16.Về vấn đề song văn hóa (biculturalism).

Những người cha mẹ  Việt nam ở Mỹ lắm khi đứng trước một vấn đề nan giải: nên dạy dỗ khuyến khích cho con cái biết tiếng Việt cùng những phong tục tập quán của Việt nam hay để cho chúng hoàn toàn dùng tiếng Mỹ trong và ngoài gia đình và hoàn toàn sống theo lối Mỹ.

Trong mấy năm gần đây báo chí Việt ngữ tại hải ngoại cũng bàn cãi nhiều về sự chọn lựa này , nhất là về khía cạnh văn hóa, qua những đề tài định nghĩa thế nào là văn hóa Việt, thế nào là <<Việt tính>>, thế nào là về nguồn,.. .Cuôc đối thoại sôi nổi, lắm khi gay gắt. Màu sắc chính trị của vấn đề càng làm cho người cha mẹ đang đi tìm một đường hướng thích hợp cho con cái mình cảm thấy mệt mỏi, lạc hướng, đôi khi còn có thể cảm thấy chán nản, muốn buông xuôi, thà để con cái mình <<nó thành Mỹ luôn, đỡ nhức đầu, mai mốt lớn lên tự nó  sẽ tính>>.

Tuy nhiên dù muốn trốn tránh chúng ta cũng không thể trì hoãn vấn đề được, ít lắm là trong lãnh vực thực tiễn của đời sống hàng ngày trong gia đình và trong nhu cầu giáo dục  của các em.

Ða số chúng ta chưa đủ khả năng dùng tiếng Mỹ trong mọi lãnh vực của đời sống gia đình, dù chúng ta có thể có vững kiến thức tiếng Mỹ trong đời sống nghề nghiệp. Do đó hoàn toàn dùng tiếng Mỹ trong liên hệ cha con, mẹ con sẽ làm nghèo nàn , biến dạng một cách ngoài ý muốn những mối liên hệ đó. Từ cách xưng hô, từ giọng nói, điệu bộ cử chỉ (body language) đi kèm theo lời nói, cho đến những quan niệm trừu tượng mà ý nghĩa gắn liền với bối cảnh văn hóa của người nói, nhiều yếu tố làm thay đổi nội dung mà ta muốn truyền đạt, ở bình diện ý thức cũng như tiềm thức. Sự khác biệt cũng giống như giữa  bản Anh ngữ của chuyện Kiều do một người Mỹ đọc so  với một nghệ sĩ Việt nam ngâm thơ Kiều. Như nhiều người từng nói: dịch là phản. Có thể thế hệ kế tiếp sẽ thấm nhuần tiếng Mỹ và văn hóa Mỹ và do đó đủ sức dùng được tiếng Mỹ để giáo dục con cái chúng một cách đúng mức, nhưng đối với phần đông chúng ta thì không.

Làm cha mẹ, ai cũng muốn để lại cho con một di sản tinh thần nào đó. Tuy nhiên theo thiển ý, văn hóa Việt nam chưa đến lúc có thể được truyền đạt một cách trung thực và thỏa đáng bằng tiếng Mỹ. Có thể phải mất chừng vài chục năm nữa mới có những hệ thống danh từ, những tự điển, sách vở tiếng Mỹ đi sâu vào văn hóa Việt nam, ngoài phạm vi khảo cứu trong các trường đại học nhưng cao hơn trình độ các sách hướng dẫn về du lịch. Ví dụ, ta có thể không cần biết tiếng Pháp mà vẫn hiểu được văn hóa Pháp nhờ những điểm giống nhau giữa hai nền văn hóa và số lượng lớn học giả người Mỹ và Anh    sách vở tiếng Mỹ (tiếng Anh) bàn về nước Pháp. Hoặc ta có thể tìm hiểu văn hóa Trung quốc bằng cách chỉ đọc sách tiếng Việt vì hai nền văn hóa đã chung đụng với nhau hang ngàn năm, biết bao học giả Việt nam đã viết và dịch về Trung quốc. Nói một cách khác, người Mỹ chỉ mới để ý nhiều hơn  đến văn hóa Việt nam gần đây thôi sau khi chiến cuộc chấm dứt và họ được tiếp xúc nhiều hơn với người Việt ngoài khuôn khổ của cuộc chiến. Có lẽ cho đến nay, một phần vì ??attention span ??(khả năng chú ý) của dân Mỹ ngắn, một phần vì tầm quan trọng giới hạn của Việt nam trên thế giới hiện nay về ảnh hưởng kinh tế và văn hóa, quần chúng Mỹ cũng  chưa để ý và hiểu văn hóa chúng ta mấy, so với kiến thức của người Pháp đã xây dựng về Việt nam trên cả trăm năm. 

