bàn về vần trong thơ

                             phạm văn bân

 

Điểm khác biệt then chốt giữa thơ và văn xuôi là vần.

 

Vần (tiếng Hán Việt gọi là vận)  nghĩa là dùng một tiếng có cùng âm với một tiếng khác.  Âm nghĩa là tiếng nói phát ra có điệu cao, thấp, nặng, nhẹ khác nhau .  Thí dụ:

 

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Dựa gối ôm cần, lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

       (Thu Điếu, Nguyễn Khuyến, bản Dương Quảng Hàm)

 

Âm teo được gọi là vần với âm veo.  Xét diễn biến của thơ Việt Nam, có thể chia làm hai sắc thái: thơ cũ và thơ mới .  Thơ cũ là lối làm thơ theo vần, đối, luật, niêm và bố cục của Trung quốc, gồm có hai thể loại chính yếu: Cổ phong (có trước đời Đường, mỗi câu thơ có 5 hoặc 7 chữ, không hạn chế số câu và cũng không theo niêm luật) và thơ Đường.  Gọi là thơ Đường vì thể thơ này xuất hiện trong thời nhà Đường (618 - 907), trong đó vần, đối, luật, niêm và bố cục được ấn định rõ ràng.  Bài thơ không giữ vần thì gọi là lạc vận (gieo vần sai), cưỡng ép (đặt chữ gượng gạo); không đối ý, đối chữ, đối thanh (bằng và trắc); không giữ luật bằng, trắc gọi là thất luật; không hợp thanh bằng hoặc thanh trắc của chữ thứ nhì của câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7 thì gọi là thất niêm (không dính với nhau).

 

Từ khi xuất hiện cho đến nay, thể thơ Đường chiếm vị thế độc tôn trong thi ca Trung quốc cũng như Việt Nam.  Thơ kiểu Trung quốc luôn luôn giữ vần ở chữ cuối câu, gọi là cước vận (cước: chân).  Thơ kiểu Việt Nam thì lại giữ cả hai loại vần : cước vận và yêu vận (yêu: lưng, vần ở lưng chừng câu).  Thí dụ:

 

1.Cước vận:

Bước tới đèo Ngang bóng xế

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Lom khom dưới núi, tiều vài chú

Lác đác bên sông, rợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại: trời non nước

Một mảnh tình riêng: ta với ta

   (Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan)

 

Chú: theo bản Lê Thước: “rợ mấy nhà”.  Một số người còn đọc là “chợ mấy nhà”.

Rợ ; cách gọi khinh miệt của thời phong kiến, chỉ các dân tộc lạc hậu, còn dã man, tàn bạo.  Thí dụ: rợ Hung nô.  Xem vậy, chữ rợ, đối với chữ tiều, chỉnh và có lý hơn là chữ chợ.  Tuy nhiên, vẫn phải xem đến bản gốc thì mới xác quyết được.

 

2.Yêu vận và cước vận:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi (cv)

Khách má hồng nhiều nỗi (yv) truân chiên (cv)

Xanh kia thăm thẳm từng trên (cv)

Vì ai gây dựng cho nên (yv) nỗi này! (cv)

Trống Trường thành lung lay (yv) bóng nguyệt (cv)

Khói Cam Toàn mờ mịt (yv) thức mây (cv)

Chín lần gươm báu trao tay (cv)

Nửa đêm truyền hịch định ngày (yv) xuất chinh (cv)

                                    (Chinh Phụ Ngâm, Đặng Trần Côn)  

 

