Trả Lời Thính Giả

 

 

Post irradiation rhinosinusitis

Trả lời Bà Bùi thị Kiều Loan ở Saigon .

Nói tóm tắc, bà bị chứng viêm mũi và viêm xoang sau khi xạ trị (post irradiation rhinosinusitis), làm nghẹt mũi, chảy máu mũi . Ngoài ra , bà mất mùi vị, mất khứu giác, khô miệng và thấy mệt mõi yếu ớt.

Về bịnh mũi, nếu không chữa bằng nôị soi được, có thể bà hỏi bác sĩ gia đình cho bà đi chụp tia X, hoặc làm CT scan xem tình hình như thế nào và tùy theo đó quyết định.

Tạm thời, có thể nghĩ đến những biện pháp sau (xin hỏi bác sĩ của quý vị trước):

1.Có nghiên cứu ở Đài Loan[1] chứng minh cho thấy dùng nước rửa mũi hàng ngày trong 6 tháng  có thể giúp chữa khỏi bịnh viêm mũi xoang cho những bịnh nhân bị ung thư đầu và cỗ sau khi xạ trị.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/bb/Neti_pot.jpg/180px-Neti_pot.jpg

Figure 1 : Neti pot  

Nasal irrigation:

Phương pháp  giản dị: Lấy 1 muỗng pha trà ( teaspoon,5ml) muối biển nguyên chất (không phải muối có iod “table salt) pha với nửa lít (500cc) nước đã nấu chín (đun sôi),  hâm cho ấm. Dùng hai bàn tay chụm lại, đổ nước vào, nhúng mũi vào nước và hít vào để súc mũi.Cách thứ hai là dùng một bình có vòi như bình nước trà, nghiêng đầu về phía trước 45 độ và quay mặt qua mơt bên để lổ mũi này nằm cao hơn mũi bên kia. Rót nước muối vào lổ mũi phía trên , cho nước chảy xuống mũi phía dưới, ra ngoài. Nhớ hả miệng ra để thở, đừng thở qua mũi. Xong làm phía bên kia. Mỗi ngày làm một lần. Ở Mỹ, có thể cũng có ở VN, người ta bán một số bình nước muối pha sẳn, hoặc những neti pot, theo mẫu những bình dùng trong y khoa cổ truyền Ấn độ (naja neti); những thứ này đắt tiền hơn.

Lý do: nước muối làm tan và rửa sạch các chất nhớt (mucus) và các chất bẩn trong mũi vì các tế bào trong mũi bị xạ trị làm yếu đi không tự thanh toán được.sau khi mũi thông rồi thì dễ thanh toán các nguyên nhân gây nhiễm trùng hơn.  

Nasal Irrigation

Figure 2 : Rữa mũi  (Nasal wash/nasal irrigation)

2.Bịnh nhân cũng có thể hỏi BS gia đình có thể dùng kháng sinh (trụ sinh) chữa cho mình 2-3 tuần  được không, có thể mũi sẽ bớt sưng và nghẹt và dễ nội soi hơn.Thuốc thường dùng: Amoxicillin+Clavulanate (Augmentin) 500mg 3 lần/ngày hoặc Bactrim DS 1viên 2 lần/ngày.

3. Một số thuốc nhỏ mũi (nose drops) có thể tạm thời (dưới một tuần) làm bớt nghẹt mũi và giúp làm sạch mũi: Oxymetazoline (Afrin), 2 giọt 12 giờ một lần.

4.Về chứng miệng khô do các tuyến nước miếng trong miệng và ở mang tai (parotid gland) bị hư hại, sản xuất nước miếng giảm đi , có thể làm ăn uống kém, suy dinh dưỡng, răng dễ bị sâu, miệng dễ bị nhiễm trùng nấm. Bịnh nhân nên săn sóc miệng cẩn thận, đánh răng đều đặn sau khi ăn, và nên khám nha sĩ đều đặn để tránh hoặc chữa kịp thời các sâu răng và nhiễm trùng miệng nếu có.

Nên đem theo một chai nước, thỉnh thoảng phải uống nước đều đều. BS có thể cho pilocarpin 5mg , 2-3 lầm mỗi ngày để kích thích sản xuất nước miếng. Mắt có thể khô vì tuyến nước mắt bị ảnh hưởng xạ trị, có thể dùng nước mắt nhân tạo (“Tears naturale” lubricant eye drops ) để tránh mắt bị khô.

5.Ngoài ra, cần khám bs gia đình để theo dõi sức khỏe chung: theo dõi cân nặng, dinh dưỡng nếu cần uống thuốc bổ có các vitamin cần thiết .

Chúc bịnh nhân may mắn.

BS Hồ Văn Hiền

Ngày 5 tháng 8, 2010

 

Đưới đây là tài liệu tiếng Anh của Phân khoa Y khoa Gia đình, Đại học Wisconsin.(hướng dẫn tương tự)

University of Wisconsin Department of Family

Medicine Nasal Irrigation Instructions

How to make 1 pint of salt solution and

How to use a nasal irrigation pot

1. You will need:

• salt (kosher, canning, or pickling salt)

• baking soda

• nasal irrigation pot

• measuring spoon (1 teaspoon, 1/2 tsp)

• pint container

2. Mix the solution:

• Measure 1 tsp of salt and 1/2 tsp of baking soda into the pint container.

• Add one pint of lukewarm tap water

• Stir

• From one-pint container of solution, fill nasal pot

3. Position your head:

• Lean over the sink (about 45 degrees) so you are looking directly into the basin.

• Rotate your head (about 45 degrees) so that one nostril is above the other.

• Gently insert the spout of the nasal irrigation pot into the uppermost nostril

  so that it forms a comfortable seal. (Do not press the spout against the “middle”, or 

septum, of the nose)

4. Irrigate the nose:

• Breathe through your mouth and raise the handle of the filled nasal

  irrigation pot so that the solution enters the upper nostril.

• In a few moments, the solution will begin to drain from the lower nostril.

• When the nasal pot is empty, exhale gently through both nostrils to clear

them of excess solution and mucus.

• Gently blow your nose into a tissue.

HANDOUT

University of Wisconsin Department of Family Medicine

www.fammed.wisc.edu/research5. Repeat the procedure for the other nostril:

• Refill the nasal pot from the 1 pt solution container.

• Repeat Steps 3 and 4 with the other nostril tilting your head to the other side.

• The solution may be kept at room temperature for 2 days.

• Wash nasal pot daily.

6. Troubleshooting

• If stinging or burning occurs, use a 1/2 tsp salt instead of 1 tsp to one pint water and

decrease frequency to every other day. You may also try adjusting the temperature of the

water slightly. Do not use very hot or very cold water.

Links to a PDF of this patient handout, a short instructional film and a radio story by

National Public Radio (NPR) are at:

http://www.fammed.wisc.edu/research/past-projects/nasal-irrigation

[1] Am J Rhinol. 2008 May-Jun;22(3):258-62.

Nasal irrigation reduces postirradiation rhinosinusitis in patients with nasopharyngeal carcinoma.

Liang KL, Kao TC, Lin JC, Tseng HC, Su MC, Hsin CH, Shiao JY, Jiang RS.

Department of Otolaryngology, Taichung Veterans General Hospital , Taichung , Taiwan .

 

Viêm tai giữa tái hồi (Recurrent otitis media)

Trả lời Ô Nguyễn Đ.

Trường hợp ông đau tai nhiều, chiụ tiếng ồn không được , ra nắng cũng đau, và không định hướng được tiếng động. Ông cần phải đi khám bác sĩ chuyên về tai mũi họng càng sớm càng tốt, nếu có thể đến một trung tâm y tế có phương tiện X quang và giải phẩu nếu cần đến.

Cơ thể học: Tai gồm tai ngoài (vành tai), vào sâu hơn thì đến tai giữa ,là một phòng nhỏ nằm sau màng nhĩ, trong đó có ba cái xương nhỏ truyền dẫn các song âm thanh vào tai trong. Tai trong biến song âm thanh thành dòng điện đi vào não bộ, vai trò tựa như cái microphone.

Theo quan niêm hiện nay, những người hay bị nhiễm trùng tai giữa là do nghẹt cái ống thông hơi nối liền tai giữa với hầu (họng). Một trong những nguyên nhân ống thông hơi nghẹt là dị ứng hoặc viêm mũi. Điều này thì thường thấy nhất ở trẻ em (dưới 7 tuổi) người lớn thì ít hơn. Có thể vì vậy mà ông được định bịnh viêm mũi kèm theo những lần viêm tai. Không biết ông bị một hay hai bên. Nếu là một bên tai thì cần bs Tai Mũi Họng khám nội soi  xem có một u bướu gì sau mũi hoặc trong họng (nasopharyngeal mass) làm bít ống thông hơi hay không.

Bịnh nhân không nghe được có thể vì mũ ứ đầy trong tai giữa , mà có thể bịnh nhiễm trùng tai ảnh hưởng đến tai trong . Bịnh có thể lan qua vùng xương nhũ mastoid process phía sau tai làm vùng này sưng và đau. Hệ thống tiền đình (vestibular system) phụ trách thăng bằng đi kèm theo tai trong cũng có thể ảnh hưởng làm chóng mât, mất thăng bằng. Ở những nơi có phương tiện CT , bác sĩ có thể làm CT vùng tai và vùng lân cận.Thường phải giải phẩu để thanh toán bớt ổ nhiễm trùng trong xương. Trong môt số trường hợp, sau nhiều lần nhiễm trùng tai, có một loại u bướu mọc trong tai giữa và lan dần hủy hoại xương, dây thần kinh chung quanh, cần giải phẩu (cholesteatoma).

Nếu bs quyết định bịnh  chỉ giới hạn, chỉ  cần chữa bằng trụ sinh uống, nhớ theo đúng liều lượng và thời gian quy định, đừng ngưng thuốc vì  thấy bớt triệu chứng và cần theo dõi với bs. Nếu màng nhĩ bị thủng và không vá lại được, nên hỏi bs về việc bảo vệ không cho nước vào lúc bơi lội, lặn hụp. Nên tránh hút thuốc cũng như nơi khói thuốc, không khí ô nhiễm vì đâý cũng là những yếu tố dễ gây nhiễm trùng tai.

Chúc bịnh nhân may mắn.  

BS Hồ văn Hiền

Ngày 29 tháng 12 năm 2010

 

Lung cancer - Pain management - Ung thư phổi:  trị đau đớn sau khi hóa trị

Câu hỏi:

Name: V V T
Email: Vietcop2010@yahoo.com
Country: Việt nam
Message: Trong chương trình hỏi đáp thăc mắc Y hỏc của Đài VOA tiếng việt lúc 8h30 tối giờ VN vào tối thứ 3 và thứ 5 hàng tuần ,tôi muốn nhờ các Bác sỹ giảiđáp -tư vấn -chỉ dẫn và giúp đỡ sao cho tôi nhanh chóng thóat ra khỏi căn bệnh hiểm nghèo .Bệnh của tôi qua xét nghiệm là : U PHỔI TẾ BÀO TUYỀN CARCINOME ,KÉM BIỆT HÓA ,XÂM lẤN Ở PHỔi PHẢI ( Hóa trị 1)-CARBOPLATIN 2)-GEMMICS) .Sau HÓA TRỊ 6 CHU KỲ 12 LẦN do bị UNG THƯ PHỔI GIAI ĐỌAN 4 đã xuất hiện triệu chứng đau rêm mạnh ở vùng PHỔI và KHÍ QUẢN gây khó thở mệt mỏi vả yếu ớt -không thèm ăn uống .Nên tôi đả dùng các lọai thuốc giảm đau như : -IBUPARAVIC hoặc ULTRACET thì cảm giác đau và khó thở chỉ nguôi đi trong 2 tiếng đồng hồ rồi lập lại đau rêm-bí thở như cũ .Do đó tôi cứ phải dùng liên tục 2 lọai thuốc giảm đau này .Xin thành thật cảm ơn !

Trả lời:

Ung thư phổi loại carcinoma tế bào tuyến (adenocarcinoma)] là loại ung thư phổi thường gặp nhất (30-40% tổng số các trường hợp).Nguyên nhân  chính gây ra UTP bao gồm 

·         hút thuốc lá,

·         radon ,một chất trong lòng đất dưới nền một số nhà tỏa phóng xạ trong không khí,

·         và ô nhiễm không khí.

Hết ¼ bịnh nhân không thấy triệu chứng gì lúc ung thư phổi được phát hiện do chụp X Quang vì một lý do nào đó. Số còn lại vì có triệu chứng đường hô hấp như ho, khò khè , đau ngực, ho ra máu , hoặc những triệu chứng tổng quát như mệt mõi, sụt cân vô cớ, nên bs cho chụp hình và khám phá ra ung thư phổi.

Chữa ung thư phổi là lãnh vực rất chuyên môn của bác sĩ chuyên về ung thư (oncologist) và xin phép không bàn ở đây. Tuy nhiên, trường hợp nêu ra ở đây tôi xin nêu ra một số nhận xét có tính cách thông tin mà thôi.

-trường hợp bịnh nhân không còn chữa đặc trị thêm nữa, cần có bác sĩ chuyên về chăm sóc giảm đau (pain management specialist), giúp cho bịnh nhân thoải mái và hoạt động càng  gần mức bình thường càng tốt (palliative treatment).

-bịnh nhân nên tìm một bs gia đình để bàn thảo về nhu cầu sức khỏe tổng quát và ý muốn của mình, và nếu cần bs này sẽ phối hợp với bs chuyên khoa giảm đau để có những biện pháp thích hợp làm giảm đau lúc bịnh càng ngày càng nặng. Ở Mỹ , người ta nhận thấy bs hay ngại ngùng lúc dùng những liều thuốc opioid (ma túy) để chữa bịnh nhân bị đau đớn kinh niên, một phần vì sợ bịnh nhân ghiền, một phần vì sợ trách nhiệm pháp lý , vì các thuốc có chất ma túy (để  tránh nghĩa xấu của chữ  “narcotic”, nay thường gọi là opioid, có  nghĩa ‘thuốc tác dụng tương tự như thuốc phiện”) đều được cơ quan kiểm soát các chất ma túy Drug Enforcement Agency ( DEA)  giám sát. Do đó cần những bs chuyên môn hoặc có kinh nghiệm trong việc dùng những liều lượng cao cần thiết, trong cách cho bịnh nhân uống, hoặc chích những liều thuốc giảm đau cần thiết.

