay kẻ khác rồi!

Đọc thơ, Liễu thị hiểu là chồng âu lo ḿnh phụ bạc. Nàng đáp thư:

"Dương liễu chi, phương chi tiết,
Khá hận niên niên tặng ly biệt.
Nhất diệp tùy phong hốt báo thu
Túng sử quân lai khởi kham chiết ".
(Nhành dương liễu, trạc xuân xanh
Đeo nặng bao năm nỗi biệt t́nh
Chiếc lá gió đưa, thu đà tới
Chàng về chưa chắc được vin cành.

Sau đó, Liễu thị xuống tóc vào nương cửa Phật, tránh lũ bướm ong quấy nhiễu.

Thương cho nàng. đă vào chùa mặc áo nâu sồng mà vẫn không yên câu kinh tiếng mơ. Phiên tướng Sa Tra Lợi đang tại chức Xạ Kỵ tướng quân của vua Đường Huyền Tông, xông vào thiền môn, bắt Liễu thị về làm thiếp.

Thời gian cũng qua đị.

Mướ hai năm sau, Tiết độ sứ Hầu Di Dật về kinh công cán, Hàn Hủ tháp tùng. Về đến Tràng An, Hàn Hủ thăm ḍ tin tức mới biết vợ ḿnh đă sa vào tay kẻ khác. Thế cô, phận nhỏ đành im tiếng. Một hôm, đang tảng bộ trên phố th́ gặp một cổ xe ngựa thong thả đi quạ Trên xe chợt có giọng đàn bà vọng ra:

- Có phải Hàn viên ngoại ở Thanh Châu đó không ?.
Nghe giọng nói, Hàn Hủ rúng động, ấp úng chưa kịp trả lời, th́ người trên xe tiếp:

- Ngày mai, thiếp cũng sẽ qua đường này. Xin chàng hăy đến đây cho thiếp trông thấy lần cuối.

Hôm sau, y hẹn, Hàn Hủ đứng chờ đợi t́nh. Chiếc xe đến, từ trên đó ném xuống chiêc khăn hồng bọc ngoài một hộp sáp thơm. Giọng đàn bà thổn thức:

- Cảm ơn chàng, em đă trông thấy t́nh lần cuốị Vĩnh biệt phu quân.

Xe vụt chạy nhanh mất hút. Đêm đó, Hàn Hủ phải dự tiệc với hàng quan chức ở kinh thành nơi một tửu lầu sang trọng. Trong tiệc, mọi ngướ đều cười nói vui vẻ chỉ có ḿnh Hàn Hủ mặt ủ mày ệ Có người gạn hỏi nguyên nhân; Hàn Hủ phải đem chuyện ḿnh kể trong bàn tiệc. Hàn vừa dứt lời, viên tướng trẻ Hứa Tuấn ném mạnh chén rượu xuống đất, đánh "xoảng", cất giọng oang oang:

- Giữa kinh thành này mà cũng có quan triều đ́nh làm loạn vậy sao ? Tiểu nhân này, tu y tài hèn sức mọn nhưng cũng xin được ra tay, đưa phu nhân về cho Hàn viên ngoạị Xin Hàn viên ngoại hăy viết ít chữ để làm tin với phu nhân.

Hàn Hủ chép lại bài thơ Liễu thị đă gởi cho ḿnh mười lăm năm trước khi vào qui y cửa Phật. Hứa Tuấn nhận thư, phóng ngựa đến tư dinh của Sa Tra Lợị Tướng Phiên này đang vắng nhà. Hưá Tuấn lớn tiếng với đám gia nhân:

- Tướng quân bị ngă ngưạ, thương tích nặng, e khó qua khỏị Ngài bảo ta về rước phu nhân cho ngài gặp mặt.

Hứa Tuấn phóng ngựa chạy thẳng vào dinh. May mắn, Liễu thị đang sắp sửa nhờ ba thước lụa kết liễu đời ḿnh., th́ nhận được bài thơ t́nh của ḿnh đă viết cho t́nh lang. Hứa Tuấn đỡ bà lên ḿnh ngựa, phóng như bay trở về tửu lầụ Có ai đang hồi hợp chờ đợi, lồng ngực th́nh thịch liên hồị Rồi, hai trái tim cùng chung nhịp đập.

Điển Tích Truyện Kiều - Mạt Cưa Mướp Đắng
T́nh cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường
Chung lưng mở một ngôi hàng
Quanh năm buôn phấn bán hương đă lề

Hàn sĩ Thúc Thôi được hưởng gia tài cha mẹ để lại. Học hành chẳng ra ǵ, lại biếng nhác, nên thi măi vẫn trượt. Chán nản bút nghiên, chàng ta bán hết gia tài, ăn tiêu rồi cũng hết, không có ǵ để sống. Bà con lối xóm không nỡ để một nho sinh chết đói nên t́m cách mai mối cho nàng Lưu Di, một thiếu phụ trẻ góa chồng, đảm đang.

Sống chung được thời gian ngắn, Thúc Thôi lại quen thói lười biếng, cả ngày chỉ nghêu ngao, không chịu làm lụng, ăn bám vợ đến hết cả vốn liếng của Lưu Di đă dành dụm được. Lưu Di cắn răng chịu đựng, nhưng đến lúc cùng cực quá, nàng phải thưa với chồng:

- Lang quân cam chịu cảnh nghèo đói này măi sao?

- Ta chỉ sống với văn chuơng chữ nghĩa, từ nhỏ đến lớn chỉ biết đọc sách ngâm thợ Nay ta phải biết làm chi cho ra tiền đây?

Lưu Di e dè:

- Văn chương chữ nghĩa không bằng ai th́ thôi cũng phải kiếm việc khác làm ăn sinh sống chứ.

Thúc Thôi cười khẩy:

- Hiền thê ơi, đừng quá âu lo. Hôm nay ta là hàn sĩ, ngày mai đỗ đạt, th́ tha hồ phú quí vinh hoa. Thôi được, trong lúc đợi bảng vàng đề tên, ta sẽ nghĩ ra một cách ǵ đó, không cần phải làm lụng cực nhọc, ma vẫn hái ra tiền.

Rồi mấy ngày sau, người ta thấy Thúc Thôi lẩn quẩn đây đó, lúc ra chợ, lúc vào xóm, như một học giả suy tư. Cuối cùng, chàng ta đem về một thúng mạt cưa, khoe vợ:

- Món hàng này không vốn mà bán được tiền. Mạt cưa này thợ cưa vất đi, ta lấy về đem ra chợ bán, giả làm cám heọ Sẽ có khối người bị lừa.

Lưu Di ngăn cản:

- Sao lại làm việc gian dối như vậy, thật là bất nhân.

Thúc Thôi dạy khôn:

- Miễn sao được tiền th́ thôi! Đời mà! khôn sống, dại chết.

Không kể lời khuyên can của vợ, sáng sớm hôm sau, Thúc Thôi bưng thúng mạt cưa ra chợ, rao bán cám. Nhưng cho đến chiều tối vẫn chưa có ai bị lừa. Hôm sau, Thúc Thôi lại bưng thúng cám dỗm ra chợ lần nữa. Đến chạng vạng, th́ may thay, có một nàng đội thúng mướp trái xanh mởn đi ngang qua. Cô nàng mời:

- Tôi đang muốn bán thúng mướp tươi này để lấy tiền mua cám heo. Chúng ta thỏa thuận hàng đổi hàng nhé.

Thúc Thôi mưng rỡ, ỌK ngay, phen này trúng mánh, nhẫm tính thúng mướp cũng bán được bộn tiền. Chàng ta hí hửng bưng thúng mươp về khoe vợ Lưu Di bật cười:

- Trời đất! Đây là loại mướp đắng, loại trái mọc hoang trên núi, không ăn được. Ừ mà thôi , như vậy cũng hay, cùng là một phường lừa phỉnh nhau, mướp đắng đổi ấy mạ t cưa, không ai thua ai!

Điển Tích Truyện Kiều - Nàng Ban

Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này.

Ban Chiêu tự là Huê Cơ là người đàn bà hay chữ đời Đông Hán. Năm mười lăm tuổi Ban Chiêu đă biết làm thơ và làu thông Tứ Thư, Ngũ kinh. Lấy chồng là Tào Thế Thức, một danh nho của Đông Hán. Sống chung được mười năm th́ Tào Thế Thức qua đời v́ bệnh; Ban Chiêu thủ tiết thờ chồng.

Đời vua Hoà Đế, Ban Chiêu được triệu vào cung để dạy học cho các hoàng tử và các phi tần. Lúc bấy giờ cha của bà là Ban Bưu đang tại chức Đông các đại học sĩ, chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Hán Thư. Công việc đang c̣n dang dở th́ ông qua đời. Anh của ban Chiêu là Ban Cố được nhà vua chỉ định tiếp tục công tŕnh của cha. Nhưng chẳng bao lâu, Ban Cố cũng qua đời v́ bạo bệnh, trong khi bộ Hán thư vẫn chưa xong. Ban Chiêu tâu với vua cho bà được tiếp nối công tŕnh. Vua Ḥa đế chấp thuận và bà được sung vào Đông các tàng thư tiếp tục soạn bộ Hán thư cho đến hoàn tất.

Trong thời gian ở Đông các tàng thư, Ban Chiêu đă trước tác tập Nữ Giới, gồm bảy thiên. Từ đó lẫy lững tài danh Ban Chiêu.

Điển Tích Truyện Kiều - Nàng Oanh

Dâng thư đă thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lư bán ḿnh hay sao ?

Đời nhà Hán có Thuần Vu Ư làm quan đất tề ; nhà không có con trai, chỉ sinh được 5 con gái, Đề Oanh là gái út.

Thuần Vu Ư mắc tội lớn phải thọ h́nh. Khi bắt giải tử tội về kinh , Đề Oanh đi theo cha. Đến kinh thành, nàng dâng thư lên Hán Văn Đế tâu rằng, nếu cha chết đi, cũng không mảy may đền được chút tội; nay thân gái này khẩn thiết xin vua được cho vào cung làm cung nhân thô (người làm sạch sẽ cho vua sau mỗi lần vua đi vệ sinh), để chuộc tội một phần nào cho cha. Hán Văn Đế đọc thư của nàng Oanh, cảm động v́ ḷng hiếu hạnh của nàng nên tha tội cho Thuần Vu Ư.

Điển Tích Truyện Kiều - Phiếu Mẫu

Ngh́n vàng gọi chút lễ thường,
Mà ḷng Phiếu Mẫu, mấy vàng cho cân


Bà Phiếu Mẫu, nhànghèo khó, đă giúp Hàn Tín trong cơn đói cơm rách áo. Thuở hàn vi, Hàn Tín nghèo rớt mồng tơi, ngày ngày câu cá, nhưng cũng không kiếm đủ miếng ăn. Tuy vậy, Hàn Tín lại rất ham mê đèn sách, nghiên n cứu binh thư; lại muốn ra oai như ḿnh là con nhà vơ, đi đâu cũng lè kè mang theo cây kiếm. Bà Phiếu Mẫu ở cạnh nhà, kiếm ăn bằng nghề giặt thuệ Tuy miếng cơm vẫn thiếu trước hụt sau, nhưng thấy Hàn Tín quá đói khát, bà thường dẫn chàng dở hơi này về nhà cho cơm. Hàn Tín cảm động thưa:

- Xin cảm on bà đă quá tử tế với tôi. Sau này công thanh danh toại tôi nguyện sẽ không quên ơn bà.

Phiếu Mẫu cười hiền hậu:

- Ta thấy ngươi đói khát, nên chia sẻ miếng cơm giọt nước với ngươi, chứ đâu cần ngươi sẽ trả ơn sau này. Đàn ông ǵ như ngươi , tự nuôi thân không nổi th́ noí chi đến quyền cao chức trọng sau này.

Hàn Tín hỗ thẹn v́ lời chê trách, nên không dám t́m qua nhà Phiếu Mẫu kiếm cơm nữa. Bà già vẫn thương người cùng khổ, ngày ngày đem cơm đặt trước căn lều của Hàn Tín. Người trong làng xóm biết chuyện, gọi đó là "Bát cơm Phiếu Mẫu".

Một hôm ở ngoài chọ có gă bán thịt to lớn, trông thấy Hàn Tín bước đi xiêu vẹo nhưng vẫn ḷng tḥng thanh kiếm bên lưng. Gă trêu tức:

- Này tên ma đói kia, nam nhi như mày mà không kiếm ăn được, hằng bữa phải nhờ đến bát cơm Phiếu Mẫu, không biết nhục à? Có giỏi th́ rút kiếm ra đấu, ta tay không. Thắng được ta thưởng cho cái đầu heo. Bằng không dám đấu, th́ luồn dưới trôn của ông nội mày đây.

Sắc mặt Hàn Tín đă xanh này càng xanh hơn. Tần ngần một lúc, Hàn Tín khúm núm ḷn qua trôn gă hàng thịt. Cả chợ nhốn nháo chê cười Hàn sĩ. Nhưng có một tiều phu là Hứa Phụ, t́nh cờ qua đó, dừng lại trước Hàn Tín:

- Huynh là người có tướng vương hầu; tuy nay khốn khổ nhưng hậu vận lại vinh hoa phú quí.

Hàn Tín trở vềtúp lều, ngày đêm vẫn miệt mài dùi mài kinh sử. Lúc Hạng Lương nước Sở khởi binh đánh Tần, Hàn Tín đứng chống gươm bên bờ sông Tứ Thủy, tự t́m cơ hội tiến thân. Trông thấy Hàn Tín ngoại h́nh xanh xao vàng vọt, Hạng Lương "dội" ngay. Nhưng quân sư Phạm Tăng vội khuyên:

- Tuy nh́n bề ngoài yếu đuối, nhưng chân tướng là người thao lược, ngài chớ nên bỏ

Hạng Lương miễn cưỡng nhận lời, cho Hàn Tín làm chấp kích lang, tức là vác giáo theo hầu.