Cho nên, nếu ta chỉ trông cậy vào sách vở tiếng Mỹ (tiếng Anh), ta có thể hiểu lệch lạc về văn hóa của chính chúng ta, có thể đưa đến những phê phán không công bằng đói với chính tổ tiên, nguồn gốc của chúng ta. Chính một số nhân vật quan trọng của Mỹ trong chiến tranh lịch sửm nhìn lại cũng công nhận họ thất bại vì họ đã không hiểu người Việt nam và lịch sử Việt nam thì  chúng ta phải nên cẩn thận. Do đó, đứa trẻ cần biết tiếng Việt để tham gia trực tiếp vào đời sống tinh thần, trí thức cũng như tâm linh, của gia đình, để thực sự sống một phấn nào những giá trị tinh thần truyền thống của chúng ta. Ðể rồi, hy vọng  lúc trưởng thành chúng có thể một cách chân thành và công bằng đối với chúng ta, xây dựng những giá trị tinh thần của riêng thế hệ chúng. Những giá trị này cần phù hợp với những điều kiện sống của xã hội mới của chúng, xã hội tương lai mà dù sáng suốt đến đâu chúng ta hiện nay cũng không thể tiên liệu được trong thế giới đang thay đổi và đang toàn cầu hóa (globalization)rất nhanh .

Dù chúng ta có muốn con chúng ta hoàn toàn nhập vào cái gọi là nếp sống Mỹ (Americanized), chúng ta vẫn chưa thoát được vấn đề. Vì trả lời câu hỏi <<Thế nào là văn hóa Việt, thế nào là ??về nguồn ??>> đã rất khó thì trả lời câu hỏi: <<Thế nào là ??nếp sống Mỹ??, ??văn hóa Mỹ?? >> lại càng khó hơn. Lúc ở trại tỵ nạn và chưa biết gì về đời sống bên Mỹ, có lần tôi hỏi một bác sĩ Mỹ xem người Mỹ trung bình có đọc báo Time và Newsweek hay không. Ông ta trả lời: <<Người Mỹ trung bình là người Mỹ đứng bán xăng>>. Vậy dạy con theo lối Mỹ có thể chỉ là thả cho nó chơi với bạn hàng xóm, xem MTV, xem cable TV mà không biết chúng làm gì lúc mình vắng mặt,và nên nhớ, trên dưới nửa thanh thiếu niên Mỹ trung bình đã xài qua một thứ ??drug?? nào đó (chin mươi phần trăm học sinh lớp 12 đã từng uống rượu và trên 50% đã từng hút cần sa). Hoặc cho chúng ăn fast food, chips, pizza, hamburger suốt ngày khỏi nấu nướng chi cho hôi nhà, và mất thì giờ. Hoặc cho chúng gọi cha mẹ bằng first name cho thân mật, khỏi nhức đầu về phân biệt chú bác, cô cậu rất lôi thôi. Khỏi phải dạ, vâng , cứ <<ừ hứ> là thích hợp mọi hoàn cảnh. Hoặc đợi chúng đủ 18 tuổi thì đi ra khỏi nhà, muốn làm gì thì làm.

 Nhưng chúng ta nên nhớ rằng , chính người Mỹ phần đông lại chẳng muốn loại con cái như vậy và càng ngày họ càng ý thức nhu cầu phải đảo ngược lại thái độ buông thùa của nền giáo dục hiện nay. Dạy con theo lối Mỹ cũng có thể là dành thì giờ quí giá để  dạy dỗ con cái và tạo mối liên hệ vô giá (??priceless??) giữa cha con mẹ con thay vì chỉ đi kiếm tiền mang về nhà, tạo một không khí thoải mái,??dân chủ?? trong gia đình, không có kiểu chồng chúa vợ tôi, trọng nam khinh nữ, soạn cho chúng một hành trang kiến thức khoa học và tinh thần vững chắc để chúng ra đời với óc cỡi mở lạc quan và lòng tự tin đặt biệt của người Mỹ.

cởi mởTrong một bài  trong báo Mỹ bàn về lễ phép của trẻ em, đến 80% cha mẹ Mỹ hiện nay than phiền là trẻ Mỹ thiếu giáo dục về phép tắc, lịch sự (manners, etiquette) và họ thấy cần phục hồi lại những khía cạnh giáo dục này. Số đông cha mẹ muốn con mình bỏ thói nói tục, chửi thề (cursing,profanities, đương nhiên ! )biết thưa gởi (biết gọI người ngang hàng vớI cha mẹ là<<Mr>> hay <<Mrs>>, nếu không muốn dùng << Sir>> hoặc <<Ma?am>> hơi xưa), biết nói<<làm ơn>>, <<cảm ơn>> (<<Please>> hay <<thank you>>), những chữ mà đứa trẻ Mỹ trung bình ngày nay không muốn dùng vì ít ai dạy.