Thuốc giảm đau đang dùng:

A) Ibuparavic là thuốc gồm:

1) Ibuprofen , là một chất thuốc giảm viêm không phải corticoid  (NSAID) thông dụng trên thị trường tự do, không cần toa, dưới tên Motrin, Advil. Thuốc có thể làm loét bao tử và ruột nên cần ăn trước khi uống thuốc, dùng lâu dài có thể ảnh hưởng đến tim mạch.

2) acetaminophen chúng ta sẽ bàn sau đây.

B) Ultracet gồm acetaminophen nói ở trên cọng với tramadol là một loại thuốc narcotic để chữa đau loại vừa và nặng. Uống quá liều tramadol có thể gây nguy hiểm tính mạng.

Acetaminophen cũng bán không cần toa ở Mỹ dưới tên Tylenol. Thuốc này dùng quá nhiều có thể hại gan (liver toxicity), cho nên những người có cơ năng gan không bình thường, những người uống rượu phải rất cẩn thận. Ở Mỹ, người ta dặn không được uống quá 3000 mg (6 viên 500mg) trong vòng 24 giờ; tuy nhiên, nếu người VN chúng ta nhẹ cân hơn, nếu gan yếu, nếu là người uống rượu lại phải cẩn thận hơn nữa. Nếu bịnh nhân uống chỉ thấy đỡ đau chừng 2 tiếng đồng hồ phải uống lại, nên nhờ bs xem xét bịnh tình của mình, chọn một trong hai thứ với liều lượng đúng đắn để tránh biến chứng nguy hiểm.

Bịnh nhân nên để ý hai thuốc trên cùng có chất acetaminophen, cho nên uống cả hai thứ cùng một lượt hoặc xen kẻ nhau mà không để ý có thể bị ngộ độc acetaminophen làm hư hại gan rất nguy hiểm.

Về triệu chứng khó thở, bịnh nhân có thể bàn với bs dùng oxygen để thở cho thoải mái hơn, và điều chỉnh các thuốc giảm đau mạnh (morphine, codeine, methadone) cho hữu hiệu, đúng mức với cơn đau đớn, có thể giúp bịnh nhân thở dễ dàng hơn.

Trong một số trường hợp, bs có thể dùng corticoid (corticosteroid) để giúp giảm đau và cho bịnh nhân dễ chịu hơn.

Ngoài ra, nếu bs có thể giúp bịnh nhân ăn uống, dinh dưỡng tốt  hơn, bớt lo lắng, chữa mất ngủ, trầm cảm, nếu có,  để thể cải thiện chất lượng cuộc sống của bịnh nhân.

Ước mong những thông tin nói trên giúp ích được phần nào. Chúc bịnh nhân may mắn.

 

BS Hồ Văn Hiền

(Hien V. Ho, MD, FAAP)

16 tháng 11 năm 2010

 

 

Thương tích xương sống cổ do tai nạn xe hơi (whiplash injury)

Hỏi:

Tôi bị đau C4-5-6 Qua lần bị xe 2.5ton đâm phải tôi.khi lên BVCRẫy thì não không việc gì.BS cho về uống thuốc. sau 1 tháng hết thuốc tôi thấy

đau sau vùng cổ gáy.Vào BV175 BSĩ chẩn đóan-thái hóa đốt sống cổ cho uống

1-celebrex

2-tigym

3-bosamin

4-carfi sak

5-nucle

6-pharmaton

Tôi uống 3 tháng không thấy gì-nhưng đau bao tử-chữa bao tử xong.

 next > Vào TT CTCH TPHCM BSĩ chụp MRI chẩn đóan THẤP NGÒAI KHỚP

1-celebrex

2-Tigym

3-nucleo

4-omephagole

5-calci-d

không khỏi.Tôi quay sang xin mổ,hội chẩn nói không mổ đuợc.tôi thất vọng quay vào BV115

khoa y học thể thao-chụp MRI xong họ cũng bán thuốc like BV CTCH tôi uống thêm 2 tháng cũng không thấy gì

-quay sang BV CRẫy họ xem phim và cũng nói chỉ cong nhẹ  C4:C5:C6 bao hẹp màng truớc.không mổ đuợc cũng bán thuốc

like BV CTCH.Vì họ nói BSĩ Hiển là tốt rồi. chúng tôi cũng cho thốc vậy thôi.tôi thất vọng mua 1 tháng thuốc uống an ủi thôi nhưng cũng bó tay

tôi vào Khoa VLTLiệu đóng tiền làm 1tháng-cũng không thấy gì-quay về đi châm cứu 2 tháng và uống thuốc Bắc nhưng cũng không có kết quả

sau đó tôi quay ra Qủang ngãi chữa 2 thầy võ.Họ bấm huyệt và nói là tôi bị hở đốt xuơng do té ngã,nhưng phải điều trị bấm huỵêt khỏang 4-5 tháng thì có cơ may vào đốt xuơng đó.tôi mới biết vào internet nên rất khó tìm và biết cách sử dụng máy tính.tối nghe radio mà sóng chập chòn nên rất khó.

Hiện tôi bị tê,Nhức sau gáy.tê 2 gan bàn chân.nếu nằm nghỉ thì tê đùi phải.Xin cứu giúp tôi.tôi không có gì hơn chỉ biết cảm on BS và Qúy đài VOA Tieng viet.


Trả lời trường hợp đau các đốt sống c C 4,5,6

Sau khi bị đụng xe, ông được các chẩn đoán sau đây:

1.      Não bình thường sau tai nạn

2.      một tháng sau:thóai hoá đốt sống cỗ

3.      3 tháng sau: thấp ngoài khớp (MRI)

4.      2 tháng sau , MRI thứ nhì: cong nhẹ C456, bao hẹp màng trước?

5.      hở đốt xương do té ngã (có lẽ không đáng tin cậy do thầy võ).

Ông đã từng uống thuốc NSAID loại mới (COX2 inhibitor) và do đó bị loét bao tử (Celebrex), châm cứu và bấm huyệt. Hiện nay ông đau nhức gáy, tê hai bàn chân, và lúc nằm nghỉ thì tê đùi phải.

Nói tóm lại, các chuyên gia , bằng nhữ xét nghiệm khá phức tạp, không tìm thấy nguyên nhân chính xác làm gáy ông đau và BV  chuyên khoa không thấy lý do phải mổ cho ông.

Đây là trường hợp điển hình đau cỗ kinh niên do “ dãn gân”cỗ vì tai nạn xe cộ. Ở Mỹ, người ta thường gọi là whiplash injury. Lúc xe bị đụng, nhất là đụng từ đàng sau húc tới, thân và vai người ngồi trong xe được đẩy về phía trước thật nhanh, do quán tính , đầu người đó di chuyển chậm hơn nên bật ra phiá sau (neck hyperextension), liền sau đó xe ngừng đột ngột, cái cỗ kéo đầu giật về phía trước (neck hyperflexion). Các gân và cơ bị dãn ra đột ngột , quá mức chịu đựng bình thường. Động thái (cử động) của cỗ và đầu đi theo thứ tự như động thái quất một cái roi, bởi vậy mới gọi là whiplash (whip=roi, lash=quất).Còn được gọi là acceleration-deceleration injury=tổn thương gia tốc-giảm tốc.

http://www.echiropractor.org/wp-content/uploads/2009/11/whiplash1.jpg

Figure 1 : Bên trái, đầu bị bật qua trái và phải, hình phải: bật ra sau rồi giật ngược vềtrước. Trong hình dưới, các sợi gân giữa các đốt sống (vertebra) bị dãn quá mức  (strecched) và có thể bị rách (tear of ligament)

Ông may mắn không bị những tổn thương nặng cần phải giải phẩu như: thoát vị đĩa đệm (herniated disk), gẩy xương. Theo cách xếp hạng nặng nhẹ từ 0-4, ông thuộc nhóm 1, chỉ có đau cỗ, không có dấu hiệu tổn thương vật lý (no physical signs). Những dấu hiệu thoái hoá cột sống thường gặp trên người 30 tuổi bình thường và chưa chắc là nguyên nhân của các triệu chứng của ông.

Tuy nhiên, whiplash là một bịnh chưa được y giới hiểu rỏ cơ chế, do đó những triệu chứng (như đau nhức) không hẳn phải tỷ lệ thuận với những dấu hiệu tổn thương trên cơ thể, cũng không tỷ lệ với mức tai nạn gây thiệt hại nhiều ít cho chiếc xe. Ngay những quan sát thấy trên quang tuyến, MRI cũng chưa chắc là nguyên nhân trực tiếp của chứng đau nhứt sau gáy  của ông.Thường trong trường hợp này , nguồn gốc đau ở những mặt khớp xương nhỏ hai bên xương của sống cỗ (cervical facet joints), chứ không phải ở những vùng khớp lớn hơn.

Trị liệu whiplash injury cũng chưa được chuẩn hoá rõ rệt, tùy trườg hợp;bịnh nhân có thể thử và kết hợp những biện pháp khác nhau[1]:

·         Theo tôi nghĩ, nếu bs chuyên khoa đã cho biết không cần phẩu thuật thì không nên năn nỉ người ta mổ làm gì. Giải phẩu chỉ cần lúc dây thần kinh bị đè, chèn ép (nerve compression), cột sống bất ổn (spinal instability), và giải phẩu cũng có thể gây những biến chứng làm đau nhức như thẹo mác mô, viêm.

·         Những thuốc giảm viêm và đau (chỉ có tính cách thông tin mà thôi):  Celebrex là một NSAID loại mới và đắt tiền mà vẫn có thể làm đau bao tử. Những thuốc NSAID (Non Steroid Anti-Inflammatory Drug tương tự nhưng rẻ hơn như ibuprofen (Advil, Motrin) dễ gây ra biến chứng loét hoặc chảy máu bao tử , cần uống thuốc sau khi đả ăn lót bụng ; những người từng bị loét bao tử nên tránh loại này. Thuốc Acetaminophen (Tylenol), cũng có khả năng giảm đau tương đương, không gây biến chứng ở bao tử như NSAID.

·         Những người đau quá nhiều có thể cần đến những thuốc giảm đau mạnh hơn, như acetaminophen kết hợp với một chất ma túy (narcotic) như Codein, Oxycodone (Tylenol 3,Percocet ). Những thuốc này có thể gây ghiền (addiction) và được DEA của Mỹ kiểm soát chặt chẽ.

·         Một số thuốc làm giản cơ (muscle relaxant loại diazepine như diazepam, có thể gây buồn ngủ, ghiền) có thể hiệu nghiệm ít nhiều.

·         Tuy nhiên tốt hơn hết là các các biện pháp giản dị như dùng hơi nóng (heat), thoa nước đá (ice) vào chỗ đau, nhờ người thân thoa bóp nơi đau (massage).

1.      Đắp nước đá (bớt sưng , giảm viêm): đừng cho nước đá trực tiếp với da; cho đá vào một cái túi và đặt lên vùng đau chừng 15 phút, nghỉ 15 phút , làm lại, càng nhiều lần càng tốt. Ngày đầu có thể không thấy bớt đau, nhưng qua vài ngày sẽ thấy kết quả rõ hơn.    

2.      Đắp nước nóng  làm gia tăng tuần hoàn, và giảm đau. Cách giản dị nhất là lấy một khăn tắm nhúng nước , cho vào microwave cho nóng lên và dùng để đắp lên chỗ đau.

3.      Có thể xen kẻ đắp nóng xong đắp lạnh để kích thích tuần hoàn và giảm viêm, và chấm dứt bằng thoa nước đá (để giảm sưng).

·         Nếu nắn, kéo (traction, manipulation ) vùng cỗ thì phải rất cẩn thận vì có thể rất nguy hiểm nếu trặc xương cỗ.

·         Các khảo cứu gần đây cho thấy cứ để người bịnh vận động tự nhiên , sớm sau khi bị chấn thương (early mobilization) tốt hơn là phương pháp cổ điển cho mang vòng cỗ mềm và giới hạn cử động cỗ lúc đầu.

·         Tuy nhiên, đôi khi mang vòng cỗ mềm làm bằng mousse  (soft collar)  có thể làm bớt đau vì nhắc nhở bịnh nhân không cử động đột ngột; nếu đau ban đêm làm thức giấc có thể đỡ đau nếu mang vòng cỗ mousse.Tuy nhiên, thường người ta khuyên chỉ mang vài tiếng đồng hồ; mang lâu quá có thể làm cỗ yếu đi.

·         Bịnh nhân nên tập vẫn động các cơ và khốp cỗ thường xuyên: quay cỗ qua phải, trái, ngẫng đầu lên xuống nhiều lần trong ngày nếu bs cho phép và trong giới hạn không đau đớn.[2]

·         TENS (Transcutaneous Electrical Nerve Stimulation): máy điện nhỏ, chạy bằng pin, chừng vài chục đô la, kích thích vùng đau để giảm đau.

·         Vật lý trị liệu do chuyên viên hướng dẫn có thể làm dãn gân và cơ,  giúp cho bịnh nhân vận động dễ dàng hơn và bớt đau. Tuy nhiên  kết quả có thể  khiêm nhường.

Một số trường hợp khó trị cần tư vấn chuyên gia về đau (pain specialist), người này có thể là bác sĩ gây mê (anesthesiologist), bác sĩ quang tuyến thần kinh (neuroradiologist), có khả năng chích thuốc tê hoặc corticoid vào tủy sống (epidural) hoặc vào khớp cột sống, với sự hướng dẫn của x quang.

Trong một số trường hợp, cũng nhờ X quang hướng dẫn, người ta dùng một cái kim phát nhiệt đâm xuyên qua da,  nung nóng các dây thần kinh phụ trách cảm giác đau các khớp xương sống bị đau (transcutaneous cervical facet medial branch radiofrequency  neurotomy). Tác dụng thường vài tháng, phải làm lại vì dây thần kinh phục hồi qua thời gian.

Bịnh nhân không nên bi quan vì nhiều người cũng bị chứng này. Nên kiên nhẫn, sau 15 năm, trong 5 người, hết 2 người vẫn còn ít nhiều triệu chứng.