Trong thơi gian này, Lưu bang đang dựng nghiệp đế ở Hán Trung, nhờ Trương Lương, giả lam lái buôn, đi chu du thiên hạ để chiêu hiền. Khi đến đất Sở, gặp được Hàn Tín, Trương Lương nhận ra ngay đây là một chân tài nhưng Sở không biết dùng người. Trương Lương bèn làm quen, và trao cho Hàn Tín một thanh kiếm báu, đề thơ tặng:

Kiếm báu lập ḷe tay dũng sĩ
Non sông một giải chí hiên ngang.
Máu hồng, men rượu say băng tuyết
Muông dặm sơn hà một tấc gang.

Hàn T́'n đang c̣n ngỡ ngàng, th́ Trương Lương đă tiếp:

- Tại hạ biết được huynh là đấng hào kiệt nên đem kiếm báu tặng chứ không bán. Nay có chút quà mọn, xin huynh chớ từ chốị Hăy cùng nhau nhấp chén rượu mừng buổi sơ kiến. Hẹn ngày hội ngô trên đất Hán.

Sau chầu rượu, Trương Lương thuyết phục Hàn Tín nên bỏ Sở, về pḥ Lưu Bang, là người nhân đức biết trọng lương thần, xứng danh thiên tử. Hàn Tín thuận t́nh, nên bỏ trốn khỏi Sở. Mấy ngày lạc trong rừng không t́m đường để lần đến Hán Trung, đói khát lả người. May thay, gặp được một lăo tiều, cho ăn uống và hướng dẫn đường đi nước bước chu đáọ Hàn Tín sụp lạy cảm ơn cứu tử, rồi nhanh nhẹn lên đường. Nhưng vừa qua được một khúc quanh, Hàn Tín chợt nghĩ:

- Ta đang bị Sở Bá Vương truy nă. Nếu chẳng may quan quân Sở cũng lần ra dấu vết đến đây, hỏi lăo tiều phu này, th́ tính mạng ta khó thoát. Lăo già suốt ngày lẫm lũi trong rừng sâu, rồi cực khổ cũng chết khô xương , c̣n ta, cả cơ đồ sáng lạng trước mắt. Thôi th́, ta đành làm người vong ơn bội nghĩa..

Hàn Tín quay trở lạị Kiếm vung lên, thân lăo tiều phu đứt làm đôị Hàn Tín đem xác vùi bên sườn núi.

Khi đến Hán Trung, Hàn Tín được Tiêu Hà - cận thần của Hán Vương tiếp kiến, liền tiến cử với Hán Vương. Vừa nghe đến tên Hàn Tín, Hán Vương đă cười khẩy:

- Khi c̣n ở huyện Bái, ta đă nghe tiếng người này ḷn trôn Đỗ Trung, xin cơm Phiếu Mẫu, làng nước ai cũng khinh bỉ. Con người như vậy th́ làm sao mà làm được việc lớn?.

Tiêu Hà bào chữa:

- Xin Chúa công hăy suy xét, nhiều người bần tiện thuở thiếu thời nhưng sau vẫn dựng nên sự nghiệp, như Y Doăn là người sơn dă, Thái Công là kẻ đi câu ở sông Vị, Ninh Thích là gă buôn xe, Quản Trọng là kẻ tội đồ, đến lúc gặp thời đều làm nên đại sự. Hàn Tín tuy đă ḷn trôn mưu sống, xin cơm cứu đói, giết ân nhân để trừ hậu hoạn..nhưng đó vẫn là người uyên bác, mưu lược; không dùng, tất hắn sẽ bỏ đi t́m nơi khác trọng dụng.

Nể lời tấu tŕnh của cận thần, Hán Vương giữ Hàn Tín lại, cho làm thủ kho lương thực. Tiêu Hà không đồng ư v́ cho rằng Hàn Tín là người trí dũng, đem dùng vào việc nhỏ không xứng với tài năng. Phần Hàn Tín cũng chán nản; nấn ná một hai hôm lại trốn đi, để lại ít câu thơ, thảo trên vách:

Anh hùng lỡ vận bước long đong
Thà chịu an thân khỏi thẹn ḷng
Vó ngựa xa vời trông cố quận
Công danh chán ngắt mộng anh hùng.

Tiêu Hà hay tin Hàn Tín đă bỏ đi, dậm chân kêu trời, tiếc thay người tài không có đất dụng vơ. Không nản ḷng, Tiêu Hà đem theo ít quân hầu lần theo dấu tích Hàn Tín. Khi t́m gặp được, Tiê Hà cầm tay Hàn Tín ân cần:

- Cổ nhân có câu: Sĩ vị tri kỷ giả tử (kẻ sĩ có thể chết theo người tri kỷ). Tại hạ hiểu huyng là người tài, đă quyết tâm tiến cử, nhu8ng Chúc công vần chưa tin dùng. Nay nếu một lần tiến cử nữa, mà Chúa công vẫn không nhận, th́ Tiêu Hà này cũng từ chức mà lui về vườn.

Hàn Tín cảm kích ḷng thành của Tiêu Hà, nên lại lên ngựa quay trở về Hán Trung. Nghĩ đến số phận ḿnh c̣n long đong, Hàn Tín đề thơ:

Mây gió phôi pha bóng nguyệt tà
Vận thời chưa gặp khó bôn ba
Nghèo hèn phận bạc đớ dang dở
Con tạo trêu ngươi măi thế à!

Chợt, Hàn Tín nhớ mấy câu thơ của "anh lái buôn " Trương Lương đă đề tặng ḿnh. Lúc đó, Trương Lương vẫn c̣n chu du chiêu hiền chưa về đến. Hàn Tín đưa thơ cho Tiêu Hà xem. Tiêu Hà mừng rỡ:

- Trời đất, thư giới thiệu của Tử Pḥng, sao tướng công đă không tŕnh cho Chúa công.

Khi xem thơ của Trương Lương, Hán Vương giật ḿnh:

- Ôi chao, th́ ra người của Trương Tử Pḥng tiến cử. Ta thật không biết nh́n người.

Theo đề cử của Tiêu Hà, Hán vương phong Hàn Tín làm Đại Nguyên Soáị Hàn Tín đă đem tài năng ḿnh pḥ Lưu Bang, tóm thâu thiên hạ, dựng nên nhà Hán.

Trong khi danh vọng ngất trời, Hàn Tín vẫn hănh diện v́ cái quá khứ bát cơm Phiếu Mẫu của ḿnh và cũng từ đó, lưu truyền trong dân gian điển tích này.

Chỉ tiếc khi tài - danh lên tột đỉnh, Hàn Tín vẫn không hượm chân, nên đă chết thảm dưới tay Lữ Hậu.

Điển Tích Truyện Kiều - Quạt Nồng Ấp Lạnh

Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Tích quạt nồng ấp lạnh có trong sách "Nhị thập tứ hiếu" của Quách Cự Nghiệp đời nhà Nguyên.

Đời Hậu Hán có đứa trẻ lên 9 tên là Hoàng Hương. Mẹ mất quá sớm, Hoàng Hương ở vơi cha; cậu bé thờ cha một mực hiếu đễ.

Vào muà hạ, thời tiết về đêm nóng nực oi bức, Hoàng Hương thường xuyên quạt màn chiếu, chăn đệm cho thoáng mát trước khi cha ngủ. Muà đông, tiết trời lạnh lẽo, đêm đêm trước khi cha đi ngủ, Hoàng Hương vào giường cha nằm lăn qua trở lại rất lâu, để mền chiếu ấm hơi người cho cha già được ngon giấc.

Điển Tích Truyện Kiều - Sâm Thương
Nàng rằng: Nghĩa trọng ngh́n non
Lâm Truy người cũ chàng c̣n nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ ṭng
Tại ai, há dám phụ ḷng cố nhân

Sâm Thương, tên gọi trong dân gian là sao Hôm, sao Mai, là hai v́ sao chẳng bao giờ trông thấy nhau, một đằng Đông buổi tối, một phía Tây ban sáng.. Truyện Thần tiên kể rằng:

Hàng năm, tại Thiên đ́nh có hội Bàn Đào, tiên ông tiên nữ tề tựu dâng lễ vật, hái đào tiên chúc tụng Ngọc Hoàng. Tiên đồng Bảo Sâm theo hầu một tiên ông, ngọc nữ Thanh Thương theo hầu một tiên cô. Hai trẻ t́nh cờ, gặp gỡ , quen biết nhau rồi sinh t́nh. Trước ngày mở hội, đôi trẻ có chút thời gian bên nhau t́nh tự.

Một nhân vật thứ ba, tiểu đồng Trường Quang, cũng t́nh cờ gặp gỡ Thanh Thương, nhưng t́nh chỉ sinh một hướng, Thanh Thương đă yêu đậm Bảo Sâm mất rồi. Bị t́nh lờ, Trường Quang sầu thảm.

Đến ngày Bàn Đào khai hội, đàn ca xướng hát rộn ràng. Các tiểu đồng, ngọc nữ nhịp nhàng như vũ điệu, tay bưng khay, tay nâng chén ngọc hầu rượu các tiên ông tiên bà.

Thanh Thương, là ngọc nữ hát hay múa đẹp nhất, nên được chọn dâng chén cho Ngọc Hoàng. Nhưng tâm hồn nàng để lạc đâu đâu, đôi mắt cứ dơi t́m Bảo Sâm, nên sẩy tay đánh rơi cả khay ngà chén ngọc. Thanh âm ngọc vỡ tan hoang. Từ bàn dưới nh́n lên, Bảo Sâm thấy tai hoạ đang giáng xuống cho người yêu cũng sửng hồn, khay chén trên tay cũng đánh xoảng rơi xuống đất. Đàn ca xướng hát thanh thoát, bỗng nín bặt.,

Ngọc Hoàng xử tội ngay đôi trẻ:

- Đôi tiên đồng, ngọc nữ c̣n non tuổi mà lại dám bày tṛ yêu đương nơi cơi, tội đáng đày xuống trần gian cho làm một kiếp thú, sống trong núi thẳm rừng sâu, kiếp sau mới được đầu thai làm người ở luôn dưới cơi trầ.n...

Trường Quang không phạm lỗi chi cũng run lập cập khi Ngọc Hoàng đang xử tội người yêụ. một chiều; khi vưa nghe lớ kết tội đày xuống trần gian làm thú, không nén được đau thương, Trường Quang đă thét lớn: "Thanh Thương ơi, Thanh Thương ơi, ta nguyện theo nàng xuống trần gian. Ngọc Hoàng thêm giận, ừ th́ muốn theo th́ ta cho thỏa ước mơ, truyền cho đày tiểu đồng t́nh dại này đi chung một chuyến.

Các tiên ông tiên bà, thương cho ba trẻ t́nh si, chỉ v́ thương yêu mà chuốc họạ Họ đồng thanh xin Ngọc Hoàng nương tay, chớ đày xuống trần gian, mà hăy cho ở lưu lạc đâu đó trên trời.

Lời câu xin của các tiên, Ngọc Hoàng nguôi ngoai cơn giận, phán lại lần cuối cho chúng làm hai ngôi sao, tuy ở chung cùng trời, nhưng không bao giờ được gặp nhau.

Nàng Thanh Thương làm sao Thương, là sao hôm, chỉ mọc lên ở hướng đông lúc về đêm; Bảo Sâm trở thành sao Sâm, là sao mai, mọc ở phía tây lúc trời hửng sáng.

C̣n Trường Quang, sẽ được như ư, suốt đời t́m kiếm t́nh yêu, th́ biến thành sao "vượt", bay đi xẹt lại trọn kiêp mà kiếm t́m.

Ca dao Việt
Nam ta có câu:
Sao hôm chờ đợi sao mai
Trách ḷng sao vượt nhớ ai băng chừng.

Sao vượt (sao băng) muôn đời vẫn mang theo điều mơ ước.

Ngày nay, có ai mong mỏi điều ǵ, hăy ngước nh́n lên trời đón ánh sao băng, điều ước mơ sẽ được toại nguyện. Nhưng c̣n sao Sâm, sao Thương, theo phán xử của Ngọc Hoàng phải ngàn ngh́n trùng xa cách, đông tây, đêm ngày đuổi bắt nhau mà không gặp được.

Điển Tích Truyện Kiều - Sân Hoè

Sân ḥe đôi chút thơ ngây
Trân cam ai kẻ đỡ thay việc ḿnh

Sân ḥe đôi chút thơ ngây. Cây ḥe, loại cây gỗ quí, được trồng trước mặt các vị Tam công (Thái Sư, Thái Phó và Thái Bảo) đứng chầu, trong sân Ngoại triều của vuạ Tam triều của vua: Yến triều, Nội triều và Ngoại triều.

Đời nhà Tống, có Vương Hựu, tự tay trồng ba cây Ḥe trong sân nhà và nói rằng:

- Con cháu ta sau này sẽ có đứa làm đến chức Tam công.

Quả đúng về sau, con của Vương Hựu là Vương Đán làm đến Tam Công

Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc ḿnh. Trân cam là vị ngon vị ngọt, ư nói sớm tối chiều hôm trông nom thức ăn hầu cha mẹ.

Điển Tích Truyện Kiều - Sân Lai

Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đă vừa người ôm

Tích Sân Lai cũng có trong "Nhị thập tứ hiếu".

Lai Tử người nước Sở thời Đông Châu liệt quốc, bảy mươi tuổi vẫn con cha mẹ già.

Để làm tṛ cho cha mẹ vui, ông thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, giả làm trẻ nhỏ, múa may đùa giỡn. Có khi làm bộ vấp bực thềm, té lăn ra đất rồi nhại tiếng khóc con nít cho cha mẹ cười.

Có khi nh́n đứa trẻ thơ 70 tuổi, cha mẹ tuổi đă tṛn thế kỷ bỗng quay về thuở trung niên.