Một bài báo khác mới đây đăng trong báo Washington Post kể chuyện một số người <<executive>> triệu phú trẻ tuổi Mỹ  đã thành công sớm nhờ làm ăn trong lãnh vực điện toán (dotcom millionaires) đã phải ghi tên đi học những lớp dạy về xã giao (etiquette) vì nay họ đã có đỵa vị quan trọng rồi, không được <<cà chớn, lóc chóc>> như trước nữa. Vậy thì con cái chúng ta, ngoài nhu cầu nắm vững phép lịch sự của xã hội Mỹ, suốt đời chúng, chúng còn phải giao thiệp với người đồng chủng, đồng bào, chúng có thể nào hiểu được phép lịch sự, nghi lễ của người Việt nam mà không cần biết đến văn hóa hay tiếng nói của cha mẹ chúng không?

Gần bốn mươi năm trước, lúc còn là học sinh đang học trường Pháp ở Việt Nam, chúng tôi được đọc một bài báo của văn sĩ Thế Uyên. Nếu chúng tôi nhớ không lầm, ông ta chỉ trích nặng nề về sự mất gốc, tách rời khỏi tình hình đất nước của những người học chương trình  Pháp và gọi họ là <<les deraciniens>, chữ của ông tạo ra tạm dịch là ??những kẻ tróc gốc??. Oái oăm thay, phải đi ra khỏi nước ngoài thì mới thấy rõ cái <<căn cước>> (identity) Việt nam của mình. Chúng tôi còn nhớ lời của một thanh niên Nhật: << Sống hai mươi năm ở Nhật, tôi không hiểu thế nào là (làm) người Nhật, chỉ cần ở Mỹ một tháng thì tôi đã hiểu ra làm người Nhật là thế nào rồi>>. Thật vậy, đóng vai trò thiểu số ở một xứ đa số là chủng tộc và nguồn gốc văn hóa  khác mình giúp cho chúng ta hiểu rất lẹ cái <<căn cước>> Việt nam của chúng ta. Kẻ đã ở Mỹ một thời gian khá lâu lại càng thấm thía lời trách móc của ông Thế Uyên ngày xưa, tuy có thể quá nặng lời, cũng có đúng phần nào.

Trong chiều hướng đó, kinh nghiệm của Singapore về lựa chọn giữa hai thứ tiếng và hai nền văn hóa cũng là một bài học quí giá cho chúng ta.Trong cuốn <<From Third World To First>> (Từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất; đo HarperCollins/Publishers xuất bản) ông Lý Quang Diệu, cựu thủ tướng của Singapore kể lại kinh nghiệm của nước nhỏ bé của ông tiến lên từ ngày mới độc lập năm 1965 để trở thành một nước tân tiến văn minh hàng đầu thế giới hiện nay. Ðối với đề tài chúng ta, phần lý thú nhất là chương 11, tựa đề<<Many Tongues,One Lanhiều tiếngềutiếng nói, một ngôn ngữ).

Cả hai ông bà Lý Quang Diệu đều là người gốc Hoa, chống Cộng,nhưng lại xuất thân từ trường của người Anh. Ông nhận xét như sau:

<<Trong lúc du học ở Anh quốc, chúng tôi được gặp những sinh viên từ Trung Quốc sang, chúng tôi mới ý thức được là chúng tôi bị mất gốc về văn hóa (deculturalized), gần giống như những sinh viên Tàu từ các đảo  trong vùng biển Caribbean. Chúng tôi cảm thấy sự mất mát vì đã được giáo dục bằng một thứ tiếng mẹ ghẻ (stepmother tongue, nghĩa là tiếng Anh), không hoàn toàn chấp nhận một nền văn hóa không phải của chính mình. Tôi cảm thấy tách rời khỏi đám đông người Tàu bình thường nói tiếng Hoa địa phương (dialect) hoặc quan thoại. Chúng tôi cũng giống như hàng trăm người khác tốt nghiệp Raffles College (đại học thuộc địa của Anh ở Singapore), không được dạy dỗ đàng hoàng về văn hóa Á châu của chính họ, mà cũng không thuộc về văn hóa Anh, bị lạc lõng giữa hai nền văn hóa.>>

Tuy nhiên, giải quyết cái gọi là <<cultural handicap >>này không phải là dễ; ở trường đại học Tàu Nanyang dùng tiếng Trung hoa làm chuyển ngữ, măc dù sinh viên có ý thức về văn hóa mạnh mẽ hơn, nhũng người tốt nghiệp lại không tìm được việc làm vì kém Anh ngữ và trình độ học vấn cũng kém hơn sinh viên của University of Singapore dạy bằng Anh ngữ. Cuối cùng trường Nanyang, do thực tế kinh tế cũng phải chuyển toàn bộ qua Anh ngữ sát nhập vào Ðại Học Quốc Gia Singapore. Trường hợp này cho thấy hai mặt của vấn đề trong những xã hội không thuần nhất, Singapore cũng như Mỹ: Anh ngữ với tầm quan trọng vượt bực trong lãnh vực kinh tế và vai trò không hoàn toàn thay thế được của ngôn ngữ  gốc của người học sinh trong đời sống văn hóa, gia đình  và xã hội.