Chúc bịnh nhân may mắn.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

[Hien V. Ho, MD, FAAP]

Ngày 8 tháng 10 năm 2010



[1] Management Of Neck Pain

Tai Q. Nguyen, M.D. [Associate Professor of Neurosurgery at the
University of Florida Health Science Center / Jacksonville.]
 

http://www.dcmsonline.org/jax-medicine/1999journals/june1999/neckpain.htm

[2] http://clinicalevidence.bmj.com/ceweb/conditions/msd/1103/neck-pain--whip-lash-standard-ce_patient_leaflet.pdf

 

 

Bệnh phế quản nhạy cảm và bịnh suyễn (Reactive Airway Disease and Asthma)

Hien V. Ho, MD

Bé ở VN một tuổi rưỡi bị viêm phế quản nhiều lần , trị bằng trụ sinh rồi tái lại không khỏi hẳn Bịnh khí “quản nhạy cảm” gọi là “reactive airway disease”, có thể là nguyên nhân chính của chứng viêm phế quản tái hồi trong trường hợp này. Những bịnh nhân này có các ống thở (phế quản, bronchi) nhạy cảm một cách bất thường với các nhiễm trùng do siêu vi, thay đổi khí hậu (trời lạnh). Mỗi lần cháu bị cảm, thay vì chỉ nóng, ho, sổ mũi, nghẹt mũi vài hôm, 10 ngay là hết, các cháu naỳ ho nhiều hơn, khò khè, bác sĩ nghe phổi thì có đàm (rales) nên định bịnh là viêm phế quản , đôi khi định bịnh là viêm phổi (pneumonia). Vì đứa trẻ nhỏ thường bị cảm virus nhiều lần trong năm đầu và năm thứ nhì, các trẻ này dễ bị định bịnh là bị viêm cuốg phổi hoặc viêm phổi tái hồi (recurrent bronchitis or pneumonia), trong lúc vấn đề cơ bản của chúng chỉ là cuống phổi qu á nhạy cảm, và nói một cách khác là chúng bị suyễn, nhưng vì chưa chắc chắn , bs tránh dùng từ “suyễn” mà dùng từ “reactive airway” mơ hồ hơn  trước khi xác định đấy là bịnh suyễn. Tuy nhiên, nếu là reactive airway disease, thì viêm phế quản do virus gây ra thường không cần trụ sinh mà cần đối phó với bịnh tương tự như bịnh suyễn bàn sau đây.

Bệnh suyễn có nhiều nguyên nhân gây ra và cùng một bệnh nhân  có thể có nhiều yếu tố khác nhau góp lại để gây bệnh suyễn, tưởng nên nhắc lại những số khái niệm về cơ cấu của hệ hô hấp. Khi chúng ta thở vào, không khí đi vào mũi hoặc miệng, qua ống khí quản (trachea) là cái ống cưng cứng, nằm chính giữa cổ, mà ta có thể sờ được một cách dễ dàng, sau đó không khí được phân phối khắp các vùng trong phổi nhờ những nhánh ống càng ngày càng nhỏ hơn, tủa ra như  hình những rễ cây. Những ống này gọi là phế quản (bronchi) đem không khí đến những túi nhỏ ở tận cùng gọi là phế nan (alveoli). Khi ta thở ra, không khí được đẩy ngược trở ra từ các phế nan và thoát ra ngoài ở miệng hoặc mũi. Ðường kính của những phế quản nói trên được điều chỉnh ở mức tối hảo để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Nói một cách giản dị, các phế quản phải được mở rộng vừa đủ để không khí đi ra đi vào. Yếu tố này tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố kiểm soát, một số yếu tố làm nở cuống phổi, yếu tố khác ngược lại có khuynh hướng làm co cuốn phổi lại. Ví dụ khi ta sợ sệt trước một tai họa nào đó khiến ta phải "tranh đấu hoặc trốn chạy", tuyến thượng thận tiết ra chất adrenaline nhiều trong máu để giúp ta đối phó với các "stress" đó (fight or flight), một trong những tác dụng của chất adrenaline là làm cho cuống phổi nở ra để chúng ta lấy hơi.

Trong trường hợp người bị suyễn hay bịnh phế quản quá nhạy cảm, cuống phổi nhạy cảm một cách bất bình thường và dễ co thắt lại. Nếu cháu bé ngửi phải một chất làm cuống phổi khó chịu, hoặc bị một bệnh siêu vi trùng (virus) nào đó hoặc ra không khí lạnh làm nhiệt độ trong cuống phổi thay đổi đột ngột, các cuống phổi sẽ thắt lại. Cộng thêm vào đó, những chất nhờn được tiết ra nhiều và niêm mạc trong lồng cuống phổi sưng lên. Các biến cố này làm cho lòng cuống phổi nhỏ lại rất nhiều và không khí đi qua một cách khó khăn tạo nên một tiếng vi vu như tiếng sáo diều nếu áp tai vào ngực bệnh nhân để nghe. Nếu suyễn nặng ta có thể nghe được mà không cần dùng ống nghe, đó là tiếng khò khè mô tả ở trên (tiếng Anh gọi là "wheezing").

Chữa trị:

http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:JXAz9dsJs-5_YM:http://www.completecarestores.com/graphics/nebulizer1.jpg&t=1

Figure 1 : Dùng nebulizer để cho bé thở thuốc làm nở cuống phổi

Phụ huynh nên tìm hiểu về khả năng bé bịnh suyễn hoặc reactive airway và bàn với bs lúc cháu đi khám. BS có thể cho toa mua sẳn thuốc có tác dụng làm nở cuống phổi mỗi lần cháu bắt đầu ho đàm. Thuốc uống hoặc thuốc chưá trong một ống bơm gọi là metered dose inhaler (MDI). Tên thuốc : albuterol (Ventolin, Proventil, ) . bé nhỏ dùng inhaler cần một cái ống đặc biệt gọi là “holding chamber” (tên thương mãi là Aerochamber, gắn liền với một cái mặt nạ [mask] lớn nhỏ tùy theo tuổi,  ụp vào miệng bịnh nhân, để bé hít hơi có thuốc từ trong ống nhiều lần) để giữ thuốc đừng tản mát ra ngoài. Ngoài ra có thể dung một máy bơm chạy bằng điện bơm thuốc nước ra dưới dạng sương mù (nebulizer) để em bé thở.  Phụ huynh có thể lên internet đọc them về các MDI và Aerochamber cũng như cách dùng các thứ này.

http://www.trudellmed.com/sites/trudellmed.com/files/company/AeroChamberBPAFreeENG.jpg

Figure 2 : Holding chamber với mặt nạ để bơm thuốc từ MDI

Đương nhiên, cần hướng dẫn của bác sĩ nhi khoa và các tin tức bàn ở đây chỉ có mục đích thông tin và giúp cho sự đối thoại với bs của bé đầy đủ và dễ dàng hơn.

Chúc bịnh nhân và gia đình may mắn.

BS Hồ Văn Hiền

Ngày 18 tháng 9 năm 2010

 

Post herpetic neuralgia - Đau nhức thần kinh hậu zona

Bịnh nhân bị bịnh “dời ăn” (zona) bên ngực trái, nay đã khỏi nhưng mười tháng sau vẫn còn đau. (Ông Nguyễn Văn)

Mặc dù tên là bịnh  ‘dời ăn”, bịnh zona (tiếng Pháp) hoặc shingles hay herpes zotser trong tiếng Anh, là do một siêu vi (virus) gây ra. Virus này thuộc loại herpes (các loại virus herpes khác  thường gặp là loại virus gây ra lở miệng , hay lở bộ phân sinh dục). Virus bịnh dời ăn gây ra bịnh trái rạ (thủy đậu), tiếng Anh là chicken pox, varicella , tiếng Pháp là varicelle.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/eb/Varicela_Aranzales.jpg/230px-Varicela_Aranzales.jpg

Figure 1 : Bịnh trái rạ (Varicella, chicken-pox)

Tôi đưa ra những tên khác nhau này để chúng ta khỏi lầm lẫn và thấy được sự lien hệ các bịnh khác nhau. Ví dụ nên nhớ là người bị “dời ăn” nếu tiếp xúc với trẻ em chưa bị trái rạ, đứa trẻ có thể bị lây và nổi trái rạ khắp mình.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/dc/Herpes_zoster_neck.png/230px-Herpes_zoster_neck.png

Figure 2 : Herpes zoster (“bịnh dời ăn) (Wikipedia.

Khi một người bị nhiễm virus varicella thì người đó sẽ bị trái rạ. Sau đó, cơ thể người đó kháng cự lại và lành bịnh. Tuy nhiên, một số nhỏ  virus đó còn tiềm ẩn trong những hạch thần kinh của người đó suốt đời. Thỉnh thoảng, do một bịnh gì đó làm cơ thể người bịnh yếu đi (như stress, dung corticoid, bị ung thư, tuổi già), các virus này có thể nổi dây, chay dọc theo các sợi thần kinh từ trong tủy sống đi ra ngoài. Vì các vết san thương gây ra chạy dọc theo các dây thần kinh chỉa ra như những nhánh cây thông từ hai bên của cột sống, chúng ta thấy những mụt nước giống như mụt  nước (vesicles) bịnh trái rạ nằm giới hạn trong một dãi da dài nào đó, chỉ ở bên trái, hoặcchỉ ở bên phải, theo địa hình của một hoặc vài sợi thần kinh nào đó (dermatome).

Vài ngày, các mụt nước khô đi và bịnh dời ăn này chấm dứt. Trong chừng 10% trường hợp, do một sự thay đổi nào đó ở cả hệ thần kinh trung ương và thần kinh ngoại biên, người bịnh bị đau nhức ở vùng đã bị zona. Người dưới 50 tuổi ít khi bị chứng đau hậu zona, thường người trên 60 tuổi là bị nặng nhất.

Các cách trị liệu gồm có  (chỉ có tính cách thông tin, bịnh nhân cần khám bác sĩ riêng của mình để chữa trị)

1) thuốc thoa giảm đau: Capsaicin là chất giảm đau lấy từ trái ớt. Tên thương mãi: Zostrix, Dolorac, Capsin , ointment  0.025-0.075% thoa 3-4 lần / ngày trong 3-4 tuần lien tiếp.

Thuốc tê Lidocain (Lidoderm) : gel 5% thoa lên chỗ đau lúc cần;

topical patch, dán lên chỗ đau, không để lâu quá 12 giờ.

2) thuốc chống trầm cảm (antidepressant) : Amitriptyline (Elavil) uống ban đêm trước khi ngủ

3) Một số thuốc chống động kinh (anticonvulsants) như gabapentin (Neurontin)

Hay Pregabalin (Lyrica). Phản ứng phụ: chóng mặt, buồn ngủ, ataxia, phù (edema)

4) Transcutaneous Electrical Nerve Stimulation (TENS) : máy điện pin nhỏ, mang theo người, phát ra những dòng điện nhỏ kích thích vùng da đau.

5) Rất hiếm khi : block dây thần kinh hoặc giải phẩu (Nerve block and surgery)

Ngừa bịnh: tất cả trẻ con ở Mỹ nay được chích ngừa trái rạ. Năm 2006, FDA chấp thuận cho thuốc chích ngừa tên Zostavax dùng cho người trên 60 tuổi. Thuốc rất đắt tiền, làm giảm 50% các trường hợp zona, và do đó giảm khả năng đau thần kinh hậu zona; và ngoài ra có đau cũng đau ít hơn. Ở nơi không có Zostavax, cũng nên biết rằng nếu người lớn, người già từng đã bị trái rạ (chicken pox) trước đây, nếu tiếp xúc (phơi nhioễm) với trẻ bị chicken pox, sự phơi nhiễm này có thể làm khả năng đề kháng của người lớn đó tăng lên và khả năng bị zona giảm xuống đáng kể.

Chúc bịnh nhân may mắn.  

Bs Hồ Văn Hiền.

Hien V. Ho, MD

Ngày 2 tháng 9 năm 2010.

 

 

Hip pain

Trả lời  bịnh nhânNguyễn văn Hùng ở Nha Trang.

Ông ngồi chừng 20 phút thì đau ở háng. Sáng dậy đau vài phút , đi cò cò, chỉ cần xoa xoa thì khỏi, có thể khiêng nặng, đi đứng bình thường mà không đau. Chụp X quang khung chậu, khớp háng bình thường, các sống lưng có mọc gai.

 Những cảm giác từ hai chi dưới (bàn chân, cẳng chân, háng) được gởi về bộ óc (hệ thần kinh trung ương) qua những dây thần kinh từ hai chi dưới, chia thành những rể (nerve root) đi vào những lổ ở hai bên cột sống của sống lưng, đọan eo lưng, đoạn này tiếng Anh gọi là lumbar , tiếng Pháp là Lombaire, cho nên người ta viết tắc là L, đếm từ L1 –L5, qua xương thiêng (sacrum, đếm S1, S2..).. Nếu đốt xương sống bất bình thường (như bị dẹp xuống vì xương xốp, bị viêm thấp khớp), các đường đi của dây thần kinh bị hẹp lại , đè nén lên làm những dây thần kinh này bị khó chịu (irritated). Lúc đó bộ óc người bịnh nhận được những tín hiệu cho biết là háng, chân bị đau, nhưng thật sự đấy là những tín hiệu gây sai lạc vì chỉ là những false alarm do dây thần kinh phát ra, không phải do các xương khớp bị tổn thương thật sự làm cho đau đớn.

File:Gray832.png

Figure 1 : Dây thần kinh đi từ eo lưng xuống chân. Dây thần kinh bị chèn ép ở lưng có thể gây đa đớn dọc theo hang, đùi, cẳng chân.

Bịnh nhân hỏi đau cột sống có ảnh hưởng đến khả năng sinh lý hay không. Trên lý thuyết thì có thể, nhưng không phải theo nghĩa y học dân gian cho đau lưng là do thận yếu và do đó kém sinh lý (đàn ông). Một số dây thần kinh nằm ở đoạn cuối cùng của tủy sống (conus medullaris), tức là những rể S2,3,4, 5 phụ tránh về phần cơ năng bộ phận sinh dục. Nếu bịnh xương khớp, u bướu ảnh hưởng đến phần cuối của xương sống (phần xương thiên) thì có thể gây trở ngại cho hoạt động tính dục (conus medullaris syndrome).