Ngoài việc làm thơ theo kiểu thơ Đường, người Việt Nam còn có kiểu thơ Lục Bát, biến thể ra thành Song Thất Lục Bát (xem thí dụ ở trên.), và Hát Nói.  Quanh đi, quẩn lại cả ngàn năm, thi nhân Việt Nam chỉ làm thơ theo các thể thơ vừa nêu .  Mãi cho đến khi bị Pháp chiếm làm thuộc địa, lối viết chữ ký âm  a b c ra đời cùng với sự du nhập của làn sóng văn hóa Pháp thì một phong trào thơ ca khác xuất hiện, gọi là thơ mới để phân biệt với lối làm thơ trước đó, gọi là thơ cũ.  Biến cố này được ghi lại qua các trận bút chiến, khẩu chiến dữ dội giữa phe cũ (Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, v.v...) và phe mới (Nguyễn Thị Kim, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên, Huy Thông, Đoàn Phú Tứ, Trương Tửu, v.v...) từ năm 1932 đến năm 1940. Giữa hai phe tất nhiên có phe dung hòa (Hoàng Duy Từ, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu).    Mọi người chọn năm 1932 để đánh dấu phong trào thơ mới là vì vào năm đó, "trái bom" phá lệ thơ cũ được tung ra trên tờ Phụ Nữ Tân Văn;  đó là bài "Tình già" của Phan Khôi (1887-1959).  Năm 1940 được chọn làm năm chấm dứt trận chiến là vì sự qua đời của nhà thơ uy tín nhất thế kỷ: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939), nhà thơ biểu tượng cho xu hướng cũ dung hòa với xu hướng mới .

 

Trong bài "Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ", đăng trong tờ Phụ Nữ Tân Văn, ngày 10/03/1932, ông Phan Khôi viết: "... gần mười năm tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không có...  Xin thú thật với mấy ông thợ thơ: không có, không phải là tại tôi không muốn làm, hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được.  Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh thì cái hồn thơ của tôi lúng túng .  Thơ chữ Hán ư ?  Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi .  Thơ nôm ư ?  Thì cụ Tiên Điền, bà Huyện Thanh Quan đè ngang ngực làm cho tôi thở không ra .  Cái ý nào mình muốn nói lại không nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại nghe như họ đã nói rồi .  Cái ý nào chưa nói, mình muốn nói ra thì lại bị những niêm luật bó buộc mà nói không được.  Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức." ("Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến", Nguyễn Tấn Long).  Tức quá nên ông Phan Khôi trình làng bài thơ Trên dòng sông Nhuệ, Tình Già sau đây:

 

Trên dòng sông Nhuệ

Tình Già

 

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

-"Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!"

-"Hay nói mới bạc làm sao chớ!  Buông nhau làm sao cho nỡ ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng mà tính việc thủy chung!"

.....

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách lại gặp nhau

Đôi cái đầu đều bạc.  Nếu chẳng quen lung, đố ai nhìn ra được ?

Ôn chuyện cũ mà thôi.  Liếc đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi .

 

Thực ra, ông Phan Khôi không phải là người đầu tiên làm thơ mới.  Đây là một ngộ nhận của nhiều người, có lẽ vì ông đã tận lực bài bác thơ cũ, làm nổi bật cuộc chiến thơ cũ và mới; đặc biệt làm bài "Tình già" với ý nghĩ táo bạo ( vào thời đại của ông) qua số chữ trong mỗi câu thơ dài "ngoại hạng", vần được gieo ngay trong các vế của một câu: đó là những yếu tố mới làm mọi người ...bật ngửa!  Tuy nhiên, sau bài "Tình già", ông Phan Khôi đã không giữ được "phong cách" của bài thơ này khi ông làm các bài thơ: Chơi Thuyền Sông Tân Bình, Cảm Đề Khi Đọc Bản Dịch Thủy Hử của Á Nam Trần Tuấn Khải, Thơ Phan Khôi, Hớt Tóc, Hồng Gai, Nắng Chiều, v.v.  Có lẽ vì Phan Khôi không phải là tay thợ thơ; ông chỉ làm thơ khi có hứng mà thôi.  Điều đáng lưu ý là cách gieo vần "mới" - tức là cách gieo vần ở các vế của một câu - không hiểu vì sao đã biến mất trong các bài thơ của chính ông!  Ông đã làm câu thơ ngắn hơn, giữ vần rập khuôn lối thơ của Pháp trong tất cả bài thơ sau này.