Điển Tích Truyện Kiều - Sông Tương

Kim Kiều chỉ cách nhau bức tường hoa, nhưng chàng nàng đă cho rằng lễ giáo như thành lũy đă chia loan rẽ phượng:

Từ phen đá biết tuổi vàng
T́nh càng thắm thiết, dạ càng ngẩn ngơ
Sông Tương một giải nông sờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.

Sông Tương hay Tương Giang, c̣n gọi là Tiêu Tương, thuộc tỉnh Ninh Lăng, tỉnh Hồ
Nam, Trung Quốc.

Sử viết, khi vua Thuấn mất, hai bà phi là Nga Hoàng và Nữ Anh thương tiếc không nguôi, hết vật vă thảm thiết trong cung, lại ra bờ sông Tương khóc than đêm ngày. Nước mắt hai bà nhỏ xuống bờ trúc, làm cho trúc ở đây nổi lên những đường vân đẹp như mây sóng ẩn hiện. Người đớ sau thường t́m đến bờ sông Tương mua loại trúc này về làm mành. Nước mắt của cuộc t́nh vắn số đă nhỏ xuống để tạo nê n những đường vân tản mạc, nên mành tương là một tượng trưng cho một số phận đoạn nỗi. Chuyện t́nh của Kiều cũng tang tác, nên có câu: Mành tương phảng phất gió đàn.

Trúc Tiêu Tương không những làm mành đẹp mà sáo trúc Tương giang cũng mang một âm thanh có sức truyền cảm lạ lùng. Chuyện hai bà Phi khóc chồng bên bờ sông Tương thuộc đời Nghiêu Thuấn; đến đời nhà Châu, sông Tương lại chứng minh một t́nh buồn nữạ Chàng là nho sĩ Lư Sanh; nàng thôn nữ Lương Ư Nương. Đôi trẻ yêu nhau tha thiết đă nặng lời hẹn ước. Sau khoa thi sẽ làm hôn lễ; nàng quay tơ dệt vải đờ.i chờ; đêm đêm nàng cũng chịu khó chong đèn, chút chữ nghĩa có văn thơ với người yêu. Nhưng rồi giặc giă nổi lên khắp nước, thân trai phải xếp bút nghiên lên đường đao binh. Chén rượu ngày hợp cẩn xin là chén ly bôi bên bờ sông Tương. Đây sầu ly biệt của nàng chinh phụ trong Chinh phụ ngâm :

Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Nơi Hàm Dương cách Tiêu Dương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xa xa những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Ḷng chàng ư thiếp ai sầu hơn ai.

Nhà Ư Nương ở mạn hạ lưụ Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, nàng ra đứng bên bờ sông trông về phía thượng lưu ngóng đợị Vừng kim ô lặn xuống trời tây, mặt nước sông Tương c̣n vương lại chút nắng vàng rồi trở bạc; đàn chim trong khóm trúc xạc xào bay về tổ ấm. Chinh phụ chinh phu, như đầu sông cuối sông. Nàng đă viết bài thơ cho môi t́nh ṃn mỏi bao năm đơi chờ:

Nhân đạo Tương giang thâm
Vị để Tương giang bạn
Giang thâm chung hữu để
Tương tư vô biên ngạn
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Cộng ẩm Tương giang thủy

(Tương giang người bảo sâu
Chẳng bằng ḷng thương nhớ
Sông sâu c̣n có đáy
Tương tư không bến bờ
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà không thấy
Cùng uống nước sông Tương)

Điển Tích Truyện Kiều - Tất Giao

Một lời gắn bó tất giao
Mái sau dường có xôn xao tiếng người.

Tất giao nghĩa là sơn và keo, dính chặt vào nhaụ

Theo truyện Truyền kỳ Trung Quốc, xưa có hai người bạn học tên là Lôi Nghĩa và Trần Trọng chơi thân với nhau. Cả hai cùng ứng thí. Lôi Nghĩa thi đậu, nhưng Trần Trọng lại trượt.

Lôi Nghĩa thương bạn c̣n gia cảnh ngặt nghèo, muốn nhường tên bảng vàng cho Trần Trọng, nhưng không được quan trường chấp thuận. Lôi Nghĩa bèn giả điên để khỏi bị bổ làm quan.

Đến khoa thi sau, cả hai lại cùng đi thi và đều đỗ. Bấy giờ cả hai mới nhận áo măo triều đ́nh cùng ra làm quan.

Người đời đă có câu ca ngợi t́nh bạn Lôi Nghĩa và Trần Trọng :
Tất giao vi kiên, bất như Lôi dữ Trần
(Keo sơn bảo là bền, chẳng bằng Lôi với Trần).

Điển Tích Truyện Kiều - Thang Mây
Thang mây dón bước ngọn tường,
Phải người hâm mộ rơ ràng, chăng nhe
Thang bằng mây dùng để leo thành cao.

Theo điển tích thời Chiến Quốc, lúc Sở Kinh Vương chuẩn bị đánh Tống, bèn cho lệnh Công Thâu Ban, người thợ mộc giỏi nhất nước, chế tạo loại thang mây để công hăm thành tŕ nước Tống.

Mặc Tử biết sắp có chuyện đao binh, vội đến ngăn vua Sở:

- Nước Sở lớn, nước Tống nhỏ. Nay Chúa công lấy lớn hiếp nhỏ th́ phỏng hay ho ǵ?.

Sở Kinh Vương chưa kịp trả lời th́ Mặc Tử đă tiếp:

- Nước Sở giàu, nước Tống nghèo. Chúa công đánh nước Tống th́ được lợi lộc ǵ.

Vua Sở hăm hở:

- Nhưng ta đă chế tạo được thang mây th́ phải đi công phá thành chứ.

Mặc Tử cười khẩy:

- Có thang mây đâu phải là chiếm được nước Tống.

Vua Sở bực tức:

- Công Thâu Ban là thợ giỏi nhất thiên hạ, chiến cụ của ông ta chế tạo ra há không công phá được thành nước Tống ư?

Mặc Tử đáp:

- Vậy hăy thử để tôi thủ thành, cho quân dùng thang mây của Công Thâu Ban tấn công, thử xem có thể phá thành được không?

Vua Sở đồng ư cho thử trận.

Đúng như lời Mặc Tử, quân lính đă dùng thang mây, khí cụ mới sáng chế, nhưng không sao công phá được thành.

Sở Kinh Vương cả giận, nói vo('i Mặc Tử:

- Dù vậy, ta đây vẫn có cách để thắng được.

Mặc Tử hiểu ư vua Sở, trả lời:

- Cách của nhà vua là giết chết tôi chứ ǵ? Nhưng cũng chẳng có lợi ǵ đâu. Tôi chết đi c̣n có đám học tṛ, chúng đă học được cách thủ thành của tôi và làm vô hiệu hoá cái thang mây sáng chế của nhà vua rồi.

Sở Kinh Vương đành phải nghe theo lời của Mặc Tử, bỏ ư định đánh Tống.

Điển Tích Truyện Kiều - Thôi, Trương

Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương

Thôi, Trương tên của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy. Theo chuyện "Hội Chân kư " đời Đường, Trương Quân Thụy gặp Thôi Oanh Oanh ở chùa Phổ Cứu đang lúc nàng thọ tang cho cha. Vậy mà t́nh yêu cũng nẩy lộc, đêm đêm hai người hẹn nhau ra mái phía Tây của chùa mà t́nh tự.

T́nh yêu đă thắm đậm, nhưng sau đó hôn nhân không thành, chàng lấy vợ và nàng cũng đi lấy chồng...

"Hội Chân kư" kết thúc khi mối t́nh tan vỡ.

Đến đời Nguyên, nhà văn Vương Thực Phủ đă phóng tác, viết thành tuồng Tây Sương kư. Theo đánh giá của Kim Thánh Thán, nhà phê b́nh văn học lừng danh cuối đời Minh, đầu đời Thanh, th́ Tây Sương kư là một trong " Lục tài tử thư " của Trung Quốc, gồm có:
1. Nam Hoa kinh của Trang Tử
2. Sử kư của Tư Mă Thiên.
3. Thơ Đỗ Phủ đời Đường
4. Ly Tao của Khuất Nguyên
5. Thủy Hử của Thi Nại Am
6. Tây Sương kư của Vương Thực Phủ.
Tóm tắc tuồng "Tây Sương kư":

Góa phụ Thôi tướng quốc cùng ái nữ là Thôi Oanh Oanh xin trú ngụ mái Tây chùa Phổ Cứu để cư tang cho Thôi Tướng quốc.

Trên đường về kinh đô thi Hội, thư sinh Trương Quân Thụy ghé lại tham quan cảnh chùa và gặp gỡ Thôi Oanh Oanh. Diện kiến nhan sắc tuyệt trần , chàng Trương bèn xin trọ lại chùa để có dịp tỏ t́nh với giai nhân.

Gặp lúc có giặc Tôn Phi Hổ vây chùa và bắt nàng Thôi Oanh Oanh đem đi. Mẹ nàng không biết cầu cứu ai, chỉ biết hứa là ai cứu nguy được cho gia đ́nh th́ gả con gái. Trương Quân Thụy cấp tốc gởi thư cho một người bạn học cũ là tướng quân Đỗ Quân Thực đem binh đuổi giặc, cứu nạn cho gia đ́nh Thôi Oanh Oanh.

Nhưng sau khi tai qua nạn khỏi, bà mẹ Oanh Oanh thất hứa, không cho đôi trẻ kết hôn mà chỉ cho kết nghĩa anh em. Trương Quân Thụy phẫn uất, buồn bă rồi sinh trọng bệnh. Thị nữ của Thôi Oanh Oanh là Hồng Nương hay tin, về báo cho cô chủ. Thôi Oanh Oanh đang đêm, cùng Hồng Nương t́m đến thăm chàng. Thị nữ đứng trông chừng bên ngoài, trong thư pḥng đôi lứa đă ..gẫm duyên kỳ ngộ, đẹp tày Thôi Trương.

Chuyện " tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày " của nàng Thôi bị đổ bể. Mẹ nàng đành phải chấp thuận cho đôi trẻ se duyên, nhưng buộc Trương Quân Thụy phải lên đường về kinh ngay cho kịp kỳ thi Hội, khi bảng vàng có tên rồi hăy quay về làm lễ thành hôn. Trên đường tiến kinh, chàng Trương ghé lại một quán trọ qua đêm. Trong giấc ngủ, chàng mơ thấy Thôi Oanh Oanh...

Theo Hội Chân kư, th́ khi giấc mơ qua rồi cũng là lúc cuộc t́nh ra đi. Nửa đường đứt gánh, chàng theo đường chàng lấy vợ, nàng theo đường nàng lấy chồng.

Nhưng trong tuồng Tây Sương kư th́ t́nh duyên hai người không đứt đoạn, Trương Quân Thụy thi đỗ Thám Hoa, vinh qui trở về cưới nàng Thôi Oanh Oanh. Kim Thánh Thán đă đặt nghi vấn, cho rằng 4 hồi sau của Tây Sương kư không phải do Vương Thực Phủ viết, mà có thể do Quan Hán Khanh, một nhà văn cùng thời với Vương Thực Phủ. Bản dịch của Nhượng Tống cùng chỉ dịch 16 hồi, đến lúc tan vỡ mối t́nh Thôi Trương th́ kết thúc.

Điển Tích Truyện Kiều - Tiểu Lân
C̣n chi nữa, cánh hoa tàn
Tơ ḷng đă dứt dây đàn Tiểu Lân

Nàng Tiểu Lân, tài sắc vẹn toàn, đàn giỏi hát hay , là ái phi của vua Trần Hậu Chủ, đời Nam Bắc triều.

Hai nước Trần,
Chu giao tranh. Trần thua. Chu Vũ Đế bắt được Tiểu Lân đem về, gả cho Đại vương Đạt. Đạt thương yêu lắm, nhưng biết Tiểu Lân vẫn một ḷng thủy chung với Hậu Chủ, nên không nỡ ép duyên.

Một hôm, Đạt muốn nghe Tiểu Lân đàn; tỳ bà, nửa chừng đứt dây, nàng tiếp lời thơ:

Thiết thừa kim nhật sủng
Do ức tích thớ duyên
Dục tri tâm đoạn tuyệt
Ưng khán tất thượng huyền.

Thánh thượng có ḷng thương
Nhưng t́nh cũ đong đầy
Thiếp tơ ḷng đứt đoạn
Như dây đàn đứt ngang

Điển Tích Truyện Kiều - Tống Ngọc

Dập d́u lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối t́m Tràng Khanh.

Nói về Tống Ngọc, t́nh sử Trung Quốc viết: Vuơng Trung là một đại thần của nước Sở. Một lần vua cho lĩnh ấn tiên phong đi dẹp loạn, bị thất trận. Vương Quân bị giáng chức, được bổ làm thiên hộ vệ quân tại Nam Dương. Ái nữ là Vương Kiêù Loan cũng theo cha về nhiệm sở mới.

Kiều Loan là một giai nhân tuyệt sắc đang độ tuổi trăng tṛn, bản chất thông minh, lại được cha mẹ cưng ch́u, từ nhỏ đă thông làu kinh sử, văn hay chữ tốt. Năm tháng nàng chỉ quẩn quanh chốn khuê pḥng. Tài sắc vẹn toàn, lại là con nhà trâm anh thế phiệt, nên khó mà t́m cho được người môn đăng hộ đối. Nàng có một người cô là Tào Di, góa chồng. Mẹ nàng đưa bà vềsống chung với gia đ́nh để sớm hôm bầu bạn với Kiều Loan.

Một hôm, trong tiết thanh minh, hai cô cháu cùng đám thị nữ tản bộ đến hoa viên thưởng ngoạn. Đang mải ngắm hoa xuân, Kiều Loan linh cảm có ai từ bên kia bức tường đang đăm đăm nh́n ḿnh. Chỉ đôi mắt ai đó thôi, Kiều Loan đă thẹn thùng đỏ mặt, đôi chân líu quíu không dời bươc được. Nàng níu lấy áo bà cô, giục đưa về pḥng; các thị nữ cũng líu ríu về theo.