Gray662.png

Figure 2 : Phàn đuôi của tủy xương sống (caudus medullaris)

Tuy nhiên trong trường hợp thính giả, đau lúc ngồi là chính, ngoài ra đi đứng khiêng nặng bình thường làm chúng tôi nghĩ đến bịnh hip bursitis nhiều hơn. Trong cơ cấu tổ chức khớp hang và những bắp cơ, sợi gân bao quanh khớp, có những túi nhỏ gọi là bursa (tiếng Hy lạp có nghĩa túi đựng rượu) , tực những cái gối nhỏ bọc những chỗ xương u lên để che chở đối với những cọ xát  giữa xương và  gân cơ bên cạnh. Một trong những bursa đó nằm trên cáu mấu xương lớn grand trochanter  của xương đùi (nếu bạn vừa thọc tay vào túi quần, sẽ thấy chỗ xương  cứng bên hông mình, mình lắc đùi qua lại thì nó nhúc nhích theo, đó là grand trochanter). Trong một số trường hợp cái túi bursa bị viêm và người bịnh thấy đau khớp háng, mặc dù cái khớp xương thì không sao. Ban đem ngủ, bursitis có thể làm đau nhiều, nhất là nếu bịnh nhân nằnm nghiêng đè lên phần bên hông của khớp háng. Các bursa khác có thể làm đau vào phía trong của khớp hang, nguyên do cũng tương tự. Đau  nhiều sau khi ngồi một lát rồi đứng dậy, đi bộ nhiều, hoặc ngồi chồm hổm.

http://www.aidmybursa.com/_img/hip-anatomy-illiopsoas-trochanteric-bursae.jpg

Figure 3 : Các bursa của khớp háng

 Bursitis có thể đi kèm theo với:

 Dùng khớp nhiều quá (overuse injury)

Chấn thương cũ, bị té

 Đau xương sống

Phong thấp khớp (cũng làm bursa sưng)

Chân dài chân ngắn, (khác biệt trên 2.5 cm)

Chữa trị:

 -tránh các cử động, tư thế làm đau thêm (như ngủ nằm nghiêng bên bị đau)

-thuốc loại NSAID như Ibuprofen (Motrin, Advil), naproxen

-chống gậy, hoặc walker 7-10 ngày lúc đau nhiều.

-bs có thể chích corticoid và thuốc tê vào bursa và hết đau hẳn.  Có thể chích them một vài lần

        néu cần, cách nhau vài tháng.

-trường hợp hiếm, bs có thể giải phẩu lấy bursa ra.

 

BS Hồ Văn Hiền

Ngày 1 tháng 9, 2010

 

Gastric Polyp

Đây là một vấn đề rất chuyên môn,hơn nữa thính giả không cho những chi tiết tối thiểu như tuổi bịnh nhân, chi tiết bịnh sử, nên tôi chỉ xin cung cấp một số tin tức liên hệ để bịnh nhân có một ý niệm tổng quát về vấn đề căn cứ trên y văn mới đây.

Từ polyp dạ dày để chỉ một nốt (nodule) hay một khối (mass) lồi lên trên mặt phẳng của niêm mạc, tức là mặt lót trong lòng dạ dày. Các polyp này có thể rất nhỏ như trường hợp ở đây (3mm), có thể lớn vài cm, có thể dài có cuống (cọng, stalk) hoặc không có cuống (sessile).

Đa số (90%) polyp dạ dày thuộc loại tăng sản, nghĩa là vì hiện tượng viêm (inflammation)  và xoi mòn của niêm mạc, các tế bào niêm mạc sinh sản nhiều ra (tăng sản, hyperplasia)để bù đắp lại (regeneration), tạo nên những khối, những cái nốt trồi lên khỏi mặt bằng của lòng bao tử.Tuy nhiên những tế bào này không có những dấu hiệu  bất bình thường  (loạn sản, dysplasia) của tế bào ung thư. Loại polyp tăng sản thường nhỏ, nằm trong hang môn vị của dạ dày (là phần cuối dạ dày, trước khi qua ruột non, pyloric antrum), và đi kèm với bịnh viêm bao tử mãn tính (chronic gastritis).

Trong 5-10% trường hợp polyp còn lại, gọi là adenoma (u tế bào tuyến). Ở đây, các tế bào polyp có những thay đổi loạn sản (dysplasia), tức là rối loạn trong sự phát triển của chúng, thay vì những tế bào trưởng thành, chúng ta có những tế bào chưa thành thục (immature), những tế bào này ở thời kỳ dẫn tới ung thư hoặc tiền ung thư (precancerous). Nói một cách khác, chừng 10-5% các polyp có thể là u bướu có khả năng ung thư (cancerous potential).[1]Tuy nhiên hai loại polyp  này có thể chồng lên nhau, đi đôi với nhau, có nghĩa là một số polyp tăng sản cũng có khả năng đi đôi với ung thư.

Bịnh nhân ở đây có vẻ như là một người nhỏ tuổi được kêu bằng cháu. Trong giới bịnh nhân nhi khoa, một khảo cứu gần đây của ĐH Johns Hopkins cho thấy 42% thuộc loại  viêm tăng sản (inflammatory-hyperplastic) và chừng một nửa (thuôc loại fundic gland hoặc adenoma) cần theo dõi vì có khả năng tiền ung thư[2].

Những yếu tố khác cần để ý là:

1)      gia đình có bịnh di truyền gây ra nhiều polyp “Familial Adenomatous  Polyposis” (FAP), thường gây nhiều polyp trong ruột già và ung thư ở ruột già, hay không. Nếu có FAP trong gia đình, cần theo dõi chặt chẽ hơn (ví dụ 1-3 năm nội soi một lần).

2)      bịnh nhân có dùng mãn tính  thuốc loại ức chế bơm proton (proton inhibitor, như Prilosec/opremazole hay Prevacid) để làm giảm axit trong bao tử hay không. Thuốc này có thể gây ra polyp bao tử. Ngưng thuốc thì giảm polyp.

Tóm lại, theo tôi nghĩ, nếu bs ở Trường DHYD đã nói là không có gì thì không cần làm gì thêm. Nếu có triệu chứng gì đáng lo ngại, hoặc nếu chưa yên tâm, đề nghị bịnh nhân tham khảo lại với bs làm nội soi lần đầu, và hỏi bác sĩ ước tính giúp khả năng các chẩn đoán khác nhau là bao nhiêu, và nên theo dõi như thế nào, trong tương lai có nên làm lại nội soi và cắt polyp (polypectomy) nếu có để thử thịt, vì chỉ có vị bs này mới nắm vững những dữ kiện đi đến quyết định họp lý. Nói chung, xác suất thuận lợi về phần định bịnh không ác tính, và có thể bác sĩ nội soi có lý do để không cắt polyp làm sinh thiết (biopsy) lúc nội soi lần đầu cho bịnh nhân. Nội soi cũng có những risk về biến chứng của nó. Trong các trường hợp cần theo dõi, cũng phải mấy năm mới làm lại. Tuy nhiên chỉ có sinh thiết (biopsy) mới cho chẩn đoán tế bào chắc chắn vì trên lý thuyết nội soi không thể phân biệt được các loại polyp khác nhau . Phần lớn cách đối phó với các polyp (như theo dõi thế nào) tùy thuộc vào định bịnh tế bào học và mô học của polyp đó.

Chúc bịnh nhân và gia đình may mắn.

BS Hồ văn Hiền

BS Hồ Văn Hiếu

31 tháng 8 năm 2010



[1] Robbins and Cotran Pathologic Basis of Diseases, 7th Edition

[2] Gastric polyps in pediatrics: an 18-year hospital-based analysis.

Attard TM, Yardley JH, Cuffari C.

Department of Pediatrics, The Johns Hopkins Hospital, Baltimore, Maryland 21287-2631, USA.

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11866265

 

Essential Tremor - Bịnh run không có nguyên nhân (run bản chất, run vô căn).

Tôi năm nay 47 tuoi, khoảng 46 kg, cao 1m6. Tôi bị chứng run tay, bị cách đây đã được bốn năm năm rồi lúc đầu run nhẹ đến nay đã nặng hơn; Hai tay đều bị run trong đó tay trái lại run hơn tay phải và càng run hơn không làm chủ được khi giận dữ, bức xúc, lo âu hoặc khi có vấn đề gì cần bình tĩnh cố cho khỏi run thì lại càng run hơn hoặc bị đói lại càng run hơn; trạng thái tâm lý không vững vàng dễ có cảm xúc lo âu.

Tôi đã đi khám và điều trị : xét nghiệm T3, T4 cận với cường giáp, đo diện tâm đồ nhiều lần bác sỹ bảo bình thường, điện não đồ bác sỹ bảo bình thường . Như vậy có bác sĩ bảo bị run vô căn, bác sĩ khác bảo rối loạn thần kinh thực vật, có bác sỹ bảo bị cường giáp, có bác sỹ bảo bị Parkinson, rồi uống các loại thuốc thần kinh như Ma nhê B6, Can xi D, một số thuốc an thần để ngũ về đêm như Tran xen, Seduxen; gần đây khi đi khám bác sỹ cho uống thuốc như Propranolol ngày 1/2 viên/ ngày sau đó tăng dần lên nếu không đỡ và uống trong thời gian 15 ngày (xin lỗi một số thuốc tôi chỉ ghi theo cách đọc tiếng Việt).

Đến nay vẫn không giảm, tôi xin Bác sỹ cho biết:
- Có phải  là bệnh Parkinson không ?
- Nếu là bệnh Parkinson thì nên uống những loại thuốc nào của nhóm thuốc Parkinson ?
- Nếu không phải Parkinson thì nên uống thuốc gì ?
- Nếu uống thuốc Propranolol hoặc một số thuốc thuộc nhóm thuốc trị Parkinson nhiều ngày có tác dụng phụ gì không ?
- Ngoài ra xin bác sỹ tư vấn thêm cho một số lời khuyên và hướng dẫn để giúp tôi điều trị. Tôi xin thành thật cảm ơn !

Tôi xin chương trình cho biết . xin trân trong

 

Bịnh run không có nguyên nhân (essential tremor)(run bản chất, run vô căn).

Trường hợp đang bàn ở đây đã kéo dài đến 4-5 năm và đã được nhiều bác sĩ khám điều trị và thử nghiệm nhiều lần , kể cả tâm điện đồ và não điện đồ.

Parkinson và run vô căn :

Bịnh nhân hỏi đây có phải bịnh Parkinson hay không.

·         Run là một triệu chứng chính của Parkinson, tuy nhiên thường thì  bịnh nhân Parkinson run lúc nghỉ ngơi , không cử động (at rest), giảm run lúc cử động. Ví dụ lúc bs nói chuyện với bịnh nhân và bịnh nhân trả lời thì tay bịnh nhân run. Nhưng trong lúc bịnh nhân làm một động tác nào đó thì tay bớt run lại. Trái lại, trong một bịnh khác là bịnh  “run vô căn” (essential tremor,ET ), bịnh nhân không run lúc ở yên và run nhiều lúc cử động. 

·         Các triệu chứng khác của Parkinson là cứng cơ (rigidity), dáng đi đứng bất thường (đầu đưa về phía trước, chân cứng nhắc) và cử đông chậm chạp (bradykinesia) thì không thấy bịnh nhân kể ra. Cơ cứng đi đôi với run tạo ra một hiện tượng đặc biệt: ví dụ nếu ta kéo khớp khủyu ta của bịnh nhân cho nó mở ra ra, thì các cơ dãn ra từng nấc, như một cái bánh xe chỉ nhúc nhích theo từng cái răng cưa của nó (cogwheel rigidity).

Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây cho thấy hai bịnh này có thể liên hệ với nhau, ví dụ người bịnh “essential tremor” có khả năng trở thành Parkinson nhiều lần hơn so với người bình thường. Nếu là Parkinson,thì có lẽ phải đợi thêm một thời gian , nếu xuất hiện thêm một số triệu chứng nữa mới dứt khoát được. Lúc đó thì bác sĩ sẽ tính chuyện dùng thuốc gì cho thích hợp.

Hiện giờ, theo bịnh nhân mô tả, có lẽ định bịnh run không nguyên nhân (bản chất hoặc run vô căn) là ăn khớp nhất. Từ này dịch từ “essential tremor “(ET), trong đó tremor là rung, hoặc run rẫy, essential không theo nghĩa thường là bản chất, mà hiểu theo nghĩa chúng ta không biết nguyên nhân gây ra bịnh này. Các cuộc khảo cứu gần đây cho thấy có thể ET đi đôi với những bất bình thường trong tiểu não (cerebellum) và chất neurotransmitter GABA.  Trong trường hợp bàn ở đây, bao nhiêu bác sĩ đã truy tầm nguyên nhân nhưng không thấy nguyên nhân nào giải thích được.

Bịnh run vô căn là bịnh rối loạn cử động thường gặp nhất, ví dụ ở Mỹ người ta ước tính hang triệu người mắc bịnh này.Thường hai chi trên (cánh tay) bị run, lúc cử động, làm một động tác nào đó (kinetic tremor), cũng như run tư thế , lúc người bịnh muốn giữ yên tay mình trong một tư thế nào đó (postural tremor). Có thể một bên  này bị nặng hơn bên kia.Tuy nhiên cũng có người lại rung cái đầu, cứ phải lắc lư, gật gật đầu hoài, có người bị rung thanh quản nên tiếng nói bị rung. Khá phổ biến, tính ra cứ 1000 người co thể có 3-50 người bị bịnh này, có thể nặng hoặc nhẹ.Trong gia đình có thể có những trường hợp bịnh khác (familial essential tremor) mà mình có thể không để ý đến, vì đây là một bịnh di truyền. gen gây ra bịnh này là gen trội (dominant), có nghĩa là chỉ cần cha hoặc mẹ có bịnh (mang gien này), là con cái có thể bị bịnh (50% con cái có thể mắc bịnh).

 Điều trị (chỉ với mục đích thông tin, cần theo hướng dẫn của bác sĩ của mình):

·         Propanolol, là thuốc thính giả từng dùng, là thuốc ngăn chặn tác dụng kích thích của loại neurotransmitters tương tự như adrenaline (chất tiết tuyến thượng thận). Phản ứng phụ: mệt mõi, nghẹt mũi, tim đập chậm, không dùng cho người bị suyễn.