 

Xét lối gieo vần của các nhà thơ mới từ năm 1932 cho đến nay, đa số thi nhân Việt Nam chỉ "bỏ chạy" từ kiểu làm thơ Đường sang kiểu làm thơ của Pháp.  Ông Phan Khôi là người hăng hái nhất trong việc từ bỏ "ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô, cụ Tiên Điền, bà Huyện Thanh Quan" nhưng chung cuộc thì ông lại kiếm André Chénier, Rimbaud, Verlaine, Villon, Valéry, v.v. làm mẫu mực mà chưa hẳn đưa ra cái gì "mới" cả.  Xem như vậy, không khác gì ăn cam mãi nên ngán mà đi tìm trái quít mà thôi .  Dưới đây tôi xin dẫn chứng một thí dụ rất rõ ràng về người tiền phong của thơ mới - đúng ra phải gọi là thơ Pháp - và lối gieo vần của thơ Pháp để có thể tự kiểm chứng trong hầu hết các bài "thơ mới".

 

Người làm thơ mới và đăng báo đầu tiên là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936).  Trong bài dịch thơ La Fontaine, "Con ve sầu và con kiến", ông chẳng những dịch sát nghĩa mà còn dùng chữ đặc sệt Việt Nam, rất giản dị, dí dỏm, giữ đúng lối gieo vần của nguyên gốc bài thơ Pháp:

 

Con ve sầu và con kiến.

 

Câu 1.Ve sầu kêu ve ve,

2.Suốt mùa hè

3.Đến kỳ gió bấc thổi

4.Nguồn cơn thực bối rối.

5.Một miếng cũng chẳng còn,

6.Ruồi bọ không một con

7.Vác miệng chịu khúm núm,

8.Sang chị kiến hàng xóm,

9.Xin cùng chị cho vay

10.Dăm ba hạt qua ngày

11.-Từ nay sang tháng hạ,

12.Em lại xin đem trả

13.Trước thu, thề Đất Trời!

14.Xin đủ cả vốn lời

15.Tính kiến ghét vay cậy

16.Thói ấy chẳng hề chi

17.-Nắng ráo chú làm gì ?

18.Kiến hỏi ve như vậy

19.Ve rằng:  Luôn đêm ngày

20.Tôi hát, thiệt gì bác

21.Kiến rằng: -Xưa chú hát!

22.Nay thử múa coi đây.

 

Lối thơ Pháp trên đây không giới hạn số chữ trong mỗi câu, cũng như số câu trong toàn bài.  Tuy nhiên, cần lưu ý về vần.  Ông đã dùng lối gieo vần liên vận (rimes suivies), từng cặp vần bằng và trắc nối tiếp nhau trong 14 câu đầu.  Từ câu 15 cho đến câu 22, ông lại dùng vần ôm nhau (rimes embrassées), thí dụ: câu 15 - 18: cậy, chi, gì và vậy ; câu 19 - 22: ngày, bác, hát và đây .  Tôi nghĩ chính lối gieo vần như vậy nên có thể xem ông Nguyễn Văn Vĩnh là người tiền phong cho một dòng thơ mới trong thơ ca Việt Nam.  Nay thử xem qua cách gieo vần của nguyên bản:

 

La Cigale et la Fourmi

 

1.La cigale (1), ayant chanté

2.Tout l'été,

3.Se trouva fort dépourvue

4.Quand la bise fut venue.

5.Pas un seul petit morceau

6.De mouche ou de vermisseau (2)

7.Elle alla crier famine

8.Chez la fourmi sa voisine,

9.La priant de lui prêter

10.Quelque grain pour subsister

11.Jusqu’ à la saison nouvelle

12.«Je vous paierai, lui dit-elle,

13.Avant l'ou^t (3), foi d'animal,

14.Intérêt et principal.»

15.La fourmi n'est pas prêteuse;

16.C'est là son moindre défaut

17.«Que faisiez-vous au temps chaud?

18.Dit-elle à cette emprunteuse

19.Nuit et jour à tout venant

20.Je chantais, ne vous déplaise

21.- Vous chantiez ? j'en suis fort aise.

22.Eh bien : dansez maintenant.»