Vườn hoa đă vắng bóng giai nhân, nhưng hương thơm c̣n đọng lại. Đôi mắt, chàng trai lần bước ra, tẩn ngẩn như mất hồn; chợt trông thây chiếc khăn tay của ai c̣n vướng trên cành hoa, chàng cầm lấy áp vạ môi. Một thị nữ của Kiều Koan quay trở lại t́m chiếc khăn cho chủ. Chàng trai tư giới thiệu tên là Tống Ngọc và biết tên của thị nữ là Minh Hà và ḍ được quí danh của cô chủ. Tống Ngọc không trả lại khăn, mà chỉ năn nỉ nhờ thị nữ trao lại cho chủ một tấm hoa tiên, bài thơ vừa mới viết:

Phạ xuất quí nhân phận ngoại hương
Thiên công giao phó hữu t́nh lang
Ân cần ky thủ tương tư cú
Nghi xuất hồng ty xuất động pḥng
(Khăn rơi mỹ nữ đượm hơi hương
Tạo hóa khiến xui kẻ vấn vương
Gởi khúc tương tư t́nh tha thiết
Chỉ hồng buộc chặt mối lương duyên)

Từ tuổi dậy th́ vừa chớm, giai nhân chỉ ẩn ḿnh pḥng the, chỉ biết vui cùng đèn sách. Nay nhận được lời tỏ t́nh tuy quá đường đột nhưng chao ôi là t́nh. Trong ḷng như sóng dậy, Kiều Loan không chợp mắt, cuối cùng không nén được rộn ràng, tấm hoa tiên đề thư phúc đáp:

Thiế'p thân nhất điểm ngọc vô hà
Linh thi hầu môn tướng tướng gia
Tinh lư hữu thân đồng đối nguyệt
Nhàn trung vô sự độc khán hoa
Biết ngô chi hứa lại kỳ phương
Thúy trúc nang dung nhập lăi nha
Kỳ dữ dị hương cô lănh khách
Mặc tướng tâm sự loạn như ma

(Thân em như khôi ngọc trong lành
Khuê các ẩn ḿnh kín cửa quan
Ngày vắng dạo xem hoa dưới mái
Đêm thanh bầu bạn trăng bên mành.
Một ḿnh ngắm hoa nào ai tỏ
Cành ngô phượng vĩ chen màu biếc
Khóm trúc ô môn đượm mảnh t́nh
Nhắn nhủ phượng xe người lữ khách
Đừng trao tâm sự rối ren ḷng.)

Tống Ngọc nhận được thơ từ tay Minh Hà, chàng lại phúc đáp. Từ đó , tỳ nữ Minh Hà là chim xanh, thơ đi t́nh về cho đôi lứạ Thời gian qua, đến lúc yêu đương đă chín mọng rồi, vậy mà Tống Ngọc vẫn phớt lờ chuyện mai mối, Kiều Loan phải thúc giục. Chàng trai viện cớ này , cớ nọ để tŕ hoăn. Rồi một chiều, Tống Ngọc lén đến bên tường đông, tỏ ư muốn vào tận sâu khuê pḥng. Nàng từ chối; nhưng khi Tống Ngọc tiu nghỉu ra về, th́ Kiều Loan lại sai Minh Hà đem đến một tấm hoa tiên:
Ám tương tế ngữ kư anh tài
Thảng hướng nhân tiện mạc loạn khaị
Kim dạ hương khuê xuân bất toả
Nguyệt di hoa ảnh, ngọc nhân lai

(Đôi lời xin ngỏ cùng ai
Nỗi riêng chớ để người ngoài thị phi
Pḥng xuân mở rộng đêm nay
Trăng đưa hoa bóng gót lài rẽ sang

Vầng trăng vừa ló đầu núi, Tống Ngọc đă vội vàng nhẹ bước đến tường đông. Tỳ nữ Minh Hà đứng đợi ở cửa pḥng. Lúc được đưa vào gặp, Kiều Loan cho mời bà cô Tào Di đến, rồi quay lại nhỏ nhẹ cùng Tống Ngọc:

- Thiếp là người đoan chính, chàng đâu phải là kẻ phàm phu. Chúng ta đă yêu nhau là do tài sắc, đă thành keo sơn gắn bó. Yêu chàng, thiếp đâu c̣n tiếc lấy thân, nhưng chỉ sợ vườn xuân cánh bướm, biết rồi có giữ được nguyện ưó+c hay không. Vây chúng ta hăy nguyện lời thề thủy chung đầu bạc răng long. Nếu không, chẳng hóa ra v́ ham mê muội ái ân mà chúng ta quên nghĩa đá vàng.

Đôi uyên ương nhờ bà cô đứng ra chứng dám lời thề nguyền. Làm chứng xong, bà cô rút êm, để lại pḥng the cho gió trăng. Ngoài pḥng, Minh Hà ngồi canh cửạ Sáng tinh mơ, Kiều Loan đă đánh thức t́nh lang dậy, thủ thỉ bên tai chàng:

- Đời con gái, thiếp' đă trao trọn cho chàng rồị Thiếp chỉ mong chàng giữ trọn lời thề, sống chết có nhau đến trọn kiếp.. Từ đây về sau, khi nào có thể gặp nhau được, thiếp sẽ sai bảo Minh Hà đến đón chàng.

Từ đó, đôi trai gái không c̣n kín đáo trao cho nhau những vần thơ t́nh ủ ấp' hương , mà chỉ cách khoảng một hai hôm, lại được sự dẫn dắt cuả cô thị nữ Minh Hà, để t́m gặp nhau trong ái ân hoan lạc. Tường đông rộn ràng hoa bướm, nào đâu ngờ càng rộn ràng hơn trong ḷng thiếu nữ Minh Hà, đang xuân th́ phơi phới, cứ phải lấp ló trộm nh́n cảnh dập d́u gái traị Và, thời gian không lặng lẽ qua đi , trong suốt ba năm, những khoản hở không gặp Kiêù Loan, Tống Ngọc lại lén lút dan díu với Minh Hà. Sau rồi, Kiều Loan cũng hay chuyện, đau đớn không lường, nhưng chuyện đă rồi, đành ngậm đắng, và hối thúc Tống Ngọc phải làm lễ thành hôn với ḿnh.

Từ lâu, Vương Thiên Hộ đă lợm danh Tống Ngọc, chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn chuơng uyên bác, nhưng lại chuyên bề trăng gió , đă làm cho biết bao giai nhân bẽ bàng, nên quyết liệt từ chối lớ cầu hôn. Bị từ hôn, vui hay buồn không biết, Tống Ngọc lặng lẽ ra đi, nối tiếp cuộc sống ngắt hoa bẻ cành. Đau thương cho Kiều Loan, ṿ vơ trông ngóng người yêu quay trởlại, rồi đau t́nh đến chết. Trước khi ĺa đời, nàng đă để lại bản Trường hận ca và ba mươi bài thơ tuyệt mệnh.

Điển Tích Truyện Kiều - Trao Tơ

Nuôi con vẫn ước về sau
Trao tơ phải lứa gieo cầu phải nơi.

Có nhiều điển tích trong việc kén chọn kết duyên, trao thân gởi phận giữa đôi trai gáị Trao tơ là trao sợi chỉ tơ hồng , c̣n gọi là hồng ti, cho người đính ước.

Tích trao tơ có từ đời Đường. Trương Gia Trinh có năm người con gái sắc nước hương trời đều đang đến tuổi cập kệ Vương tôn công tử gần xa đều ngấp nghé muốn xin, nhưng các chàng trai đều hoa mắt, v́ các giai nhân trang sức ăn mặc rất giống nhau, đi đứng nói cười như hệt, ngày đêm quanh quẩn khuê pḥng như các hằng nga vờn trong mây.

Có chàng nho sĩ tài danh tên là Quách Nguyễn Chấn thương lui tới gia trang đối ẩm với Gia Trinh. Mến mộ tài năng đức hạnh của chàng nho sĩ, ông già ngỏ ư muốn gả một trong năm cô con gái của ḿnh. Nguyễn Chấn mừng khấp khởi, nhưng cả năm cô gái đều đẹp như tiên giáng trần, trông giống nhau quá th́ biết chọn ai đây. Gia Trinh nghĩ ra một kế, cho năm ái nữ ngồi sau một bức mành, mỗi người cầm một sợi tơ màu khác nhau. Duyên số cho màu tơ người nào được chọn. Và Nguyễn Chấn đă chọn sợi tơ màu hồng. Từ đó trao tơ hồng có nghĩa là lời đính ước chuyện trăm năm.

Điển Tích Truyện Kiều - Tràng Khanh
Phương Tây có Casanova, có Don Juan., nhưng đào hoa, đa t́nh e c̣n thua xa Tống Ngọc, Tràng Khanh..Sớm đưa Tống Ngọc, tối t́m Tràng Khanh. Chỉ một khúc nhạc Phượng Cầu trầm tư để "làm vốn" mà Tràng Khanh đă làm rơi rụng biết bao con tim. Tiếng đàn của Kiều cũng nặng u sầu khúc nhạc này:

Khúc đâu Tư Mă Phượng Cầu
Nghe ra như oán như sầu phải chăng ?.

Trường Khanh, tức Tư mă Tương Như có tiếng đàn tuyệt chiêu, đặc biệt là khi gảy khúc Phượng Cầu, trong ḷng thiếu phụ, gái thanh xuân bỗng như sóng trào.

Thời ấy có nàng Trác Văn Quân thuộc hàng quốc sắc thiên hương, con của tri huyện Thiểm Tây Trác Bá Lộc. Nàng được gă cho thư sinh Vương Hàm Tân, đỗ tú tài rồi nhu(ng vẫn tiếp tục việc bút nghiên. Nửa năm hương lửa đang nồng, Hàm Tân bỗng lâm bạo bệnh từ trần. Nửa đời hồng nhan dang dở. Trong suốt thời gian làm tuần , nàng ngồi rũ rượi bên bàn thờ chồng. Bỗng một đêm, văng vẳng từ bên kia sông, tiếng đàn ai theo với lời ca năo nùng:

T́nh yêu là mối dây oan
Hoa tươi nghĩ lúc hoa tàn tủi thân.
Hoa tàn hoa rụng - Hoa héo đầu cành
Hận ngày xanh - Tủi ngày xanh
Kiếp hoa ngắn ngủi
Mưa gió tan tành
Nguyệt đan mành
Hoa tàn tạ
Cảnh bâng khuâng
Yêu nhau không trọn
Đời bạc như vôi
T́nh xưa ai đă phụ rồi
Người xưa như thế th́ thôi c̣n ǵ
Mối t́nh si - lệ lâm ly
Thà rằng quen biết nhau chi
Biết nhau như thế ước ǵ mà mong

Ôi tiếng đàn câu ca như xé tâm can. Trác Văn Quân gọi tỳ nữ Thanh Mai vào thơ pḥng , hỏi:

- Tiếng đàn của ai bên sông sao nghe buồn bă quá, ḷng ta xao động khôn cùng. Người hăy sang sông t́m thử ai đang réo rắt tiếng tơ trùng này.

Đêm đă khuya, nhưng may con ánh trăng vằng vặc. Thanh Mai vâng lời chủ, gọi đ̣ sang sông. Cô lái đ̣ giải thích cho Thanh Mai:

- Có chàng trai từ phương xa đến đây tên là Tư Mă Tương Như Trường Khanh . Chàng có khúc nhạc mê hồn Phượng Cầu Hoàng, đàn bà con gái không sao cưỡng lại sức quyến rũ, mê mẫn khi nghe khúc nhạc này.

Thanh Mai chỉ hiểu mơ hồ lời giải thích của cô lái đ̣ và t́m đến gần phía trang viên. Bên trong thấp thoáng nhiều bóng hồng đang đùa cợt lả lơi quanh một chàng trai trẻ đẹp. Sửng sờ, cô tỳ nữ bị chôn cứng chân đến gần tảng sáng mới lần bướ ra về, thưa chuyện cho cô chủ:

- Em đă t́m đến trang viên.. Ở đó có vườn hoa đẹp, có chàng trai tên là Trường Khanh, có tiếng đàn làm mê hoặc đàn bà con gái khắp vùng này.

Trác Văn Quân bỗng hở dài, nét hoa thêm phần ủ dột, thảo nào, ḷng tạ. Suốt ngày hôm đó, nàng ngồi câm nín bên lan can, vành khăn tang trễ xuống ngang vai, khói hương bàn thờ chồng cũng tắt ngấm. Rồi ngày một ngày hai, tiếng đàn sao im bặt.. Qua đêm thứ ba, Văn Quân không d́m được nỗi ḷng, gọi Thanh Mai vào:

- Đa ~ hai đêm ta không nghe được tiếng đàn, trong người khó thở. Người hăy t́m đến chàng, trao thư này cho tạ Thanh Mai ngập ngừng can ngăn:

- Tiểu thư chưa quen biết, sao lại trao thơ cho người tạ Lệnh lang cũng vừa mệnh chung...

Văn Quân như mất hồn, ừ th́ thôi vậy, nếu người không trao thư cho ta, th́ hăy đưa ta đến t́m gặp người đó . Nói xong. vội vàng Van Quân cởi bỏ tang phục, ăn mặc cực kỳ diêm dúa, kéo xệch Thanh Mai xuống đ̣, sang ngang. Gần đến trang thanh viên, Văn Quan hối hả bước vộị Nhưng khi đến gần, được Thanh Mai chỉ cho trông thấy dung mạo người trong mộng, Văn Quân bỗng thẹn thùng; con người đàn bà đoan chính, một thoáng chốc ... Nàng run rẩy quay gót chạy trở về. Tràng Khanh cũng biết có nguời đang nh́n trộm ḿnh rồi bỏ chạy, nhưng vướng víu các kiều nữ đang quấn chặt lấy ḿnh, nên không theo đuổi kịp. Sau đó, tuy trễ một chuyến đ̣, Tràng Khanh cũng t́m đến được bên ngoài phủ quan, biết ngướ thiếu phụ là Trác Văn Quân, góa phụ trẻ đẹp tuyệt tác trần gian. Tràng Khanh nghĩ, ta sẽ có nàng.