·         hoặc Primidone,(Mysolin)  là một thuốc chống động kinh. Có thể làm buồn ngủ, lờ đờ, buồn nôn, mất thăng bằng.[1]

Nếu cần bs tăng dần liều thuốc  cho đến mức có kết quả tối hảo mà không phản ứng phụ quá đáng. Nếu không được, có thể dùng 2 thứ thuốc kết hợp với nhau, cùng một lúc.

Ngoài ra; một số trường hợp có thể xài, với ít nhiều kết quả :

-gabapentin (Neurontin) chủ trị động kinh.

-thuốc an thần: trong nhóm này có vẻ  clonazepam (Klonopin) hiệu nghiệm hơn . [BN đang xài clorazepate (Tranxene)]

-flunarizine[2], (calcium channel blocker, chữa trị chứng động kinh, migraine)

Một số trường hợp hiện nay được chữa bằng cách chích Botox vào tay hoặc cổ (nếu đầu bị lắc lư), là một độc tố sinh học thường được dùng để chống các vết nhăn trên mặt.

Trường hợp nặng, một số nơi gắn electrodes vào não bộ (bộ phận tên thalamus), kích thích trực tiếp  (deep brain stimulator) ở vùng não bộ phụ trách các cử đông, máy phát  dòng điên kích thích (pacer) gắn ở  ngực bằng giải phẩu.(cũng áp dụng cho Parkinson)[3].

http://www.med.unc.edu/neurology/divisions/movement-disorders/resolveUid/1afddac4ad8addf9a8377938f75b0949

Figure 1 : Máy ở ngực phát ra những dòng điện  kích thích tha lamus trong  não bộ.

Những biện pháp khác;

·         Tránh stress, cà phê, soda

·         Tư vấn về tâm lý,

·         Vận động cơ thể, tập thư giãn, yoga, ngồi thiền, taichi để tập thăng bằng…

·         Một liều rượu vừa phải có thể giúp các triệu chứng run giảm đi, hoặc hết run. Tuy nhiên có thể đi vào đường nghiện rượu.

·         Đề nghị bịnh nhân chọn một bs gia đình có khả năng theo dõi mình liên tục và đều đặn, để theo dõi bịnh tình, điều chỉnh thuốc men và làm những thử nghiệm tốn kém hơn, phức tạp hơn  nếu thấy cần như CT, MRI, mức chì trong máu (ngộ độc chì khả năng ở VN cao hơn ở Mỹ), mức vitamin B12…

 

Chúc bịnh nhân may mắn.

BS Hồ văn Hiền

Ngày 5 tháng 8, 2010



[1] Treatment of essential tremor usually begins with primidone or propranolol monotherapy. The dosages are gradually increased to achieve optimal response. If tremor control remains inadequate with increased doses of monotherapy, combination therapy may be instituted. For appropriate candidates in whom pharmacologic therapy is inadequate, localized injections of botulinum toxin may be considered.

http://www.clevelandclinicmeded.com/medicalpubs/diseasemanagement/neurology/tremors/

[2] The effect of flunarizine on essential tremor.

Biary N, al Deeb SM, Langenberg P.

Department of Clinical Neurosciences, Riyadh Armed Forces Hospital, Kingdom of Saudi Arabia.

 

[3] Brain implant better than meds for Parkinson's disease

http://www.cnn.com/2009/HEALTH/01/06/parkinsons.deep.brain.stimulation/index.html

 

Bịnh bón cơ năng:

Functional constipation and Hirschsprung Disease

Trả lời  trường hợp bé 4 tuổi  5   bị bón:

Name: Hồ Ngọc Thy
Email: thybvnhantho@yahoo.com.vn
Country: Việt Nam
Message: Xin Quý đài trả lời về Y học:

Tôi có cháu trai năm nay 04 tuổi, xin hỏi về việc đi ngoài của cháu: một lần đi ngoài của cháu từ 06 ngày có khi lên 10 ngày mới đi, đi phân thì bình thường, nhưng để lâu quá phân bị cứng và dồn to nên có khi đi có máu dính trên phân. Hồi từ 01 tuổi cháu thường bị viêm họng uống kháng sinh nhiều bị bón, mỗi lần đi ngoài bón đau nên cháu sợ đi ngoài, mãi đến thời gian sau khi có dấu hiệu đi ngoài thì cháu ráng nín lại sợ đau. Vậy xin hỏi Quý Bác sỹ trả lời giúp cháu: Dùng thuốc gì để cháu đi ngoài thuờng xuyên không để lâu như hiện nay từ 06 ngày trở lên, liệu để như vậy có ảnh hưởng gì sức khoẻ về sau nầy không? hay là cứ để như vậy lớn lên là hết hay sao? và chế độ ăn uống cho cháu ra làm sao? Kính nhờ Quý Bác sỹ trả lời về Email cho Tôi theo đị
a chỉ: thybvnhantho@yahoo.com.vn - Kính cảm ơn Quý Bác sỹ, Kính cảm ơn Quý đài! Kính chúc Gia quyến Quý Bác Sỹ, Quý Đài BÌnh an, may mắn, thành đạt..Xin cảm ơn! Xin nói thêm cháu khẻo mạnh ăn uống bình thường, mẹ chăm rất kỹ.

 

Trả lời:

Bón ở trẻ em thường gặp nhưng chữa chứng này một cách hiệu quả không phải là dễ. Ở đây tôi chỉ bàn về trường hợp bón cơ năng (functional constipation), nghĩa là bón không phải do những nguyên nhân khác như ruột bất bình thường hay suy tuyến giáp trạng.  

1) Như thính giả nói trong thư, một số cháu chừng 1 tuổi bị đau lúc đi cầu, nên nhín lại và làm bón.

·               Một số trẻ vì tiêu chảy (vd sau khi uống trụ sinh gây ra tiêu chảy) hoặc bón phân cứng gây ra  vết nứt ở hậu môn (anal fissure), đi cầu rất đau. Và vì đau nên em lại không muốn đi cầu (stool withholding). Nếu cần nhờ bác sĩ khám hậu môn cháu xem có bình thường không. Nếu dùng thuốc cho phân mềm lại, đồng thời cho em ngồi trong nước ấm nhiều lần mỗi ngày,  thì từ từ vết nứt lành lại. Nếu không bớt cần nhờ bs chữa trị.

·               Trẻ cũng có thể nín đi cầu vì phụ huynh tập chúng ngưng xài tả gắt gao qúa nên chúng sợ đi cầu thì bị phạt, quỡ mắng. Bé cũng có thể ham chơi quá, hoặc đến chỗ lạ, cầu tiêu không sạch, ngại nên nín đi cầu.

2) Phụ huynh hỏi bón như vậy để lâu có ảnh hưởng lâu dài gì không.Nếu chỉ là bón cơ năng, tuy không gây ra hậu quả gì nguy hiểm, bịnh bón ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống đứa trẻ: hay đau bụng, đi cầu đau hậu môn, có khi vì phân cứng và khô tụ lại trong trực tràng, nên các chất tiết của ruột len lỏi chảy ra ngoài làm cha mẹ cháu tưởng là tiêu chảy kéo dài, khó giữ vệ sinh vùng hậu môn…Ngoài ra , theo một ý kiến của một số bác sĩ , ít nhất ở phái nữ, bịnh nhân bón dễ bị nhiễm trùng đường tiểu hơn.

 

Chữa bón:  

1) Thay đổi chế độ ăn uống:

·               Uống nhiều sữa bò quá (lượng sữa gây bón tùy theo người), hoặc những thức ăn làm bằng sữa (dairy products) như fromage, yaourt.. có thể gây bón. Nếu cần có thể thay thế bằng sữa đậu nành.

·               Uông ít nước quá, nhất là nếu trời nóng, mồ hôi ra nhiều.Nên cho trẻ uống 2-3 ly nước lạnh hoặc nước trái cây mỗi ngày. Nước trái cây loại có nhiều sorbitol (apple juice, prune juice) giúp phân giữ nước, mềm và  bé dễ đi cầu.

·               Ăn đồ ăn có ít sợi xơ (như gạo xay kỹ, bột mì tinh chế, cà rốt) cũng dễ bón. Nên thử cho cháu ăn gạo lứt (còn vỏ bọc, nhiều cám), bánh mì làm bằng bột xay hạt lúa mì nguyên vẹn, còn giữ phần cám và cái mầm của hạt (whole wheat bread), đậu (beans),rau cải (cà chua tươi), cháo nấu với rau cả, vừa có chất xơ vừa cung cấp nhiều nước..

 

2) Khuyến khích em bé đi cầu:

·               Mỗi buổi sang, cho em bé uống một ly nước và cho em ngồi lên ghế toilet vài phút để khuyến khích em đi cầu. Ghế ngồi toilet cần vừa tầm cở em, cho em ngồi ở thế thoải mái, đừng hối thúc nhiều nhất là đừng hăm dọa.

·               Có thể khuyến khích đi cầu sau bữa ăn hoặc lúc thấy em muốn nín đi cầu (stool withholding).

Thuốc trị bón (chỉ có tính cách thông tin, cần hướng dẫn của bác sĩ riêng của bịnh nhân):

1) Phần chính là những thuốc làm phân mềm, giữ nước trong phân (hyperosmotic laxative), hoặc làm trơn phân (lubricant):

1.             Philip’s Milk of magnesia, hơi khó uống (pha 1-2 muỗng cà fê với milk shake mỗi ngày )

2.             Dầu khoáng (mineral oil), có thể pha với nước cam. trẻ 5-11 t: 1-3 muỗng cà fê(5-15 ml)/ ngày (có thể chia ra 2-3 lần)

3.             Docusate (Colace, Surfak), làm trơn: 3-6t uống 1-2 muỗng cà phê/ ngày

4.             Lactulose (cần toa bs ở Mỹ): 7.5 ml (1 1/2 tsp sau khi ăn sáng )

5.             Polyethylene glycol (Miralax); gần đây được thịnh hành trong giới bs trẻ em ở Mỹ. Người lớn (hoặc trên 20 kg cân nặng) 17 gram (cái nắp chai có mức lường ghi là 17 gram) pha trong 8 oz nước hoặc nước trái cây, uống  mỗi ngày. Trẻ dưới 20 kg ít hơn, tùy bs, ví dụ trẻ 10 kg chừng 8 gram/ ngày.

 

2) Có những thuốc kích thích ruột già (laxative stimulant), có thể gây đau bụng, ói,… như Senna (Senokot): 1-5 tuổi uống ½ hoặc 1 muỗng càfê, trước khi đi ngủ.

Bisacodyl (trong Correctol, Dulcolax)

 

Bịnh Hirschsprung: (Hirschsprung Disease)

(phình đại tràng bẩm sinh do thiếu tế bào hạch=congenital aganglionic megacolon)

Sau khi nhận được email của phụ huynh trên đây thì chúng tôi nhận được câu hỏi qua điện thoại về một bé 5 tuổi bị bón tương tự , nhưng có cho biết chi tiết quan trọng  là cháu bị bón từ lúc mới sanh. Trong đoạn trả lời trên tôi chỉ nói về bón cơ năng (functional constipation), tức là những trường hợp ruột bịnh nhân không  có bịnh, rối loạn, một  bất thường gì về cơ thể học.Tuy nhiên, bé trai năm tuổi bị bón từ lúc mới sanh thì là một tình huống khác, cần bàn tới khả năng có thể bị bịnh gọi là Bịnh Hirschsprung hoặc là congenital aganglionic megacolon.

http://nursingcrib.com/wp-content/uploads/hirschsprung-disease1.jpg

Figure 1 : Bên trái, ruôt già bình thường. Bên phải : ruột già nở lớn trong bịnh Hirschsprung

Trong đoạn cuối của ruột già của chúng ta, tức nhiên là khoảng gần hậu môn đi ngược lên, trong vác ruột có những tế bào thần kinh gọi là ganglion cells (“tế bào hạch”) phụ trách làm cho những tế bào cơ trong  ruột già co lại, tạo nên những nhu động (peristalsis) đưa đẩy phân đi về phía hậu môn và thải ra ngoài lúc cần thiết ( nghĩa là lúc ruột già đầy phân). Trong 5000 trẻ em ra đời thì có chừng một em thiếu các tế bào ganglion cell này ở trong ruột già của mình. Con trai bị nhiều 4 lần hơn con gái và triệu chứng bón xuất hiện rất sớm, ngay trong những tuần đầu đời như trường hợp thứ hai bàn ở đây. Nói chung, nếu trẻ sơ sinh không đi cầu  48 giờ sau khi sanh là bác sĩ nhi phải để ý xem em có bị bịnh ruột già loại này hay không.

 Ruột già  các em này do đó bị hẹp lại ở khúc thiếu tế bào ganglion này. Phân từ phần trên ruột già , đi về phía hậu môn , ngang qua khúc ruột hẹp đó thì bị tắt nghẽn lại, phía trên thì phình ra, phía dưới thì vẫn teo lại nên phân bài tiết ra thường chỉ là những lọn phân đường kính nhỏ, hoặc kéo dài ra thành những dải ruban dẹp và mỏng. Lúc bác sĩ khám hậu môn, thường thấy trực tràng bịnh nhân Hirschsprung  trống không có phân, khác với bịnh nhân bón cơ năng thì trực tràng đầy phân.

Điểm này phụ huynh có thể quan sát được, vì phân ở đây khác với phân trong bịnh bón cơ năng thường gặp. Trong bón cơ năng, bịnh nhân đi ra lượng phân rất lớn, có thể làm nghẽn cầu tiêu, và như trên đã nói, phân đã lỏng ra thành nước ,dò rĩ ra khó giữ vệ sinh vùng hậu môn. Tôi nghe lời phụ huynh hỏi được thu lại không rỏ lắm , nhưng hình như mẹ bịnh nhân nói em đi ra nhiều nước , có máu, thì riêng điểm này, khác với mấy điểm trước, có vẻ thiên về định bịnh bịnh bón cơ năng thay vì bịnh Hirschsprung.