 

Note:

(1)   C’est ici la seule apparition de la cigale dans les fables (nous pouvons cependant la retrouver brièvement dans « La Vie d’Esope le Phrygien »). Cet insecte, dans l’Antiquité, symbolisait le poète dans toute son insouciance (« Je suis l’insecte aimé du poète et des dieux », écrira bien plus tard Jean Aicard, dans « Poèmes de la Provence »). Chevalier et Gheerbrant notent la cigale « est devenue l’attribut des mauvais poètes, dont l’inspiration est intermittente. Elle est prise pour l’ image de la négligence et de l’imprévoyance (La Fontaine) » (« Dictionnaire des symboles », Jean Chevalier et Alain Gheerbrant, Editions Robert Laffont, 1982, p. 198. Pour Jean Baudoin, la cigale évoque Homère. Pour la fine bouche, citons Jean Lautret qui écrivait en 1619 « J’ai imité donc les cigales / Qui se dupaient sans intervalles, / Voyant travailler les formis. / Ha ! qu’il n’y a telle finesse / Que d’acquérir pour sa vieillesse / Un peu de bien et des amis. » (cité dans « La Fontaine - Œuvres complètes, tome I ; Fables, contes et nouvelles » édition établie, présentée et annotée par Jean-Pierre Collinet ; NRF Gallimard ; Bibliothèque de La Pléiade ; 1991, p. 1060).

(2)   Jean-Henri Fabre (1823-1915) dans ses « Souvenirs entomologiques » relève les erreurs de L.F. concernant la cigale elle ne dispose pour s’ alimenter que d’un suçoir et n’a rien à faire de mouches ou de vermisseaux. Il y a d’autres fantaisies la cigale meurt à la fin de l’été et ne peut donc crier famine quand la bise souffle. La fourmi, qui dort en hiver dans sa fourmilière ne peut l’entendre ; d’autre part, elle est carnivore et n’ amasse pas le grain... ». La Fontaine est un naturaliste plein de fantaisie, sans souci de la vérité [...]. Mais [...], c’est un peintre animalier de grande valeur. » (René Bray Les « Fables » de La Fontaine). (Note reprise de

(3)   L’août est la « moisson qui se fait durant le mois d’août » (Richelet). « Aoust... signifie aussi la récolte, la moisson des blés. » (Furetière, cité dans « La Fontaine - Fables » ; Le Livre de Poche ; Classiques modernes ; La Pochothèque ; édition de Marc Fumaroli ; 1997, p. 818). L’orthographe utilisée ici par La Fontaine n’est pas conforme à l’étymologie (du latin augustum ») mais seulement en accord avec la prononciation.

 

 

La Fontaine đã dùng lối gieo vần "liên vận" (rimes suivies), từng cặp 2 câu vần nối tiếp nhau trong 14 câu đầu.  Từ câu 15 cho đến câu 22, ông lại dùng vần "ôm nhau" (rimes embrassées): câu 15 - 18: prêteuse, défault, chaud và emprunteuse; câu 19 - 22: venant, déplaise, aise, và maintenant.

 

Xin giới thiệu bài "Mộng" của Chế Lan Viên (1920-1989), gieo vần cách câu:

 

Ta vừa thấy bóng nàng trên cỏ biếc

Suối tóc dài ôm chảy giữa dòng trăng

Ta vừa nghe giọng sầu bi tha thiết

Cửa Chiêm nương gờn gợn sóng cung Hằng

 

Mộng tan rồi!  Bóng người Chiêm nữ ấy

Biết tìm đâu, lòng hỡi!  Dưới trăng ngà!

Trên Trời cao dòng Ngân kia lặng chảy

Thấy cùng chàng tha thướt bóng xiêm qua?

 

Ta lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa Tháp

Cả đêm nay vì sao buồn man mác!

Ngàn lau vàng hoa trắng ngập bao la

Vẳng đâu đây, rùng rợn dưới trăng mờ

 

Tiếng xương người mạnh va sườn quách gỗ

Rùng rợn như ...tiếng vỡ sọ dừa tan!

 

Kết luận: thơ mới không có nghĩa là phá bỏ hết vần điệu - bởi vì thơ mà không có vần thì chỉ là năm ba câu văn xuôi mà thôi .  Mới chỉ có nghĩa là mới trong cách thức diễn đạt tình cảm, tâm tư.  Mới chỉ có nghĩa là không câu nệ số chữ, số câu, bố cục của bài thơ .  Mới phải giữ vần như thơ cũ, hoặc yêu vận hoặc cước vận, hoặc cả hai .  Thỉnh thoảng nên lạc vận cho có vẻ ...mới .