Trác Văn Quân về đến thơ phong, vất bỏ xiêm ỵ mặc lại tang phục, đến ngồi lặng yên bên bàn thờ chồng. Nửa đêm về sáng, bỗng tiếng đàn lại vọng lên. Ôi nó réo rắt mời gọị Người góa phụ cố bịt kín lấy đôi tai, nhưng âm thanh lại càng xoáy vào hồn. Nàng dẫy dụa trong dằn vặt nhưng thôi ; ánh trăng mờ dần .. nàng thẩn thờ đứng dậy, lại cởi bỏ tang phục, thay đổi xiêm y sặc sỡ, nhanh bước ra bờsông. Khi đă đưa nàng sang bên kia bờ, cô lái đ̣ hỏi:

- Thưa bà, tiện nữ sẽ đợi đến bao giờ để đưa bà về.

- Không, đừng hoài công chờđợi . Ta đă vào khúc Phượng Cầu, e không có ngày trở lại.

Điển Tích Truyện Kiều - Trúc Mai

Kim lang ơi hỡi Kim Lang, khóc chi cho xiết sự t́nh. Ngày mai, tên lái người Mă Giám Sinh sẽ dắt thiếp đi, như dắt trâu ngựa, về Lâm Trị Chàng đang ở Liêu Dương, nơi xa xôi ngàn dặm, có thấu chăng nỗi ḷng nàỵ Một ḿnh, một bóng thiếp đang khóc cho t́nh đôi ta:

Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đă phụ chàng với hoạ
Trời Liêu non nước bao xa
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà từ tôi
Biết bao duyên nợ thề bồi
Kiếp này thôi thế th́ thôi c̣n ǵ
Tái sinh chưa dứt hương thề,
Làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai.

Trong các tranh thủy mạc của Trung Quốc thường vẽ bụi trúc bên cành maị Hai loại cây này, dù trong đông giá vẫn không tàn úạ Đông đi xuân đến, mai lan cúc trúc, 4 muà của trời đất. Chuyện Trúc Mai được chép trong sách Lưỡng ban thư vũ tùy bút:

Huyện Long Môn, tỉnh Quảng Đông có một cái đầm nước rất đẹp.Vào dịp thu sang, lá vàng xào xạc, thân cây trơ trụi, riêng chỉ có hai loài mai và trúc th́ lá vẫn xanh tươi. Các gia đ́nh quyền quí, thường đến đó ngoạn cảnh trong tiết thu sang. Trong t́nh cơ, có hai trai gái quen nhau, rồi yêu nhaụ Đô^i uyên ương đều là con nhà gia phong thế phiệt. Chàng là Lâm Bá Trúc, nàng là Hoàng Kỳ Maị Ngướ xưa, khi nói người con gái có cốt cách cao sang th́ được tả là ḿnh hạc xương maị Hai chị em Kiều cũng được cụ Nguyễn chấm phá đôi nét:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

C̣n cây trúc được ví với các nho sinh, công tử. Ngày ngày Kỳ Mai, Bá Trúc đều hẹn nhau dạo chơi trên đầm. Những ngày thơ mộng. Nhưng rồi muà thu cũng ra đị Đôi uyên ương trao lời từ biệt. Buổi chiều cuối dạo thuyền trên đầm. Trúc bẻ một cành mai, Mai bẻ nhánh trúc, rồi cùng thành tâm khấn nguyện:

Hai cành trúc mai là đôi chúng tạ Chúng ta ném hai cành cây này xuống nước theo hướng khác nhaụ Nếu là duyên trời định th́ gịng nước sẽ đưa đẩy hai cành cây này đến với nhau, th́ đó là trúc mai ḥa hợp, chúng ta sẽ nên duyên vợ chồng. Xin đất trời chứng giám. Một cơn gió nổi lên, mặt nước đang lặng lờ bỗng gợn sóng. Chỉ một lúc sau, sóng gió đưa đẩy hai cành trúc mai đến gối đầu lên nhau.

Lời nguyện đă linh ứng. Đôi trẻ trở về thưa chuyện với lệnh đường đôi bên. Hai họ cho đó là duyên tiền định, nên hoan hỷ tác hợp cho Trúc Mai thành duyên vợ chồng.

Đời sau, khi nói trúc mai là nói đến t́nh nghĩa vợ chồng . Kim Kiều chỉ mới thề ước, nhưng đă như phu thê t́nh nồng. Nay thiếp tṛn chữhiếu, biết kiếp nào đền ngh́ trúc mai, thôi thôi thiếp đă phụ chàng từ đây...

Điển Tích Truyện Kiều - Tựa Cửa Hôm Mai

Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Tích tựa cửa từ thời Chiến Quốc. Vương Tôn Giả làm quan dưới triều Tề Mân Vương. Tôn Giả mồ côi cha sớm, chỉ c̣n mẹ già. Gặp cơn chinh chiến, Tề Mân Vương thua trận, bỏ kinh thành mà chạỵ Vương Tôn Giả pḥ vua, chạy đến nước Tề th́ vua tôi lạc mất nhau, nên ông lại quay về quê nhà t́m mẹ
Bà mẹ thấy con về, bèn hỏi:

- Sao con không pḥ tá chúa công mà lại quay về đây?

Vương Tôn Giảng thưa:

- Thua trận, vua tôi cùng chạy đến nước Vệ th́ lạc nhau. Không biết giờ này vua lưu lạc nơi nào.

Bà mẹ nổi giận:

- Mày sớm đi chiều về, ta tựa cửa trông; mày chiều đi mà tối không về th́ ta vẫn tựa cửa mà ngóng đợi. Vua trông đợi bề tôi chẳng khác chi mẹ mong con. Mày là phận làm tôi, mà vua lạc đi đâu mất không hay lại bỏ về nhà ư?. Có phải là ta có đứa con bất trung không?

Vương Tôn Giả nghe lời mẹ dạy, không dám bịn rịn t́nh mầu tử, liền lên đường t́m vuạ Khi biết tin Tề Mân Công đă bị giết, Vương Tôn Giả qui nạp dân chúng lại, t́m giết được kẻ giết vua, báo thù cho Tề Mân Công.

Điển Tích Truyện Kiều - Tú Khẩu Cẩm Tâm

Xem thơ nức nở khen thầm
Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường

Tú khẩu, cẩm tâm; miệng thêu, ḷng gấm ư nói người có tài văn chương, lời hay ư đẹp. Trong văn học Trung Quốc, bốn người văn chương trác tuyệt được đời xưng danh là "tú khẩu, cẩm tâm" là Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương Tu và Tô Tuân.

Hàn Dũ (768 - 824) tự là Thoái Chi, người đơi sau thường gọi là Hàn Xương Lê, quê quán Nam Dương, tỉnh Hồ Nam, mồ côi sớm, học rất giỏị Năm 25 tuổi đỗ tiến sĩ, làm Giám sát Ngự sử, Sử quán Tu soạn rồi H́nh bộ Thị Lang. Hàn Dũ là người tôn sùng giáo lư Khổng Mạnh, nhưng vua Đường Hiến Tông lại sùng đạo Phật. Hàn Dũ làm sớ khuyên vua bài xích đạo Phật và đốt xương Phật. Vua giáng chức làm Thứ sử Triều Châu, nhưng rồi sau đó cũng được triệu về kinh phục chức.

Liễu Tôn Nguyên (773 - 819) tự là Tử hậu, quê quán Hà Đông, người cùng thời với Hàn Dũ và cũng chủ trương tôn Khổng Mạnh, bài triết lư Phật. Ông đỗ Tiến sĩ và Bác học Hoằng từ, làm quan đến Giám sát ngự sử. Sau bị tội, nên bị giáng xuống làm Tư mă Vĩnh Châu, rồi Liễu Châu thứ sử.

Âu Dương Tu (1007 - 1072) tự Vĩnh Thúc, quê quán đất Tô Lăng đời Tống, đỗ Tiến sĩ, học rộng, văn tài trác tuyệt, làm quan đến Binh bộ Thượng thư. Tính t́nh ngay thẳng, nên quan Dương Tu bị nhiều người ghét. Ông thuộc phái "Cựu đảng" của Tư Mă Quang chống "Tân pháp" của Tể tướng Vương An Thạch, nên phải lui về vườn sớm khi chưa tới tuổi hưụ Ông là tác giả bô Tân Ngũ Đại Sử và biên soạn chung với Tống Kỳ bộ Tân Đường thi.

Tô Tuân (1009 - 1066) tự Minh Doăn, quê ở My Sơn
đời Tống. Tô Tuân không xuất thân khoa bảng nhưng ông lại là một danh sĩ. Năm 27 tuổi ông mới bắt đầu học, năm 37 tuổi có đi thi một lần, không đỗ. Buồn, đi ngao du đây đó mấy năm mới chịu quay về nhà và từ đó không thi cử ǵ nữa. Ông là thân phụ của Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt. Năm 1059, ông được triều đ́nh đặc cách chức Hiệu Thư lang, chuyên chép chuyện các đời vua nhà Tống, nhưng chỉ được khen chứ không chê. Ông tỏ ra không thích công việc này, nên được đổi làm Chủ Bạ huyện Văn An. Ở đó ông soạn bộ Thái thường nhân cách lễ, gồm một trăm quyển. Sách vừa soạn xong th́ ông qua đời.

Được Chim Bẻ Ná, Được Cá Quên Nơm

Việt Nam có thành ngữ "Được chim bẻ ná, được cá quên nơm", th́ "Được chim bẻ ná" có ư nghĩa giống với thành ngữ "Thố tử cẩu phanh" (thỏ chết th́ chó săn bị đem nấu) của Trung Hoa, c̣n "Được cá quên nơm" th́ ư nghĩa tương đồng với thành ngữ "Điểu tận cung tàng" (chim hết th́ cây cung bị cất đi".

Quan đại phu Phạm Lăi dưới triều Việt Vương Câu Tiễn, từng đem hết tài sức phục vụ cho nước Việt của ông.

Nước Việt và nước Ngô có chiến tranh, nước Việt v́ quân sự yếu kém nên bại trận, Phạm Lăi khuyên Câu Tiễn nên nhẫn nhục đầu hàng.

Đến lúc thời cơ đă chín mùi, t́nh thế đă hoàn toàn thuận lợi, Phạm Lăi đă thảo kế hoạch hưng binh đánh Ngô, kết quả là đă giúp Câu Tiễn trả được mối thù lớn lúc xưạ

Đối với Câu Tiễn, và cả nước Việt, th́ Phạm Lăi là đệ nhất đại công thần. Đáng lẽ sau khi đánh bại được nước Ngô, làm cho nước Việt được độc lập và hưng thịnh trở lại, Phạm Lăi sẽ yên hưởng vinh hoa phú quư, thụ. hưởng sựđền ơn của Câu Tiễn, nhưng Phạm Lăi đă không làm như vậy, mà lại xin cáo quan, bỏ hết chức tước bổng lộc, địa vị quyền uy, để sống nếp sống mây ngàn hạc nội của 1 ẩn sĩ.

Sau đó, Phạm Lăi lại viết thư, gửi cho 1 bạn đồng liêu cũ của ḿnh là quan đại phu Văn Chủng, khuyên Văn Chủng cũng nên cáo quan, từ bỏ chức tước bổng lộc, th́ mới mong tránh được tai họa xảy tới sau nàỵ Trong lá thư đó, Phạm Lăi có viết những câu như sau :


Cao điểu tận, lương cung tàng.
Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh.
Nghĩa là, chim ở trên cao đă bị bắn chết, th́ cây cung tốt được cất đi, loài thỏ chạy nhanh đă bị săn đuổi chết hết, th́ con chó săn bị đem làm thịt.

Từ lá thư này của Phạm Lăi gửi cho Văn Chủng, người đời sau rút ra thành ngữ "Thố tử cẩu phanh" (Thỏ chết th́ chó săn bị đem nấu) để nói về người vong ân bội nghĩa, lúc khó khăn nghèo hèn th́ nhờ cậy người khác, đến khi thành công sung sướng th́ phản bội những người giúp ḿnh lúc trước.

Cũng từ sự tích trên, người Tàu c̣n có thành ngữ "Điểu tận cung tàn", tuy cùng nguồn gốc với thành ngữ "Thố tử cẩu phanh", nhưng ư nghĩa có đôi chút khác nhaụ

Thành ngữ "Điểu tận cung tàng" (Chim hết th́ cây cung bị cất đi) hỉ nói về sự quên ơn mà thôị Bởi v́ chim bắn hết, cây cung không c̣n dùng làm ǵ nữa, nó bị đem cất đị Cây cung bị cất đi, nhưng nó không bị tổn hại ǵ. Nghĩa là nói về kẻ thành công quên ơn người đă giúp ḿnh lúc trước mà thôị

C̣n thành ngữ "Thố tử cẩu phanh" (Thỏ chết th́ chó săn bị đem nấu) chẳng những nói về sự quên ơn, mà c̣n nói về sự phản bộị Bởi v́ sau khi những con thỏ bị chết hết, th́ con chó săn bị chủ đem ra làm thịt, nghĩa là nó bị hại, đến nỗi tính mạng không c̣n. Nghĩa là nói về kẻ làm hại ngay cả người đă giúp ḿnh lúc trước.

Ngoài ra, cùng ư nghĩa với thành ngữ "Thố tử cẩu phanh" c̣n có thành ngữ "Hữu sự kiến dụng, vô sự hoạch tội" (Khi hữu sự th́ được dùng, khi vô sự th́ bị tội).