Tóm lại, nên nhờ bác sĩ chuyên về đường ruột xem xét em lại cho kỹ. Khả năng em bé bàn ở đây  bị bịnh aganglionic megacolon có thể thấp, tuy nhiên bác sĩ cần hỏi bịnh sử cẩn thận và cha mẹ bịnh nhân cần lục lọi trí nhớ và hồ sơ để cho những tin tức cần thiết và quan trọng

Bac sĩ có thể khám trực tràng, nếu thấy cần cho chụp quan tuyến ruột bịnh nhân sau khi bịnh nhân đã uống hoặc bơm chất cản quang qua hậu môn vào ruột già (barium enema).Nếu cần có thể soi ruột già và làm sinh thiết (biopsy) trực tràng (rectal biopsy). Nếu đúng là Hirschsprung thì cần nhờ đến bs giải phẩu cắt bỏ khúc ruột thiếu tế bào trhần kinh làm ruột tắt nghẽn và nối lại.  

Chúc bịnh nhân và gia đình may mắn.

Ngày 26 tháng 7 năm 2010.

BS Hồ Văn Hiền

(Hien V. Ho, MD, FAAP)

 

 

Trường hợp bé 3 tuổi,  chẻ vòm họng đã giải phẩu, lưỡi gà còn chẻ:

(3 year-old girl with repaired cleft palate; bifid uvula)

Câu hỏi:

Con gái tôi năm nay đuọc 3.5 tuổi. Cháu bị chẻ vòm họng nhưng không bị sứt môi, khi cháu đựoc 15 tháng tôi đưa cháu đi vá lại vòm họng (tàu của Mỹ vào Nha Trang năm 2008), nhưng lưỡi gà vẫn còn chẻ đôi và vòm họng phía trên gần mũi vẫn còn một đường rãnh nhỏ không sâu lắm và một lỗ nhỏ bằng hạt đậu mà tôi nghĩ chỗ đó thông với mũi , bởi vì thỉnh thỏang tôi thấy sữa vẫn chảy từ mũi ra. Tháng 8 /2009 tôi đưa cháu đến bệnh viện Răng hàm mặt trung uơng TPHCM kiểm tra theo chương trình của tổ chức Operation Smile. Sau khi khám và nghe tôi trình bày (bởi vì do số lượng các cháu bị dị tật này rất là đông nên bác sĩ không bao quát đựoc hết). Con tôi đựoc sắp xếp cho vá và tạo hình luỡi gà. Đến ngày thứ năm kể từ ngày mổ , luỡi gà bung chỉ và chẻ ra làm đôi rộng hơn. Một bên lữoi gà bị chẻ mất đi một miếng thịt nên bây giờ bên ngắn , bên dài. Vợ chồng tôi suy sụp vì nghĩ rằng lưỡi gà mà bên ngắn bên dài như thế thì làm sao có cơ hội vá lại đựoc. Bé nói ngọng chữ C và N ,vợ chồng tôi dành mọi thời gian để tập luyện cho cháu + cầu nguyện mong có một phép nhiệm màu. Thế rồi cháu phát âm đựoc chữ C , con chữ N thì khi nói nhanh còn hơi ngọng chút ít nhưng toi nghĩ cố gắng tập luỵen se khỏi. Vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm.
 
Nhưng có điều này xin các bác sĩ tư vấn giúp tôi là bây giờ tôi có nên đưa cháu đi vá lại lữoi gà hay không. Nếu vá thì vá vào lúc nào thì phù hợp với cháu ( có nghĩa là nên vá vào lúc mấy tuổi). nếu cháu không vá thì có ảnh hưởng gì sau này không.
Khe hở cạn ở vòm trên họng và lỗ nhỏ bằng hạt đậu không vá lại có gây ảnh hưởng về tai mũi họng cho cháu sau này không (như hôi miệng, hay viêm mũi )
 
Tôi sợ cháu chụp thuốc mê nhiều lần sẽ ảnh hưởng tới thần kinh hay trí nhớ sau này.

BS Hiền  trả lời:

Vòm miệng (palate)  là một bộ phận quan trọng cho việc ăn uống và phát âm. Nếu ta lấy ngón tay rà trên vòm miệng, ta sẽ thấy phần trước cứng (hard palate) vì có xương ở dưới niêm mạc, xong ra phía sau thì vòm miệng mềm (soft palate), và cuối cùng có cái lưỡi gà  (uvula) nhỏ thòng xuống. Nếu vòm miệng không nguyên vẹn, thức ăn chạy ngược lên mũi , lúc nói, không khí trong miệng xì lên mũi  và người bịnh không phát âm được những âm cần áp suất trong không gian miệng và cần lưỡi chạm lên vòm miệng (âm C, N).

File:Tonsils diagram.jpg

Figure 1 : Vòm họng mềm (soft palate) và lưỡi gà (uvula)

(Nguồn:  Wikipedia)

Trước hết , tôi xin ngợi khen cách trình bày bịnh sử, những cố gắng mà phụ huynh đã thực hiện trong hoàn cảnh thiếu thốn phương tiện để thực hiện được những tiến bộ đáng kể trong việc chữa bịnh cho cháu. Ở Mỹ, là nơi giàu phương tiện và chuyên khoa, thường việc săn sóc cho những trẻ chẻ vòm họng cần đến một e kíp chuyên gia mà ba chuyên gia chính là bác sĩ tai mũi họng (hoặc bs tạo hình, plastic surgeon), chuyên gia về ngôn ngữ và phát âm (speech and language pathologist) và bs nha khoa chuyên về răng hàm mặt. Ngay trong những điều kiện lý tưởng, vẩn có một tỷ lệ nhất định các cháu sau khi giải phẩu và trị liệu vẫn bị trở ngại phát âm một số từ (ví dụ đọc “bờ” thành ra “mờ” vì phụ âm”mờ” không cần đến phần sau họng) vì không ngăn cản không khí trong miệng đừng thoát lên mũi lúc cần phát âm một số âm thanh. Từ khoa học là velopharyngeal dysfunction (VPD) , nghĩa là loạn cơ năng vòm miệng-họng, rối loạn trong việc kiểm soát, trong việc điều khiển phần mềm của  vòm miệng phía sau (soft palate) và hầu (họng, pharynx) để chặn không cho không khí từ miệng thoát lên trên mũi lúc cần. Phụ huynh đã tập cho cháu nói được những phụ âm C và N như vậy thật đáng khen.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/16/Cleftpalate.jpeg

Figure 2 : Bé sơ sinh bị chẻ vòm miệng (cleft palate)

(Nguồn: Wikipedia commons)

Đề nghị phụ huynh nên tiếp tục dành thì giờ hơn nữa để  nói chuyện, dạy cho cháu phát âm chuẩn vì nay cháu 3 tuổi và đang ở giai đoạn phát triển ngôn ngữ rất nhanh, trong thời kỳ trước khi cắp sách đến trường học. Những trẻ hở vòm họng hay bị chậm về phát triển ngôn ngữ nên cần phụ huynh đầu tư công sức, thì giờ nhiều hơn.

Lưỡi gà (tiếng Anh gọi là uvula) của em vẫn còn chẻ ra làm đôi, và mất miếng thịt một bên sau vụ mổ thứ nhì. Phụ huynh hỏi không biết cần vá lại hay không, sau khi vá một lần thất bại. Tôi không phải là bác sĩ giải phẩu và đưong nhiên bác sĩ giải phẩu của em là người khám cháu và quyết định từng trường họp.

Tuy nhiên, xin có một số nhận xét sau:

·         Uvula hoặc lưỡi gà đóng vai trò tương đối nhỏ trong sự phát âm. Có khi uvula trách nhiệm một phần trong hiện tượng vòm-họng hở (VPD), không đóng kín, như nói trên ( nghĩa là phát âm có nhiều giọng mũi (hypernasal), vì không khí miệng xì lên mũi). Nhưng ngay trong trường họp này, chữa trị và định bịnh cũng khó, có nhiều phương cách giải quyết (như trị liệu phát âm, speech therapy), không nhất thiết là phải may uvula lại thì kết quả tốt.Nên tham khảo chuyên viên nói và ngôn ngữ trước khi quyết định.

·         Nếu cháu nói được đa số các từ kể cả phụ âm C và N, chắc giải phẩu uvula không đem lại ích lợi gì thêm.

·         Theo như tôi biết, khe hở nhỏ trên vòm miệng (oronasal fistula, ONF)  không gây biến chứng tai mũi họng gì nguy hiểm: tuy thức ăn có thể xì lên mũi và nói giọng mũi nhiều (hypernasal). Những kết quả công bố cho biết nếu giải phẩu cũng sẽ thất bại (bịnh tái lại) trong 25%.

·         Có những khảo cứu gần đây (2009) cho thấy trẻ con bị gây mê nhiều lần trước 4 tuổi có thể liên quan đến tỷ lệ học hành khó khăn (learning disabilities) tăng gấp đôi.

·         Cho nên, tôi thiết nghĩ, sự ngần ngại của phụ huynh là có cơ sở và nhất là việc vá lại lưỡi gà (uvula) có thể xem như không cần thiết lúc này.

·         Tuy nhiên, các trẻ em bị chẻ vòm họng thường dễ bị nhiễm trùng tai giữa (middle ear infection) hơn các trẻ khác.

·         Nên chú ý đem em khám bs chuyên môn để xem em có thính lực bình thường hay không và chữa bịnh tai kịp thời nếu có.Trẻ bị nhiễm trùng tai thường xuyên không theo dõi kỹ, làm mất khả năng nghe, trẻ có thể phát âm bất bình thường vì nghe không rõ.

·         Cần cho em khám bs nha khoa để xem răng có mọc đầy đủ, hàm có ngay ngắn không vì các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến khả năng nói.

·         -Ngoài ra, ở các trẻ em bình thường, không phải là hiếm khi chúng ta gặp những trẻ có lưỡi gà chẻ làm đôi (bifid uvula), phần đông không cần chữa trị gì. Tuy nhiên, bs cũng luôn nhớ rằng, nhiều  khi, lưỡi gà chẻ đôi có thể là dấu hiệu của chứng chẻ vòm họng tiềm ẩn (occult cleft palate) hoặc là một triệu chứng trong một hội chứng , kèm theo chứng bịnh ở bộ phận khác. Như trường họp hội chứng Loeys Dietz Syndrome thì  bịnh nhân còn chứng nở  đại động mạch  (aortic aneurysm), nhưng đây là một  bịnh hiếm, ngoài lãnh vực câu chuyện hôm nay.Ngoài ra nếu lưỡi gà chẻ đôi, thuờng bs tai mũi họng tránh giải phẩu nạo cắt adenoid hoặc amiđan vì sợ hội chứng rối loạn cơ năng vòm -họng (VPD).

 

Chúc gia đình và bịnh nhân may mắn.

 

BS Hồ Văn Hiền

(Hien V. Ho, MD)

June 21, 2010

 

Tế bào gương và chứng tự kỷ (Mirror Neurons and Autism).

BS Hồ văn Hiền

 

Trong một cuộc nghiên cứu hệ thần kinh của con khỉ ở Ý, người ta cho con khỉ làm một số việc nào đó đồng thời người ta đo dòng điện phát ra từ các  tế bào thần kinh riêng rẻ trên vỏ não của nó . Nhà khảo cứu Giacomo Rizzolatti và cọng sự viên thấy mỗi lần con khỉ cử động cánh tay nó để lấy thức  ăn thì có một số tế bào thần kinh trong vỏ não trán (premotor cortex) và  vùng xương đỉnh (inferior parietal lobe) nó được hoạt hóa (activated).Sau đó, điều ngạc nhiên là ngay lúc con khỉ chỉ nhìn người khác làm động tác trên, cũng những tế bào đó sẽ được hoạt hoá, y như lúc chính nó làm động tác đó vậy. Có nghĩa là có một nhóm tế bào thần kinh trong đầu con khỉ đóng vai trò cái gương (kiếng soi, mirror) phản ảnh lại, hoặc bắt chước những động tác mà mắt nó theo dõi trên sinh vật khác. Những tế bào này, được gọi là “mirror neuron”, tế bào thần kinh gương”,  xoá nhoà biên giới giữa “làm” và “ thấy”, giữa “hành động” và “thụ động”. Chúng ta nhìn một người khác cười, trong bộ óc của chúng ta cũng có một nhóm tế bào neuron cũng “ cười” theo (nghĩa là những tế bào phụ trách động tác cười cũng được hoạt hóa, “cười trong bụng’ hay “cười thầm” như chúng ta thường nói trong tiếng Việt, tuy trên mặt chúng ta không cười thật sự). Lúc nhìn người khác khóc, nhăn nhó, mếu máo, trong đầu chúng ta cũng có một số tế bào “làm” theo như vậy, mặc dù ngoài mặt chúng ta không khóc, không biểu lộ cảm xúc. Do đó, giả thuyết được đưa ra gần đây là các mirror neuron đóng vai trò quan trọng trong việc bắt chước, và học tập. Em bé mới chào đời, mắt thấy chưa xa lắm, chỉ gần thôi, đủ để thấy và nhận ra mặt mẹ nó, nhưng nếu ta lè lưỡi cho nó thấy, đợi vài giây đồng hồ, nó sẽ bắt chước được, lè lưỡi nó đáp lại. Có lẽ đó là do các mirror neuron của bé làm việc, vì trẻ sơ sinh không có khả năng phân tích xem động tác lè lưỡi của ta rồi từ đó vận động từng bước miệng môi và lưỡi nó để bắt chước một cách có ý thức (giống như người lớn chúng ta bắt chước uốn lưỡi lúc phát âm một tiếng ngoại ngữ, thật khó khăn). “Cơ chế tế bào thần kinh gương” gồm những vùng phụ trách thị giác (tempral, parietal, occipital visual areas) và hai vùng vận đông (motor area) của vỏ não trán và đỉnh (frontal and parietal cortex).[1]

The mirror neuron system and the consequences of its dysfunction

Hệ thống tế bào gương (Human Mirror Neuron System/MNS, mảu đỏ ) trên vỏ não vùng trán ( Premotor cortex, PMC) và đỉnh (parietal). Vùng trán phụ trách về mục đich của  động tác (ví dụ đưa tay ra nắm cái ly để uống nước khác với đưa tay ra nắm cái ly lúc dọn dẹp) trong lúc vùng vách phụ trách về mô tả động tác . Vùng màu vàng ở thái dương (Superior  Temporal Sulcus, STS)  là nơi xuất phát các tín hiệu thị giác (nhìn) cung cấp cho hệ thống tế bào gương.(theo Nature.com)

http://www.nature.com/nrn/journal/v7/n12/fig_tab/nrn2024_F1.html#figure-title

 

Trong giao tiếp xã hội hàng ngày, ngoài những lời nói, chúng ta “hiểu” người khác bằng cách nhìn những cử chỉ, dáng điệu, điệu bộ, cái “tướng”  của người đó, tiếng Anh gọi là “body language”. Vì mirror neuron vừa phụ trách cả cái mình “nhìn” ( chúng phản ảnh lại cái mình đang thấy) và cái mình “làm” (chúng được hoạt hóa theo động tác của bản thân), chúng là nhịp cầu giúp mình “thông cảm” được những động tác của người khác, ý nghiã và những cảm xúc đi kèm theo những động tác đó. Tôi thấy anh môi nở nụ cười, những mirror neuron phụ trách “cười” trong đầu tôi cũng được hoạt hóa , tôi cũng “cười trong bụng”, và vì mirror neuron của tôi được nối liền với bộ phận  khác trong óc (anterior insula) phụ trách về tình cảm, tôi sẽ hiểu một cách trực giác là anh cười vì vui, và tới một mức nào đó, tôi vui “cùng với anh”.