Một cuốn sách khác bán rất chạy gần đây của Thomas L. Friedman tựa đề:<<The Lexus and the Olive Tree>> một phần nào liên hệ tới hoàn cảnh song văn hóa của chúng ta ngày nay. Chiếc xe Lexus là chiếc xe được Nhật sản xuất bằng những kỹ thuật hiện đại nhất (người máy hoàn thành quá trình sản xuất cực nhanh, không sơ hở, xe bán khắp thế giới)  là biểu tượng cho khoa học kỹ thuật mũi nhọn, cho kinh tế toàn cầu hóa, vượt mọi biên giới quốc gia, mọi phân ranh văn hóa. Trên thực tế, tuy do một công ty Nhật sản xuất, chiếc Lexus là hiện thân cho hiện tượng toàn cầu hóa (globalization), là nếp sống Mỹ hóa được toàn thế giới mơ ước, mà cũng bị nhiều nơi kết án. Ðối nghịch với chiếc Lexus là cây olive đơn sơ, như  cổng tam quan, như lũy tre xanh, như mái đình rêu phong của chúng ta. Tuy cây olive và miếng đất cằn cổi chẳng có giá trị kinh tế gì mấy so với chiếc xe Lexus, hàng triệu người trên thế giới vẫn muốn đổ máu để dành nhau, để bảo vệ từng tấc đất dưới gốc cây đó . Cây olive là biểu tượng của những dây vô hình trói buộc hoặc kêu gọi con người về những gì mà ta thường cho là thiêng liêng để mình có thể hy sinh mạng sống, gây bao cuộc đổ máu nhưng cũng đem cho bao người một lý do để tự hào, để phấn đấu và để sống.

Cho nên đói với thế hệ con cái chúng ta, chúng chắc chắn sẽ sống với xã hội khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa của chiếc Lexus, của nếp sống Mỹ; câu hỏi của chúng ta là có nên cố gắng đem cái cây olive ( cái lũy tre xanh, mái đình cong của Việt nam )vào cuộc đời của chúng hay không?

Vậy chúng ta có muốn con cái chúng ta thành những người Mỹ  vô hình (invisible), <<vô thưởng vô phạt>> (generic) trong cái biển người đa chủng của thế giới toàn cầu hóa và đồng điệu trong thế kỷ 21này không?  Hoặc chúng ta cần phải đợi xem các học giả quyết định xem thế nào là văn hóa thực sự Việt nam , thế nào là << Việt tính>> rồi mới cho con cái chúng ta hiểu ít nhiều về cội nguồn văn hóa của mình.? Hay là hãy nói như người Mỹ, nếu mình nếm thấy nước mắm thì cứ cho đãy là nước mắm?

Trong một cuốn phim Mỹ gần đây, để gạt qua một bên nguồn gốc chủng tộc của mình và đề cao vai trò của cha mẹ nuôi da trắng nuôi nấng mình từ nhỏ , một người con gốc Ðại Hàn  nói <<Biology is nothing, nurture is everything>> (Sinh học không có nghĩa gì cả, nuôi nấng mới là tất cả),  ý nói kẻ sinh thành ra mình không bắt buộc sẽ xứng đáng được gọi là cha mẹ thật sự, trái lại kẻ nuôi , dưỡng dục cho khôn lớn mới là cha mẹ thật sự, đúng nghĩa của nó.. Có lẽ đói với vai trò vừa sinh vừa dưỡng của chúng ta đói với con cái chúng ta, chân lý của vấn đề nằm ở một thái độ dung hòa hơn: những <<hậu duệ>> (progeny) của chúng ta do máu huyết (sinh học) phải  đồng thời là những hậu duệ chúng ta do giáo dục, do truyền thống văn hóa phong tục và lịch sử (nuôi dưỡng), xứng công chúng ta vượt gian nguy ngàn dặm đến đất nước này để xây dựng một cuộc sống văn minh và tự do theo ý nguyện của chúng ta.

BS. Hồ Văn Hiền ngày 28 tháng 2, năm 2001.

Về đầu trang