Các thành ngữ của VN và Tàu nói trên c̣n ngụ ư khuyên rằng khi chịu ơn của người khác, nếu không trả ơn được, th́ cũng phải tỏ ra biết ơn, chứ đừng vô ơn bạc nghĩạ

Giá Áo Túi Cơm

Thời Ngũ Đại, có một người tên là Mă Ân, tiếm ngôi
vuạ Mă Ân nguyên trước chỉ là một vị quan vơ nhỏ, bộ
hạ của quan Vũ An Tiết Độ Sứ đời Đường là Lưu Kiến
Phong. Rồi sau, Lưu Kiến Phong bị bộ hạ giết, Mă Ân
được tôn lên làm Thống soáị

Rồi đến khi Chu Ôn soán được thiên hạ của nhà Đường,
đổi quốc hiệu là Lương (sử gọi là nhà Hậu Lương),
th́ Mă Ân được phong làm Sở Vương, làm chủ cả một giải
đất Đông Bắc tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây, quyền uy lừng
lẫy một thờị

Nhưng Mă Ân thật sự lại chỉ là một kẻ tầm thường,
bất tài, chuyên lo hưởng thụ, người đương thời rất
khinh thường Mă Ân, và gọi Mă Ân là "Tửu nang phạn đại",
ư nói rằng Mă Ân chỉ là cái túi để chứa rượu, đựng
cơm mà thôị

Về sau, người đời biến "Tửu nang phạn đại" thành thành
ngữ để chỉ hạng người bất tài vô đức, không giúp ǵ
được cho quốc gia xă hội, trái lại chỉ chạy theo lợi
danh, mưu cầu cơm áo cho ḿnh mà thôị

Giấc Mộng Hoàng Lương

"Hoàng lương" có nghĩa là kê vàng.

Ngày xưa có Lư Sinh đi thi không đỗ, vào hàng cơm nghỉ chân. Có một lăo già cho mượn một cái gối nằm. Lư Sinh ngủ và chiêm bao thấy đỗ tiến sĩ, làm quan to, vinh hiển hơn 20 năm, gia đ́nh hưng vượng, con cháu đầy đàn. Tỉnh ra mới biết ấy chỉ là một giấc mộng. Nồi kê nhà hàng c̣n chưa chín. Ư nói giấc mộng đẹp và ngắn ngủị

Giấc Mộng Nam Kha

Thuần Vu Phần ngày xưa rất nghèo, nằm ngủ bên gốc cây ḥe, chiêm bao thấy hai sứ giả mời ông làm Pḥ mă, rồi được vua phong làm Thái thú ở đất Nam Kha rất vinh hiển. Khi tỉnh giấc chỉ thấy một đàn kiến bên ḿnh.

"Giấc mộng Nam Kha", ư nói giấc mộng đẹp đẽ và ngắn ngủi (tương tự như "Giấc mộng hoàn lương")

Giọt Hồng

Theo điển tích, nàng Tiết Linh Vân đời nhà Tùy khi từ biệt song thân để ứng tuyển vào cung vua, không có hy vọng gặp lại mẹ chạ Nàng khóc đến độ nước mắt chảy ra như máụ

Hàn Thực

Hàn thực là ngày mồng ba tháng ba, ngày ăn nguội, không được củi lửa, để tưởng nhớ đến Giới Tử Thôi.

Thời Chiến quốc, Công tử Trùng Nhĩ bị cha là Tấn Hiến Công và mẹ ghẻ là Ly Cơ mưu hại, nên phải ra nước ngoài.

Trong những năm lưu vong đây đó, Trùng Nhĩ và thuộc hạ phải đương đầu với bao gian lao khổ cực, có lúc phải đi ăn xin. Một lần ở nước Vê, cả thầy tớ đói lả không lê bước được nữa, Trùng Nhĩ nằm luỗi dưới gốc cây, chờ thuộc hạ kiếm tí rau củ về lót dạ. Không ngờ, một đồ đệ là Giới Tử Thôi lại đem về một tô thịt c̣n nóng hổi. Trùng Nhĩ ngấu nghiến, ăn xong thấy khỏe ngay.

- Nhà ngươi t́m đâu ra thịt ngon như vậy?

Giới Tử Thôi quỳ xuống thưa:

- Thuộc hạ nghe nói: người con hiếu phải biết xả thân v́ cha mẹ, bậc tôi trung phải biết xả thân để thờ vua. Nay công tử không có ǵ ăn đă mươi ngày nay, thuộc hạ .xin được cắt thịt đùi ḿnh cho công tử qua cơn đói ḷng.

Trùng Nhĩ xúc động, ứa nước mắt:

- Ơn này biết bao giờ ta đền đáp được.

Mười chín năm khổ ải kiếp lưu vong, Trùng Nhĩ quay trở về Tấn phục quốc, lên ngôi lấy hiệu là Tấn Văn Công. Vua ban thưởng những bầy tôi trung thành đă pḥ vương có được ngày vinh hiển, nhưng lại quên bẵng người bề tôi đă tự lóc + thịt ḿnh để cứu chúa.

Giới Tử Thôi vẫn sống ẩn dật, ngày ngày vá thuê giày dép kiếm tiền nuôi mẹ. Có người lối xóm tên là Giải Trương thúc giục:

- Ngài đă có công theo hầu Chúa công gần 20 năm, nay Chúa công đă lên ngôi vua, lẽ nào ngài không được tưởng thưởng công lao.

Bà mẹ cũng nói thêm:

- Nhà ḿnh cũng đang nghèo khó; trước kia con đă tưng cắt thịt ḿnh cứu sống chúa công. Nay sao không chịu nhắc lại để được được ân thưởng.

Giới Tử Thôi thưa mẹ:

- Xưa, Tấn Hiến Công có chín người con, nhưng chỉ có Chúa công là người hiền đức. Nay chúa công phục nghiệp được cũng là do mệnh trờị Những kẻ theo hầu không biết, tự cho là do công lao của họ để xin ban thưởng. Con cho là điều đó xấu hổ lắm.

Ngướ mẹ hănh diện nh́n con:

- Con là người liêm sỉ, vây mẹ đây há không biết làm mẹ của một nguời liêm sỉ hay sao? Vậy th́ mẹ con ta nên t́m nơi ẩn thân ở một chốn núi rừng heo hút nào đó, tránh xa chốn thị thanh đô hội này.

Tử Thôi mững rỡ:

- Từ lâu con vẫn mong thưa với mẹ điều như mẹ vừa nói.

Sau đó, Giới Tử Thôi bỏ nhà cửa, đưa mẹ vào vào vùng núi Miên Thượng ẩn cư. Chỉ một ḿnh Giải Trương, c̣n cả làng xóm không ai biết mẹ con Tử Thôi đă đi đâu. Nghĩ đến cuộc sống cơ cực của hai mẹ con này, Giải Trương đánh bạo, chờ đến đêm, viết lên một tờ giấy, đem treo trước cổng thanh: "Có một con rồng khi sa cơ được được một đàn rắn theo pḥ, bôn ba khắp nơi. Một lần, rồng đó sắp chết, một con rắn xẻo thịt ḿnh để cứu rồng. Nay rồng lên ngai vàng, cả đàn rắn hưởng phú quí, chỉ riêng con rắn từng xẻ thịt cứu chúa th́ chẳng ai hỏi đến". Sáng ra, quân canh đem tờ giấy vào tŕnh vuạ Tấn Văn Công giật ḿnh:

- Đúng là Giới Tử Thôi đă trách ta rồi. Xưa , lúc qua nước Vệ, Giới Tử Thôi đàxả thân cứu ḿnh, nay lẽ nào ta lại có thể quên được công thần này.

Vua liền cho quân đến mời Giới Tử Thôi. Nhưng nào đâu thấỵ Vua truyền: "Hễ ai chỉ cho biết Giới Tử Thôi đă đi đâu, th́ sẽ được phong làm quan". Giải Trương t́m đến tâu vua:

- Chính thảo dân đă viết tờ giấy đó, chứ không phải Giới Tử Thôi. Kẻ công thần đó đă cơng mẹ vào vùng rừng núi Miên Thượng rồi.

Tấn Văn Công buồn bă:

- Trẫm đă vô t́nh thành người bạc nghĩạ
Nhà vua phong cho Giải Trương làm Hạ Đại Phu, rồi nhờ y dẫn đường cùng với quân sĩ t́m đến Miên Thượng. Đến nơi chỉ thấy rừng rậm núi cao, bốn bề tĩnh lặng. Suốt ngày quân sĩ sục soạn những chẳng t́m thấy tăm tích. Tấn Văn Công truyền hạ trại, cho quân sĩ t́m thêm mấy ngày liền mà vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, vua nghĩ ra một ư ngu: "Giới Tử Thôi là mộ t người con chí hiếụ Nay đă cơng mẹ vào rừng ẩn dật. Ta đă quyết tâm t́m , vậy mà ngươi vẫn cố tránh mặt. Nay chỉ c̣n cách phóng hoả đốt rừng, thế nào Giới Tử Thôi cũng cơng mẹ chạy ra\"

Nghĩ vậy, vua ra lệnh phóng hỏạ Lửa bắt mạnh, lan nhanh, nhưng phải ba ngày mới cháy rụị Vẫn không thấy mẹ con Giới Tử Thôi đâu. Quân lính được lệnh lao vào rừng trụi, lửa chưa ngún tắc, t́m kiếm. Họ t́m thấy hai cái xác đă thiêu rụi. Tấn Văn Công khóc thét lên:

- Ta là người bất nghĩa, bất nhân đă giết chết mẹ con ngươi rồi.

Tấn Văn Công cho làm lễ tang chu đáo; lấy ruộng chung quanh núi làm "tế điền" cho họ Giới. Vua đă cho đốt rừng vào ngày mồng ba tháng ba, nên truyền cho dân, hằng năm đến ngày đó phải "hàn thực", ăn nguội, không được đốt lửa nấu nướng ǵ cả.

Hương Lửa Ba Sinh

Trong sách "Quần ngọc chú" có ghi lại chuyện Tỉnh Lang đi chơi chùa Nam Huệ Tự. Ở chùa, Tỉnh Lang nằm chơi một lúc đă ngủ thiếp đi không hay biết ǵ. Trong giấc ngủ, Tỉnh Lang mơ thấy ḿnh đi chơi Non Bồng. Ở chốn ấy, Tỉnh Lang gặp một ông thầy ngồi niệm kinh, trước mặt có một cây hương đang cháỵ Do ṭ ṃ, Tỉnh Lang bèn hỏi về nguyên do cây hương nàỵ Thầy tăng đáp lại rằng, trước đó đă có một người lên chùa và thắp cây hương này để khấn nguyện, cầu phúc. Nay cây hương vẫn c̣n cháy mà người ấy đă sinh được ba kiếp rồị Kiếp đầu tiên là vua Huyền Tôn, kiếp thứ hai là vua Hiến Tôn ở đời Đường, và kiếp thứ ba là Tỉnh Lang. Nghe đến tên ḿnh, Tỉnh Lang giật ḿnh tỉnh giấc, ḷng nửa tin nửa ngờ. Về sau, điển tích này được lưu truyền rộng răi trong dân gian và dần dà đă h́nh thành nên thành ngữ "tam sinh hương lửa" hay "hương lửa ba sinh" để chỉ lời nguyện có hiệu lực đến ba đời ngườị

Về nguyên do của thành ngữ này, có sách cũng ghi lại nhưng đôi chỗ có khác đi chút ít. Theo "Từ điển truyện Kiều" của cụ Đào Duy Anh th́ sách "Truyền đăng lục" chép là: có người mộng thấy một vị lăo tăng, trước mặt có tia khói rất nhỏ. Vị tăng nói rằng: "Đó là khói hương của một người đàn việt kết nguyện, người đàn việt đă trải qua ba kiếp mà hương vẫn c̣n".

Như vậy, tuy các dị bản có khác nhau ở một số chi tiết, nhưng về cơ bản nguồn gốc và con đường h́nh thành thành ngữ "hương lửa ba sinh" đều thống nhất. Trong tiếng Việt, thành ngữ "hương lửa ba sinh" được dùng để chỉ lời nguyền, lời thề có ứng nghiệm đến ba kiếp, ba đời ngườị

Kết Cỏ Ngậm Vành

Ngụy Thù, người nước Tấn, có người vợ lẻ trẻ đẹp. Lúc Ngụy Thù gần chết, không muốn cho người vợ thuộc về người khác, bèn dặn con là Ngụy Khỏa phải chôn sống nàng chung trong áo quan của ḿnh. Ngụy Thù chết, Ngụy Khỏa động ḷng trắc ẩn nên tha cho người vợ trẻ. Về sau, Ngụy Khỏa đi đánh tướng nhà Tần là Đỗ Hồi trên đồng cỏ xanh. Tự nhiên Đỗ Hồi vướng chân vào cỏ và ngă xuống, bị Ngụy Khỏa đâm chết. Đêm hôm ấy Ngụy Khỏa nằm chiêm bao thấy cha của người vợ lẻ Ngụy Thù hiện đến và nói: "Tôi cám ơn ông đă không chôn sống con gái tôi, cho nên đă kết cỏ quấn quanh chân Đỗ Hồi cho nó ngả."

Thời Đông Hán, có người tên Dương Bảo đi chơi, thấy một con chim sẻ bị chim cắt đánh rơi, bèn đem về săn sóc nuôi nấng, đến khi chim mạnh th́ thả bay đị Về sau, bỗng có đứa trẻ mặc áo vàng, cầm bốn cái vành ngọc đến tạ ơn" "Tôi cám ơn ông đă cứu mạng tôị Tôi tặng ông bốn vành ngọc nàỵ Ai có được nó th́ con cháu sẽ đời đời được giàu có vinh hiển."

"Kết cỏ ngậm vành", ư nói ḷng biết ơn sâu sắc người đă giúp đỡ ḿnh.

Lá Thắm Chỉ Hồng

"Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha" (Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Đời vua Đường Hi Tông, có một người tên là Vu Hựu bắt được một cái lá đỏ trôi từ cung vua ra, trên cái lá đỏ đó có đề thợ Vu Hựu bèn làm một bài thơ khác, đề vào lá, rồi thả xuống sông th́ nó lại trôi trở vàọ Cung nhân là Hàn Thị bắt được.