Do đó, một thuyết được đưa ra là mirror neuron giúp cho ta ý thức về sự hiện hữu của người khác, là những kẻ cũng có một cái “ngã” cái tôi riêng của họ, giống nhứ cái “tôi”, cái “ngã” của chính mình. Đến một giai đoạn phát triển nào đó , đứa trẻ biết rằng chính nó có cảm giác vui buồn, ý muốn, có sở thích,thì  người khác cũng có những cảm giác, ý muốn, sở thích của học, họ cũng có ‘tâm trí “, “đầu óc” (mind) như mình có ‘đầu óc’ của mình, khả năng ý thức về sự hiện hữu của đầu óc người khác đó gọi là   “theory of mind”(tạm dịch “thuyết về tâm trí ”). Sự hình thành của lương tâm cũng tùy thuộc và khả năng này.

Những đứa trẻ bị bịnh tự kỷ (autism), ngoài thiếu sót về khả năng ngôn ngữ, còn bị khiếm khuyết trong khả năng “thấu cảm “(empathy) tức là cảm thông  với những cảm xúc, cảm tình của người khác, do đó chúng bị trở ngại trong giao  tiếp và trong sự thích ứng với lối sống, lối hành sử của xã hội chung quanh nói chung. Thuyết về các tế bào thần kinh gương có thể giải thích phần nào những triệu chứng như sự tự cô lập (isolation) và thiếu đồng cảm của người bịnh autism (chứ không giải thích toàn bộ bịnh autism). Người ta nhận thấy ở những bịnh nhân này hệ “mirror neuron” hoạt động kém hơn ở những người bình thường, và đó có thể là lý do làm người bịnh có một “theory of mind” thấp kém (tùy theo mức độ nặng nhẹ, trong quang phổ từ nặng đến nhẹ của cái gọi là “ phổ tự kỷ”. autism spectrum), làm cho người tự kỷ không hiểu được tình cảm, tâm trạng cũng như tâm tư của người khác. Hy vọng trong tương lai không xa, hiểu biết về mirror neuron có thể giúp định bịnh chứng tự kỷ khách quan hơn và sớm hơn, cũng như giúp cải thiện khiếm khuyết về thấu cảm và tương quan xã hội nơi người mắc chứng tự kỷ.

Bs Hồ Văn Hiền.

(Hien V, Ho, MD)

Ngày 9 tháng 6 năm 2010



[1] Hardwired behavior: what neuroscience reveals about morality

 By Laurence R. Tancredi

 

Autism and acupuncture.

Chứng tự kỷ và châm cứu.

Tôi xin trả lời  câu hỏi với tư cách một bác sĩ tây y tìm hiểu về những khảo cứu  y học  liên hệ đến vai trò châm cứu trong trị liệu của bịnh tự kỷ. Tôi không hành nghề châm cứu và không phải là   thầy thuốc đông y. Ngoài ra, tuy về lý thuyết , đông y đặt cơ sở trên thuyết âm dương, ngũ hành, huyệt đạo là những điều chưa được tây y công nhận, kết quả lâm sàn của một số thủ thuật, thực hành như châm cứu đã được các bác sĩ tây y nghiên cứu và công nhận có giá trị trị liệu thực tiển, đặc biệt tronh lãnh vực chữa trị đau nhức và một số rối loạn của não bộ.

Bịnh tự kỷ là một bịnh bao gồm những triệu chứng chính sau đây thường biểu lộ, xuất hiện trong ba năm đầu đời và sẽ tồn tại suốt đời:

1.      Rối loạn về ngôn ngữ cũng như cách phát biểu bằng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ 

2.      Rối loạn về giao tiếp xã hội, về cách tương tác với người khác, những rối loạn này ảnh hưởng đến việc học tập.

3.      Những hoạt động hoặc động tác lập đi lập lại (repetitive activities and stereotypic movements)

4.      Khó khăn trong sự thích ứng với tình huống mới, không chịu thay đổi, dù là chi tiết nhỏ nhặt.

5.      Phản ứng một cách khác thường đối với những kích thích như âm thanh, mùi vị,..

6.      Khả năng suy nghĩ bị thiếu sót nhất là về khả năng nhìn khiá cạnh bao quát của một vấn đề, quá chú trọng về nghĩa đen của các từ, thiếu khả năng nhận ra ý nghĩa tượng trưng của một câu chuyện, thiếu óc tưởng tượng.

Theo BS Virginia Wong của Đại học Hongkong, mặc dù đã được thực hành mấy ngàn năm, trong đông y không nói đến bịnh tự kỷ. Y học Trung quốc chỉ nói đến hội chứng “năm chậm’: chậm mọc tóc, chậm nói, chậm mọc răng, chậm đứng và chậm đi, bao gồm các bịnh chậm phát triển, bịnh liệt não, bịnh tự kỷ…. Khái niệm về bịnh tự kỷ chỉ mới du nhập vào y học cổ truyền Trung quốc trong mười mấy năm gần đây và tên gọi ở Đài Loan và Hong Kong là “hội chứng tự phong toả, bế tắc” (self shut off syndrome), trong lúc ở Hoa lục lại gọi là ‘hội chứng cô đơn” . Theo BS Wong, cái lưỡi rất quan trọng để định bịnh tự kỷ, vì lưỡi là bộ phận duy nhất nằm trong cơ thể, một loại nội tạng (internal organ) mà ta có thể quan sát trrực tiếp được.Cho nên bs đông y xem lưỡi dày mỏng, khô ướt, mùi ra sao để chẩn đoán. Ngoài ra vì lưỡi được xem như nối liền với tim mà tim thì được y khoa truyền thống Trung quốc xem như bộ phận điều khiển hết mọi bộ phận khác .Ngoài ra lưỡi là nơi gặp nhau của 14 kinh mạch (meridian) trong cơ thể. Cho nên theo đông y, thì lưỡi là con đường đẫn đến các bộ phận khác trong cơ thể. Chúng ta nêu lên những điểm trên để thấy cách suy nghĩ và suy luận đưa đến trị liệu của đông y khác với tây y như thế nào.

Từ đó bác sĩ đông y Sun GJ, từ Trung Quốc phát minh ra phương pháp châm cứu lưỡi để trị chứng tự kỷ. Bs Wong , giáo sư y khoa, và Bs Sun nghĩ rằng trên lưỡi có đến trên 40 huyệt (acupoints), những huyệt này nối liền với những vùng trong óc, nhất là tiểu não (cerebellum), là những vùng phụ trách về hiểu biết, chú ý, ngôn ngữ (cognition, attention, language) mà MRI và PET scan cho thấy có thể liên hệ đến các triệu chứng của bịnh tự kỷ.

 Năm 1999, Bs Wong thực hiên một chương trình kết hợp Dông Tây Y khảo cứu việc chữa trị một số 700 trẻ em bị bịnh thần kinh hoặc bịnh rối loạn phát triển , trong đó có 250 trẻ bị chứng tự kỷ. Các trẻ được châm cứu lưỡi 5 ngày mỗi tuần và trong 4-8 tuần. nói chung , theo BS Wong , các trẻ em có cải thiện ở nhiều mức khác nhau, tùy theo bịnh nặng nhẹ, tùy theo tuổi. Những triệu chứng như chảy nước giải (drooling), co rút (spasticity) , mất phối hợp các cơ (ataxia) thường cải thiện sớm chỉ sau vài lần châm cứu.Bs Wong đưa giả thuyết là qua châm cứu lưõi, các kích thích đi vào tiểu não, và từ đó có thể tái lập circuit nối tiểu não với vùng trán, thái dương của võ não, làm thức dậy những khả năng tiềm ẩn ở bịnh nhân tự kỷ, làm cho người bịnh dễ tiếp thu những biện pháp giáo dục cũng như những phưong pháp trị liệu khác như ngôn ngữ trị liệu (speech therapy) và trị liệu tập tính (behaviorial therapy).. Tóm lại, châm cứu lưỡi được đề nghị như là một loại trị liệu phụ (adjunctive therapy) co thể bổ túc cho các trị liệu khác, và cũng như BS Wong nói, vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời, cần khảo cứu them, nhất là cần xem có thể thiết lập một bản đồ của cái lưỡi hay không, xem huyệt nào trên lưỡi tương ứng với  vùng nào trong óc (brain topography).

Theo một bản tin đài BBC năm 2001, Bs Wong đã trình bày một số kết quả của châm cứu lưỡi đố với bịnh tự kỷ; Hành vi , khả năng truyền đạt (communication), chỉ số thông minh của chúng được cải thiện. Chúng vẽ tốt hơn, nhiều óc tưởng tượng hơn,viết chuyện có đầu đuôi hơn và có sang kiến hơn”. Tuy nhiên bà cũng công nhận là châm cứu chỉ cải thiện các triệu chứng, chứ không trị gốc bịnh. Đấy là năm 2001, mấy  năm qua, tôi không biết các khảo cứu này có kết quả gì mới chăng.

Trên đây là một trong những  phát hiện mới  về châm cứu trong trị liệu chứng tự kỷ được y giớo chú ý và công nhận. Có những áp dụng khác như châm cứu trên da đầu (vì trẻ không cọng tác nằm yên), chấm cứu bằng cách chôn  chỉ catgut (chỉ may tự hủy) vào các huyệt ,được nhắc đến và ca ngợi  trong một số bài báo tiếng Việt. Tuy nhiên tôi không biết giá trị khoa học đích thực của các giai thoại này như thế nào. Mong rằng thính giả sẽ dùng những tin tức trình bày hôm nay như là khởi điểm để tự mình học hỏi thêm.

Chúc bịnh nhân và gia đình may mắn.

Bs Hồ Văn Hiền

7 tháng 6 năm 2010

 

Bàn chân vẹo (club foot (Anh), pied bot (Pháp), congenital talipes equino varus, CTEV)

Chân vẹo là một dị dạng bẩm sinh của bàn chân, tuy nhiên những phần cao hơn của chi dưới cũng có những biến đổi liên hệ. Cỗ  chân bị quay, ngoặc vào trong (varus), có nghĩa là đầu ngón chân cái thay vì chỉa về phía trước, lại chụm vào phía bên kia. Thêm nữa, lòng bàn chân thay vì huớng về phía dưới, lại được quay ngược lên, lưng bàn chân lại bị lật xuống phía dưới. Do đó nếu không chữa trị, đứa trẻ lúc biết đi sẽ đi chống trên cỗ chân (ankle) hay trên bờ ngòai của bàn chân  thay vì chống trên lòng bàn chân như đứa trẻ bình thường (do đó có từ talipes: tali: cỗ chân, pes: chân: dùng cỗ chân thế bàn chân để chống đi trong trường hợp chân vẹo thường gặp nhất gọi là talipes equino varus).Chừng 1/1000 trẻ sơ sinh bị chứng này. Con trai bị nhiều hơn con gái. Trong gần ½ trường hợp , trẻ bị chân vẹo hai bên.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/28/P3240003.jpg/230px-P3240003.jpg

Figure 1 : Chân vẹo (hình Wikipedia)

Chân vẹo có thể gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, như những yếu tố di truyền, điều kiện phát triển thai nhi trong bụng mẹ (làm một phần của chân thai nhi bị trở ngại phát triển do thiếu dinh dưỡng, chật chội thiếu chỗ..), hoặc do tuỷ sống có thương tật (spina bifida)…

Chữa trị: Theo phương pháp Ponseti mới được áp dụng rộng rãi trong chừng 10 năm gần đây thì có kết quả tốt trong trên 90% trường hợp mà không cần giải phẫu quan trọng. Được thực hiện sớm, trong vòng hai tuần đầu đời. Chân được nắn từ từ, từng bước một, vào vị trí bình thường, dùng bó,  băng bột mới mỗi tuần để uốn nắn và  đễ giữ trong vị thế mới trong nhiều (4) tuần (braces , cast), sau đó em phải mang nẹp (splints) lúc đầu 24/24 giờ, sau đó giảm dầntrong nhiều năm (có thể đến 4 năm).Một số trẻ cần phẫu thuật nhỏ để làm dãn gân gót (Achilles tenotomy).(xem video được giải thưởng của British Medical Association)

Nếu chữa trị trể hơn như trong trường hợp này, lúc chân vẹo đã cứng, cần phải giải phẩu để cắt, di dời các sợi gân (tendon), các bắp cơ để cân bằng lực kéo của các nhóm cơ khác nhau, và phải ổn định các khớp xương (arthrodesis)  để giữ các khớp ở vị trí vững vàng. Chân có thể vẹo trở lại ít nhiếu và có thể giải phẩu them. Đấy là công việc của các bác sĩ chuyên về chỉnh hình (pediatric orthopedist) của trẻ em.Ngoài ra còn có bác sĩ và chuyên viên vật lý trị liệu tham gia.