Về sau vua Hi Tông thả 3000 cung nữ rạ Vu Hựu gặp được Hàn Thị mới biết được những bài thơ trên lá đỏ đó là của Hàn Thị

Chỉ hồng: xin xem tích "Dây Tơ Hồng"

Lệnh Ông Không Bằng Cồng Bà

Vào cuối thế kỷ thứ hai, Triệu Thị Trinh (bà Triệu) cùng anh là Triệu Quốc Đạt lănh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân Giao-châu chống quân Ngộ Ban đầu Triệu Quốc Đạt khuyên can bà Triệu, cho rằng thân con gái không đảm nổi việc binh. Nhưng bà Triệu cương quyết thành lập quân của ḿnh. Binh lính dưới quyền hai anh em chia làm hai cánh, một cánh do bà Triệu, một cánh do Triệu Quốc Đạt chỉ huỵ Để tránh sự nhầm lẫn của hai cánh quân đó, khi luyện binh, cũng như khi xung trận, hai anh em đă qui định hiệu lệnh riêng cho từng cánh : bà Triệu dùng cồng, c̣n Triệu Quốc Đạt th́ dùng lệnh (cồng và lệnh đều là những nhạc khí bằng đồng).

"Lệnh ông không bằng cồng bà", ư nói cho vui rằng mấy bà tuy vậy mà các ông chồng phải cả nể.

Chữ "Lệnh ông", tên gọi đề cao sự quan trọng của các ông, cũng phát xuất từ đó.

Lo Ḅ Trắng Răng

Người VN ta thường nghe thành ngữ "Lo ḅ trắng răng"; nó
mang ư nghĩa hoàn toàn tương đồng với thành ngữ của Tàu
"Kỷ nhân ưu thiên" (Người nước Kỷ lo trời sụp). Thời
Xuân Thu, một học giả tên là Liệt Ngư Khấu có trước tác
một bộ sách nhan đề là Liệt tử, trong đó kể một sự
tích như sau :

Xưa ở nước Kỷ có một người không lo ǵ ngoài việc lo
một ngày nào đó bầu trời sẽ sụp đổ, và lúc đó anh ta
sẽ không có chỗ nương thân.

Anh ta suy nghĩ măi mà không giải quyết được vấn đề
này, do đó cứ lo lắng quên ăn quên ngủ. Sau dó, có
người bảo cho anh ta biết là trời chỉ là bầu không khí
thật lớn mà thôi, làm sao sụp đổ được mà lọ Người
nước Kỷ này hỏi lại rằng :

- Nếu bảo bầu trời không sụp đổ được, nhưng mặt
trời mặt trăng và các tinh tú lại không sụp đổ được sao ?

Người kia giải thích rằng :

- Mặt trời, mặt trăng và tinh tú cũng là do thể khí tích
tụ lại mà thành những vật thể phát ra ánh sáng, dẫu cho
mặt trời mặt trăng và các tinh tú có sụp xuống đất, cũng
không gây hại ǵ cả cho loài ngườị

Người nước Kỷ nghe giải thích như vậy, từ đó mới hết
lo trời sụp.

Thời Xuân Thu cách chúng ta hơn 2200 năm rồi, thời đó loài
người chưa có kiến thức về khoa học, do đó sự hiểu
biết về vũ trụ vạn vật rất mù mờ. Dĩ nhiên lời giải
thích trên không có căn cứ khoa học.

Tuy nhiên, câu chuyện ngụ ngôn trên muốn nói là không nên
lo lắng về những thứ không thiết thực, không đáng lọ
Cho nên, dù kiến thức khoa học của người xưa có sai lầm
thiếu sót, th́ ư nghĩa câu chuyện ngụ ngôn vẫn không bị
ảnh hưởng.

Từ câu chuyện ngụ ngôn trên, chép trong sách Liệt tử,
người đời sau rút ra thành ngữ "Kỷ nhân ưu thiên" để
nói về người có tật lo lắng không đâu, lo cái không
đáng lo, để tự chuốc lấy phiền muộ n cho ḿnh.

Lục Cực

Người ta cho rằng trên đời có sáu điều kém may mắn nhất có thể xảy ra cho con ngườị Sáu điều ấy là:

+ Hung đoản chiết: Nghĩa là chết v́ tai nạn hay chết non (chết lúc c̣n nhỏ tuổi)
+ Tật: Nghĩa là bệnh tật đau yếụ
+ Ưu: Nghĩa là có chuyện phải lo nghĩ ưu phiền.
+ Bần: Nghĩa là nghèo túng.
+ Ác: Nghĩa là làm điều thất đức, hăm hại người khác.
+ Nịch: Nghĩa là say mê ch́m đắm.

Lục Dục Thất T́nh

Lục dục là 6 điều ham muốn, theo nhà Phật, gọi là Lục Căn, ấy là: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, và Ư.

Thất t́nh là bảy thứ t́nh cảm thường khuấy động ḷng người, ấy là: Hỉ (vui), Nộ (giận), Ai (buồn), Cụ (khổ), Ái (yêu), Ố (ghét), và Dục (tham muốn).

Lục Lễ

Theo tục lệ Việt Nam, để hoàn tất một đám cưới, người ta phải có đủ 6 lễ, gọi là Lục Lễ:

1/ Nạp Thái: Nhà trai nhờ người đến nhà gái ướm ư rằng muốn kén chọn con gái nhà ấy làm dâụ

2/ Vấn Danh: Nhà trai nhờ mối lái đến hỏi tên họ và ngày sanh của cô gái (để xem xung hay hạp)

3/ Nạp Cát: Nhà trai báo cho nhà gái đă xem tuổi, xem quẻ, mọi chuyện tốt đẹp và muốn tiến hành hôn lễ.

4/ Nạp Tệ (Nạp Trưng): Nhà trai đem sính lễ tới nhà gái để làm lễ từ đường và ra mắt. Lễ này thông thường gọi là lễ Hỏị

5/ Thỉnh Kỳ: Nhà trai xin nhà gái định ngày rước dâụ

6/ Thân Nghinh: Lễ rước dâu về nhà trai, tức là lễ Cướị

Mất Nước Đau Ḷng Con Quốc Quốc

Tiếng kêu con chim Quốc năo nùng ai oán.

Tục truyền rằng ngày xưa vua Thục Đế (An Dương Vương) bị con gái là Mỵ Châu nhẹ dạ trao nỏ thần cho Trọng Thủy, con trai Triệu Đà, cho nên bị mất nước. Oan ức quá, Thục Đế nhảy xuống sông tự tử mà chết, hóa thành chim Quốc, ngày đêm sầu oán kêu măi không thôị


Mài Dao Dạy Vợ

Ngày xưa có một người nhà quê lấy phải vợ độc ác. Người vợ này đối xử với mẹ chồng rất là hỗn láo vô lễ. Người chồng khuyên hoài không được, bèn nghĩ ra một kế.

Anh ta sắm một con dao bầu thật sắt. Mỗi ngày lấy ra màị Người vợ lấy làm lạ hỏi, nhưng anh ta không đáp. Người vợ ṭ ṃ hỏi hoài, cuối cùng anh ta trả lời: "Tôi mài dao để có dịp giết mẹ đi thôị Mẹ đă già, sống mà ngày nào cũng căi cọ với ḿnh vậy th́ thà chết đi cho rồị".

Người vợ thấy thế hoảng hốt, rồi ăn năn: "Xin ḿnh đừng giết mẹ, từ nay tôi hứa sẽ không có điều chi to tiếng trong nhà nữa".

Từ đó trong nhà thuận ḥa vui vẻ.

"Mài dao dạy vợ" ư nói sự khôn ngoan của người chồng để khuyên bảo vợ ḿnh làm điều phải lẽ.

Nằm Giá, Khóc Măng

Vương Tường, đời Tần, mồ côi mẹ, phải sống với d́ ghẻ. Bà d́ ghẻ rất độc ác, tuy vậy, Vương Tường vẫn một ḷng hiếu thảọ Có một mùa Đông tuyết giá, bà d́ ghẻ thèm ăn cá tươi, Vương Tường bèn cởi trần nằm trên băng tuyết để chờ bắt cá. Bỗng nhiên tảng băng bị nức làm đôi, có hai con cá chép nhảy lên. Vương Tường bắt hai con cá về cho d́ ghẻ ăn, nhờ vậy mà cảm hóa được ḷng bà d́ ghẻ.

Mạnh Tông, đời Tam Quốc, mồ côi cha, sống chí hiếu với mẹ. Đang mùa măng khan hiếm mà mẹ bị bịnh, thèm ăn măng. Không biết làm sao, Mạnh Tông ra bụi tre sau vườn ngồi khóc. Bỗng chốc có mụt măng dưới đất mọc lên, Mạnh Tông bèn hái về nấu cháo cho mẹ ăn, nhờ đó mà mẹ khỏi bệnh.
"Nằm Giá, Khóc Măng" là thuật ngữ ư chỉ tấm ḷng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ

Ngậm Ngải T́m Trầm

Trầm là một loại cây có mùi hương, nên c̣n được gọi là Trầm Hương, trị được nhiều chứng bệnh, rất quí và hiếm.

Những người đi t́m Trầm thường được gọi là "đi điệu".

Người "đi điệu" phải là đàn ông, v́ người ta tin rằng Trầm kỵ âm khí (đàn bà). Ngày ra đi cũng phải coi kỹ là ngày tốt, hạp tuổị Họ cúng vái cẩn thận với Thiên Y Thánh Mẫu (hiện thân của Trầm và Kỳ
Nam). Rồi họ đi theo từng nhóm, mỗi nhóm có mật hiệu để khỏi bị lạc.

V́ Trầm Hương thường ở sâu trong rừng, rất khó t́m, lắm khi t́m được rồi, người ta lạc luôn trong rừng, không t́m thấy đường về. Cho nên những người "đi điệu" phải ngậm một thứ ngải rừng để chống lại những bệnh hiểm nghèọ Ngải này không phải là một loại bùa yếm, mà là một loại thảo có lá dài như cỏ tranh, củ bằng lóng tay màu vàng. Theo các nhà nghiên cứu ngày nay, loại thảo dược này rất tốt để trị bịnh phong thấp, nóng lạnh, sốt rét...

"Ngậm Ngải t́m Trầm" có ư nói là một công việc rất khó, bỏ nhiều thời gian và sức lực, nhưng kết quả th́ ít có hy vọng.

Ngưu Lang Chức Nữ (Mưa Ngâu)

"Thương thay Chức Nữ Ngưu Lang,
Trong đêm gặp gỡ mơ màng khóc nhaụ.."

Ngưu Lang là một gă chăn trâu nghèo, gặp Chức Nữ, một nàng tiên. Hai người yêu nhau say đắm. Ngọc Hoàng Thượng Đế bèn cho hai người lấy nhaụ

Tuy vậy, Ngưu Lang từ đó không chăm lo đàn trâụ Chức Nữ cũng lười nhác làm bổn phận ḿnh là kéo tơ dệt vảị

Ngọc Hoàng thấy thế bèn nổi giận làm cho chàng và nàng cách biệt nhau, lấy sông Ngân Hà chia đôi hai đàng. Ngọc Hoàng chỉ cho hai người gặp nhau một lần trong năm, đó là vào đêm Thất Tịch, mồng 7 tháng 7 Âm lịch.

Thế gian đồn rằng trong đêm ngày 7 tháng 7, các con quạ đội đá bắt cầu Ô Thước qua sông Ngân Hà để cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhaụ Người ta c̣n nói vào dịp này, v́ nàng Chức Nữ quá hồi hộp mừng rỡ được gặp người yêu cho nên làm cho chỉ tơ rơi đầy trời, ấy là mưa Ngâu (mưa tháng 6).

Ngũ Phúc Lâm Môn

Ngày Tết, người Việt Nam thường chúc nhau "Ngũ Phúc Lâm Môn", có nghĩa là năm hồng phúc đến nhà.

Ngũ Phúc ấy là:

+ Phú: Nghĩa là giàu có.
+ Quí: Nghĩ là sang trọng.
+ Thọ: Nghĩa là sống lâụ
+ Khang: Nghĩa là có sức khỏe dồi dàọ
+ Ninh: Nghĩa là b́nh an.

Nhan Bành Di Chích

+ Nhan: Là Nhan Hồi, quê ở nước Lỗ, tự là Tử Uyên, học tṛ ưu tú của Khổng Tử. Nhan Hồi siêng năng, học giỏi, cam sống cảnh nghèo mà vẫn vui vẻ. Tuy vậy, Nhan Hồi mang bịnh mà chết yểụ

+ Bành: Tức Bành Tổ, một nhân vật thượng cổ, nổi tiếng v́ sống lâu đến 800 tuổị Có sách bảo Bành Tổ và Lăo Tử là một ngườị

+ Chích: Tên của một kẻ trộm nổi tiếng đời vua Hoang Đế. Về sau, Liễu Hạ Huệ có một người em cũng trộm cướp hung bạo trong thiên hạ, nên người ta cũng gọi là Đạo Chích.

+ Di: Tức Bá Di, con của vua Cô Trúc. Khi Vơ Vương đem quân đi đánh nhà Thương (vua Trụ), Bá Di khuyên can, nói là tôi th́ không nên đánh vuạ Vơ Vương không nghẹ Khi đánh xong vua Trụ dựng nhà Chu, Bá Di nhất định không ăn thóc nhà Chu, trốn vào núi Thái Dương, chỉ ăn rau cỏ để sống. Về sau có người bảo rau cỏ ấy cũng của nhà
Chu, Bá Di bèn nhịn đói đến chết.

"Nhan Bành Di Chích", ư nói yểu, thọ, thiện, ác, thảy đều phải chết. Khi sống th́ có khác nhau, chết rồi th́ ai cũng giống nhau cả.

Nổi Cơn Tam Bành

Theo sách Phật, trong con người ta có 3 vị thần chuyên xúi con người làm điều ác, rồi cứ đến ngày Canh Thân phải về chầu Thượng Đế kể tộị 3 vị thần ấy là Bành Kiêu, Bành Cứ, và Bành Chất.

"Nổi cơn tam Bành", ư nói bỗng chốc con người nổi giận lên, muốn làm điều xằng bậỵ

Sợ Truông Nhà Hồ, Ngại Phá Tam Giang

Sử c̣n ghi lại, nơi địa đầu tỉnh Quảng B́nh ngày nay có một vùng đất rộng lớn cạnh là Hồ Xá, nên gọi là Truông Nhà Hồ. Ngày xưa vùng này nổi tiếng nhiều trộm cướp. Về sau, ông Nguyễn Khoa Đăng được chúa Nguyễn ủy thác đi dẹp loạn. Ông liền nghĩ ra kế giả làm khác bộ hành đi ngang Truông Nhà Hồ, để cho bọn cướp bắt đem về giam ở sào huyệt, nhưng đi đến đâu ông rải lúa để làm dấu, nhờ đó mà quân lính của ông vào tận sào huyệt dẹp tan quân cướp.

Phá Tam Giang có khúc cạn khúc sâu bất thường nên việc đi lại rất khó khăn nguy hiểm. Nhiều thuyền bè qua lại bị sóng cuộn bất ngờ bị đắm ch́m.

Cho nên trong dân gian có câu:

"Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ Truông Nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang"

Câu đó ư nói nhiều trở ngại khó khăn khó mà vượt qua được.

Sử Xanh

Sử xanh ra từ bởi từ "thanh sư"?. Đời xưa người ta chưa có giấy bút, thường dùng vật nhọn khắc ghi lại lịch sử lên thân trẹ Cái cật tre vốn có màu xanh nên gọi là "Sử xanh".

Sư Tử Hà Đông

Thoạt nghe, không ít người nghĩ rằng, trong nội dung câu thành ngữ "Sư Tử Hà Đông" có điều ǵ liên can đến đất Hà Đông xưa của Việt Nam. Chuyện thực lại không phải như vậỵ Các ông già, bà lăo đă sống gần hết cả đời trên mảnh đất ấy, những người tinh thông chữ nghĩa, cả đời tầm chương trích cú, cũng chẳng ai biết hai chữ Hà Đông quen thuộc kia có liên hệ ǵ với cái máu tam bành của những người đàn bà cả ghen, sẵn sàng đập phá, quát tháo chồng con ngay trước mặt mọi ngườị Th́ ra, lại cũng là chuyện râu ông nọ cắm cằm bà kiạ

Số là, ở đất Vĩnh Gia bên Trung Quốc đời nhà Tống, có một người đàn ông tính nết thất thường, họ Trần tên Tạo, tự Lư Thường. Lúc c̣n nhỏ, Tạo rất thích chơi tṛ đấu kiếm. Cậu ta có thể ngồi cả ngày để nghe kể chuyện về các anh hùng hảo hán và hết sức khâm phục ḷng dũng cảm, đức tính trung thực của những con người ấỵ Lớn lên, Tạo thích lân la đến bên các chí sĩ giang hồ để học mót các môn vơ nghệ và cùng bọn ngao du nay đây mai đó. Tạo cũng tự liệt ḿnh vào cùng một thuyền một hội với những bậc chí sĩ kia và lúc nào cũng tỏ ra sẵn ḷng làm việc nghĩa, giúp bạn, cứu ngườị

Lạ thay, vừa bước sang tuổi trung niên Trần Tạo bỗng thay đổi tính nết. Tạo chán ghét cuộc sống giang hồ và lạc vào văn chương, chữ nghĩạ Có lúc, Tạo háo hức với ư nghĩ bước lên vũ đài chính trị để gây thanh thế với đờị Nhưng, tiếc thay, lực bất ṭng tâm. Quá nửa đời người, công vẫn không thành, danh vẫn không toạị Trần Tạo đâm ra nản chí, bèn quay về sống ẩn dật, sớm hôm vui thú ruộng vựn. V́ đă có một thời oanh liệt, vào cung ra kiếm, lúc múa gươm nơi thị thành, lúc khua chèo nơi biển vắng... Nặng nghĩa t́nh thầy tṛ, nên, dẫu đă quay về ở ẩn, các chiến hữu cũ vẫn thường xuyên lui tới nhà Tạo để đàm đạo sự thế. Chẳng nói ra th́ ai cũng biết, cùng đến với các chàng trai anh hùng ấy bao giờ cũng có các ca kỹ, vũ nữ. Họ xinh tươi, lại hát hay, múa đẹp...Thế là, ở ẩn nhưng vẫn cứ qua lại, vẫn yến tiệc linh đ́nh, vẫn lả lướt, liếc mắt đưa t́nh. Thấy vậy, vợ Tạo là Liễu Thị rất ấm ức, cơn ghen nổi lên tắc nghẹn ở cổ. Liễu nghĩ: Biết đâu, trong số những người vũ nữ xinh đẹp, tài ba kia, lại chẳng có kẻ tà tâm, muốn chiếm doạt chồng ḿnh. Không ḱm được máu ganh tức, Liễu đứt phắt dậy cầm gậy vụt lấy vụt để vào tường, vào phản. Vừa vụt, Liễu vừa kêu la, quát tháo ầm ĩ. Các quan khách cùng các mỹ nữ hiện diện trong bữa tiệc sợ hoảng loạn, ba chân bốn cẳng t́m lối tháo thân. Trần Tạo biết là bất nhă lắm, nhưng vốn là người sợ vợ, nên không dám đứng ra khuyên ngăn. Hắn đứng im một chỗ, hai tay khoanh trước ngực, nh́n lấm lét vẻ đầy sợ hăi, như muốn lẫn tránh cặp mắt hung dữ đỏ ngầu như máu của vợ đang xói lửa nh́n ḿnh...

Được tin ấy, Tô Đông Pha, bạn Tạo, đă đề thơ tặng Tạo:

Hốt văn Hà Đông sư tử hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên
(Bỗng nghe sư tử Hà Đông gầm,
chiếc gậy vung lên khiến cho mọi người ngơ ngác)

Chữ "Hà Đông" ám chỉ người đàn bà họ Liễu (Thơ Đỗ Phủ có câu "Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu"). C̣n "sư tử hống" là lời của nhà Phật biểu thị sự uy nghiêm - điều mà hàng ngày Trần Tạo vẫn tụng niệm để mong đạt tớị

Trong tiếng Việt, thành ngữ "Sư tử Hà Đông" nhằm ám chỉ những người thuộc phái đẹp có tính ghen tuông dữ dộị Khi nổi máu tam bành có thể làm cho các đức ông chồng kinh hồn, tán đởm, bao dũng lược của giới mày râu cũng tiêu tan thành mây khói cả.

Tam Ṭng

Ngày xưa, người Việt
Nam trọng nam khinh nữ. Quan niệm bấy giờ cho rằng đàn bà có nghĩa phải có tam ṭng (ba điều lệ thuộc) "Tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử." Có nghĩ là lúc bé thơ th́ phải nghe theo cha, khi lấy chồng phải phụng sự chồng, khi chồng chết phải phụng sự cho con.
Thần Tài

Theo truyền thuyết, thần tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bịnh trừ taị Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông th́ được giúp đỡ. Người buôn bán th́ cúng cầu ông để được phát đạt may mắn.

Người ta thường vẽ ông thành h́nh một người mặt đen, râu rậm, tay cầm coi, cưỡi cọp đen. Dân gian c̣n gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soáị

Trần Miên Khố Chuối

Ngày xưa có anh học tṛ tên là Trần Miên, học hành rất thông minh và siêng năng. Tuy vậy, anh

ta rất nghèọ Trần Miên phải đi theo hầu hạ các bạn đồng học để có cơ hội học lóm.
Đến kỳ thi, Trần Miên không có áo quần, phải mang khố bằng lá chuối đi thị
Tới lúc xướng danh, các bạn đồng học đều rớt cả, Trần Miên lại đậu thủ khoạ
"Trần Miên khố chuối" ư nói kẻ rất nghèo.

Trộm Gặp Trộm

Ngày xưa ở tỉnh Hải Dương có một tay trộm lành nghề. Khách qua đường ai ai cũng bị anh ta lấy trộm.

Một hôm có một người khách ghé qua phố ngủ trọ. Ông ta đếm tiền, bỏ vào hầu bao, đặt trên đầu giường kê làm gối ngủ.

Tên trộm giả tiếng mèo, ṃ vào pḥng. Khách nghe động, ngồi dậy đuổi mèọ Lúc nằm xuống th́ túi bạc đă biết mất.

Khách bèn lấy một cái nơm bắt cá, t́m đến một căn nhà có đèn, nh́n vào th́ thấy hai vợ chồng đang đếm tiền. Khách bèn mở cửa bước vào đ̣i chia củạ Tên trộm bèn vác gậy đuổi theo kẻ lạ mặt. Khách bèn nấp chỗ tối, thừa lúc đó lấy cái nơm chụp lên đầu vợ kẻ trộm, lấy lại túi bạc, rồi theo đường tắt về lại quán trọ.

Sáng hôm sau tên trộm mang xôi gà đến ra mắt khách xin làm đệ tử. Khách nói ngày xưa vốn cũng là một tên trộm khét tiếng, nay đă hoàn lương. Khách khuyên tên trộm nên đổi nghề làm ăn, giúp ích cho đờị

"Trộm gặp trộm" ư nói những kẻ mưu kế gặp kẻ c̣n mưu kế hơn.

Tứ Đại Mỹ Nhân
Người Trung Hoa ngày xưa chọn bốn người con gái có sắc đẹp tuyệt nhất trong lịch sử, gọi là "Tứ Đại Mỹ Nhân", đó là Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, và Dương Quư Phị Cho nên trong nhân gian c̣n truyền tụng:

"Tây Thi nhạn lạc,
Chiêu Quân trầm ngư,
Điêu Thuyền Bế Nguyệt,
Dương Ngọc Hoàn tu hoa"

(dịch là chim nhạn thấy Tây Thi đẹp phải rớt xuống. Con cá đang bơi thấy Chiêu Quân phải lặn ngaỵ Mặt trăng đang sáng thấy Điêu Thuyền phải hổ thẹn che mặt lạị Hoa đang nở thấy Dương Ngọc Hoàn (Dương Quư Phi) phải cúi đầu)

Tứ Đức

Người xưa đánh giá đàn bà con gái phải có đủ "Tứ Đức" mới gọi là hiền. "Tứ Đức" ấy là "Công, Dung, Ngôn, Hạnh"

+ Công: Là nghề khéọ Đàn bà phải cần biết vá may nấu nướng. Ai giỏi nữa th́ biết cầm kỳ thi họa

+ Dung: Là diện mạọ Đàn bà phải biết chải chuốt gọn gàng sạch sẽ, đi đứng phải khoan thaị

+ Ngôn: Là lời nóị Đàn bà ăn nói phải dịu dàng nhỏ nhẹ

+ Hạnh: Là tính hạnh. Đàn bà phải ăn ở nết na, kính trên nhường dưới, không hợm hĩnh cay nghiệt với aị

Tứ Hỉ

Tứ Hỉ phát xuất từ quan niệm của người Trung Hoa, cho rằng trong đời người, có 4 điều tốt lành mà ai cũng đáng vui mừng:

Cữu hạn phùng cam vũ
Tha hương ngộ cố tri
Động pḥng hoa chúc dạ
Kim bảng quải danh th́.

Có nghĩ là: Hạn hán lâu ngày nay có mưa - Nơi xứ lạ quê người gặp được bạn cũ - Đêm động pḥng hoa chúc của vợ chồng mới cưới - Lúc thi đỗ bảng vàng.

Vắng Như Chùa Bà Đanh

Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nộị V́ để tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuệ Vào thời đó, viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các cuộc chiến tranh, c̣n chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (v́ hầu hết những người này đều theo đạo Phật).

Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ đă chiếm khu vực đất này để lập trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là trụ sở của trường trung học Chu Văn An, v́ thế chùa Châu Lâm phải dời về phía Tây Nam, ở cuối làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm.

Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện vẫn c̣n giữ lại được tấm bia ghi rơ: Bà Đanh tự (chùa Bà Đanh). Theo tục truyền, Bà Đanh là một người đàn bà đă có công dựng lên chùa này, v́ thế mà ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị băi bỏ, số người đến lễ bái chùa này ngày một ít đị Chính v́ thế mà không khí ngôi chùa này ngày càng trở nên vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại cảnh vắng của chùa này:

Dấu bố cái rêu in nền phủ
Cảnh Bà Đanh hóa khép cửa chùạ


Cảnh vắng vẻ, thiếu người đến lễ bái của chùa Bà Đanh dần dần đă trở thành một h́nh ảnh để so sánh với bất cứ một cảnh vắng vẻ nàọ "Vắng như chùa Bà Đanh" là một sự vắng vẻ yên tĩnh gợi nên vẻ lạnh lẽo, cô quạnh, thiếu hơi ấm của con ngườị Ca dao Hà Nội có câu:

C̣n duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh.

Xướng Ca Vô Loài
Người Việt
Nam xưa chia tầng lớp xă hội ra làm 4: Công, Nông, Binh, Thương.

Công là những người làm nghề công nhân nhà máy, chuyên về công nghiệp. Nông là những người sống băng nghề trồng trọt chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp. Binh là những người trong quân đội, làm lính đánh trận. Thương là những người sống bằng nghề buôn bán.

Trong 4 tầng lớp đó, nghề hát xướng không thuộc vào lĩnh vực nào cả nên được coi như là "vô loài", thường bị coi thường. Thậm chí, người xưa c̣n coi nghiệp hát xướng là đáng khinh rẻ chê cười nữa.

Copied from http://www.kientruc-vn.org/giaithoai.htm