Nói chung, cần phát hiện sớm bịnh chân vẹo từ lúc mới sanh. Bác sĩ nhi khoa hoặc cô đỡ phải khám xem chân cháu có vẹo hay không. Nếu có thì kiểm soát xem sự vẹo này là cơ năng (functional), tạm thời do vị trí bé nằm trong bụng mẹ,trường hợp này, lúc uốn nắn thì khớp trở về vị trí bình thường một cách dễ dàng. Nếu cử động của xương khớp bị giới hạn, không đưa về vị trí bình thường được một cách dễ dàng thì cẩn thận, phải tham khảo với bác sĩ giải phẩu chỉnh hình chuyê n về  trẻ  em ( pediatric orthopedist) để xem có phải là chân vẹo thật sự phải cho chữa ngay.

Nói chung, nếu chữa đúng cách, kết quả tốt, đi đứng bình thường, có thể chân bên vẹo có thể nhỏ hơn và yếu hơn một tí. Trường hợp bé ở đây cần được bs chỉnh hình và vật lý trị liệu săn sóc và theo dõi kỷ lưỡng sau đó.Nếu có thể, nên nhờ bs nhi khám tổng quát xem em có những thương tật nào khác kèm theo hay không. Một trường hợp nổi tiếng là cô Kristi Yamaguchi vô địch thế vận hội và thế giới về múa trên nước đá (figure ice skating), lúc mới sanh cũng bị chân vẹo, phải chữa trị và sau đó dùng ice skating như là một biện pháp vật lý trị liệu, từ đó phát triển tài năng ngoại hạng như chúng ta đã biết.  Chúc gia đình em kiên nhẫn,  lạc quan và may mắn.  

BS Hồ văn Hiền (Hien V Ho, MD) 4-19- 2010

 

Fetid  breath and foreign bodies

Phụ huynh hỏi về bé một tuổi rưởi có hơi thở thối như phân.

Phụ huynh thường than phiền về hơi thở của em bé hôi hoặc nặng mùi. Đa số các em bé lúc khám có vẻ bình thường, lý do là các cháu càng lớn lên, ăn nhiềi loại thức ăn khác nhau ngoài sữa nên hơi thở không còn “ thơm mùi sữa” như trước. Tuy nhiên, một số có thể có những  triệu chứng sau:

1) Em bé nghẹt mũi, thở bằng miệng, nên miệng khô, hơi thở nặng mùi hơn bình thường.Một số thuốc cảm ho có tác dụng giảm sản xuất nước miếng càng làm miệng bé khô hơn (nước miếng có tác dụng che chở miệng), nhất là nếu cha mẹ cho cháu uống thuốc lâu dài vì tưởng là cần thiết mỗi khi cháu hơi nghẹt mũi hoặc ho (thường thì không cần, hiện nay ở Mỹ người ta khuyên cha mẹ tránh đừng dùng thuốc “cảm” (common cold) cho các em dưới 4 tuổi, đa số bịnh “cảm” do siêu vi gây ra sẽ tự nó hết bịnh mà không cần thuốc).

2) Có thể em bị nhiễm trùng (do virus lúc bị cảm , hoặc vi khuẩn/ bacteria) làm lở lói sau họng, sưng amidan hai bên họng( tonsillitis), sưng các adenoid phía sau mũi, một số tế bào chết làm mủ  (necrosis, hoại tử) làm cho  hơi thở có bi hôi. Chữa xong thì hơi thở bé sẽ hết hôi.

3) Một số trẻ bị lở miệng (viêm miệng, stomatitis}, thường do virus herpes, có thể hôi miệng trong vài ngày.

4) Các trẻ con tuổi lớn hơn hoặc người lớn, vì không săn sóc răng kỹ lưỡng , có thể bịnh nhiễm khuẩn  nướu răng hoặc phần chung quanh răng ( bịnh nha chu, periodontal disease). Bình thường, nếu vệ sinh miệng tốt, các vi khuẩn kỵ khí (anaerobic bacteria) chỉ tồn tại ở phía sau mặt của lưỡi. Lúc vệ sinh không tốt (không chải răng kỹ, không floss răng, không đến nha sĩ cạo răng theo định kỳ), các thức ăn bám vào răng, do tác dụng các vi khuẩn nói trên lên men (fermentation) và thải ra những khí như hydrogen sulfide, methyl mercaptan có mùi hôi.

Đương nhiên, sâu răng, áp xe răng cũng có thể làm hơi thở hôi, nhưng thường không thối nặng như trường hợp đang bàn ở đây.

5)Trường hợp hôi vì bịnh răng và nướu răng, biện pháp chính là áp dụng vệ sinh răng miệng, khám nha sĩ định kỳ. Ở Mỹ, hiện nay người ta khuyến khích đi khám nha sĩ từ lúc em bé có những răng đầu tiên để giáo dục cha mẹ về vệ sinh răng, cũng như áp dụng những biện pháp phòng ngừa (như phết fluoride vào răng, fluoride varnish).

-Cuối cùng là những trường hợp hiếm hơn, như trường hợp đang bàn ở đây. Mùi hơi thở em bé hôi thúi như phân chứng tỏ có một ổ tế bào chết (necrosis) và  làm mủ đâu đó

6)Tôi nghĩ trường hợp bé này, chỗ đáng nghi hơn hết là mũi của em bé. Nếu em bé nghẹt một bên mũi, chảy máu mũi, há mồm ra để thở (mouth breathing), thì càng đáng nghi hơn. Có thể em đã nhét, hoặc bị một bé khác nhét một vật lạ vào mũi, hoặc vì lúc sặc thức ăn. Vật lạ có thể là hạt bắp, mảnh giấy, đồ chơi , một thức ăn nào đó đã mắc kẹt vào mũi em gây nhiễm trùng, làm mũ và gây mùi hôi thúi nặng. Nên đi khám bác sĩ tai mũi họng càng sớm càng tốt để định bịnh, nhất là cần phải xem xét kỹ lưỡng , hút hết các  máu mủ ra, mới thấy vật lạ được, nếu cần phải chụp quang tuyến (để thấy một số vật kim loại , như cục pin [battery] nhỏ rất nguy hiểm) để lấy vật lạ ra nếu có.

 

Measles, complications, and prevention

Trả lời Ông Hồ Ngọc Bích ở Sa huỳnh Quảng Ngãi.

Xin cảm ơn Ông Bích đã chia sẻ câu chuyện buồn mấy mươi năm về trước với chúng tôi. Chúng ta bàn về đề tài này ở đây cũng là một hình thức tưởng niệm người đã khuất, là một cơ hội chúng ta cùng học hỏi để không còn xảy ra những trường hợp đau thương tương tự rất thường gặp trong thời đất nước chiến tranh.Theo như ông mô tả, có lẽ đúng là cháu bị bịnh sưởi, hoặc sởi hay ban đỏ .Tiếng Anh gọi là measles. Nói rõ như vậy cần thiết vì từ ban đỏ của chúng ta hay gây ngộ nhận, vì không phải loại sốt phát ban nào cũng là bịnh sởi đúng nghĩa của nó, mà phải phải danh chính ngôn thuận mới định bịnh đúng và chữa đúng được. Vậy thì xác định ở đây từ bịnh sởi để chỉ bịnh measles, tiếng Pháp goị là rougeole.

Ban là một tiếng rất thường dùng trong giới bệnh nhân Việt Nam. Nói chung, bất cứ cái gì xuất hiện ngoài da cũng đều có một tên nào đó bắt đầu bằng chữ "ban": Ban đỏ, ban cua, ban khỉ, ban trái, v...v... Trong sách vở Tây y, người ta đếm có 6 loại ban chánh, các loại ban này hơi giống nhau. Quan trọng nhất là bệnh "ban đỏ" (measles), được xếp hạng là "đệ nhất ban" (first exanthem).

Ban đỏ gây ra do một virus nhất định  tên Paramyxoviridae Morbillivirus .

·         Bịnh mới đầu có những triệu chứng đặc biệt của nó như sốt nhẹ, chảy nước mắt, nước mũi, viêm mắt (đỏ mắt, ra chỗ sáng thì chói chang khó chịu, ho rất nhiều) lúc ban đầu (prodromal phase). Sau đó nổi những đốm xám trắng gọi là đốm Kopliki trong miệng phía hai bên má.

·         Tiếp theo đó bé nóng cao đột ngộtvà các triệu chứng gia tăng. Những vết ban đỏ xuất hiện đầu tiên ở hai bên cổ, sau mang tai rồi lan khắp cơ thể.

·         Ban lan đến chân tay thì em bé thấy bớt nóng đi nhiều và chừng một ngày sau có vẻ như khỏe hẳn. Từ nhận xét này nảy ra cảm tưởng trong quần chúng rằng ban phải "ra hết" thì em bé mới hết bệnh được. Do đó một số cha mẹ rất lo lắng khi thấy con mình nổi lấm tấm một vài điểm rồi ngưng và lo sợ cháu sẽ bệnh hoạn, kém lớn sau này vì "ban không ra hết" và sẽ biến thành những ban khác như "ban trắng", "ban khỉ", v...v.. Ông Bích có nêu chữ “ban trầm”, và  viêt rằng bịnh “ít lộ ra ngoài, có thể biến chứng về phổi, tim.. Có thể đây là một quan niệm phổ biến trong dân gian, không được kiểm chứng. Nói chung ban nổi lên ít hơn, cũng như triệu chứng nhẹ hơn, nhiều khi không được định bịnh rõ rang (inapparent infection) vì bịnh nhân có đề kháng tốt, như các bé hài nhi được kháng thể từ mẹ truyền qua, hoặc những người từng chủng ngừa.

Hiện nay chúng ta chưa có những thuốc kháng sinh đặc trị ban đỏ.Chỉ cần dùng thuốc giảm nóng, cho ăn, uống đầy đủ và trị các biến chứng lúc cần (supportive treatment).

Một số trẻ bị ban đỏ sẽ không hết hẳn mà lại bị những biến chứng như sưng phổi, sưng tai, lở loét ở miệng, viêm óc, v...v... do những cơ chế khác nhau. Ở Việt Nam trước đây, do nền y khoa còn thiếu thốn, nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng sau khi bệnh ban trở nặng.

Bệnh ban đỏ cũng ít khi thấy ở Mỹ.

Hiện nay, ở Mỹ cứ một triệu người mới xảy ra một trường hợp ban đỏ/năm. Nghĩa là vài trăm trường hợp một năm so với trên 500.000 trường hợp/ năm trước khi áp dụng chủng ngừa từ năm 1963.

Hiện  nay, tại Mỹ các cháu được chích ngừa ban đỏ chung một mũi thuốc lượt với thuốc chủng ngừa quai bị (mumps, sưng hàm) và rubella (German Measles, “ban người Đức”,một bệnh ban nhẹ nhưng có ảnh hưởng lớn vì nếu đàn bà mắc bệnh này trong lúc mới có bầu, siêu vi trùng bệnh sẽ làm thai nhi mang nhiều thương tật, nghĩa là sẽ sinh quái thai). Thuốc này thường được gọi là MMR, viết tắt ba chữ MEASLES, MUMPS và RUBELLA.

Vì bệnh ban đỏ vẫn có thể được đem vào từ nước ngoài, hiện nay, Hàn Lâm viện Nhi khoa HK khuyến cáo nên chích ngừa MMR lúc 12-15 tháng (như trước), chích MMR thêm một lần nữa lúc 4-6 tuổi. Các trường Ðại học đòi hỏi các cô cậu thanh niên phải được chích ngừa ban đỏ 2 lần trước khi được nhập học .

Cũng nên nhắc ở đây việc một số người nghĩ rằng thuốc chủng ngừa MMR gây ra  chứng tự kỷ (autism) và vận động ngăn chặn dùng thuốc MMR cho trẻ em. Kết quả là ở một số nơi, vì cha mẹ không chịu cho con cái chích MMR, số trường hợp ban đỏ có gia tăng một số nơi và gây tử vong, thương tật  đáng lẻ không được xảy ra cho các em nhỏ. Cho đến nay,theo y giới chính thống thì chưa có bằng chứng khoa học cho thấy MMR gây ra chứng tự kỷ,

Cuối cùng, về hiện tượng đổ mồ hôi đầu ở trẻ con, nếu khám tổng quát cháu mạnh giỏi, không bị bịnh tim mạch, bịnh phổi, bịnh truyền nhiễm, trong đại đa số trường hợp đây không phải là một triệu chứng cần lo ngại.

Xin cám ơn ông Bình đã theo dõi chương trình giải đáp của chúng tôi.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

01-21-10

 

Congenital nystagmus:

Trả lời trường hợp bé Nam Khánh ở Hải Phòng, 8 tháng rung giật nhãn cầu.

Nếu tôi không lầm về ngôn ngữ thì đây là một trường hợp nystagmus mà bác sĩ ở Việt nam gọi là “rung giật nhãn cầu”, được định bịnh bằng soi đèn pin ở BV Mắt. Nystamus là những dao động, đu đưa qua lại của tròng mắt. Bịnh nhân ở đây mới tám tháng tuổi chúng ta gọi là rung giật nhãn cầu bẩm sinh của trẻ sơ sinh (congenital nystagmus. GNCBS).

GNCBS có nhiều nguyên nhân khác nhau, như phụ huynh đã biết sau khi tìm hiểu trên mạng.

1) Có một số trẻ rung giật mắt mà không có lý do tìm thấy vì bất ổn định của các cơ điều khiển tròng mắt (congenital idiopathic motor nystagmus),

2)Tuy nhiên nói chung, những nguyên nhân làm giảm thị lực (decreased visual acuity) của trẻ sơ sinh đều có thể gây GNCBS:

-u bướu võng mạc (retinoblastoma): trẻ em mới sinh đều được bác sĩ nhi khoa rọi đèn [ophthalmoscope]  vào mắt để xem có đốm đỏ bình thường (normal red reflex) phản chiếu lại hay không. Nếu trẻ bị retinoblastoma, một con ngươi (đồng tử) sẽ phản chiếu lại màu trắng (leukocoria), cũng như trong trường hợp cườm mắt khô bẩm sinh (congenital cataract). Đôi khi chụp hình các bé có flash, nếu một bên con ngươi màu trắng thay vì đỏ như thường lệ, có thể nhờ đó người nhà phát hiện được chứng “đồng tử trắng” này.

-cườm nước bẩm sinh (congenital glaucoma)

-chứng bạch tạng (albinism), người bịnh không có sắc tố ở mắt, da và tóc.

-chứng không có đồng tử (aniridia), do di truyền

-achromatopsia, một bịnh di truyền gây thị giác kém và không cẩm nhận được màu sắc (decreased visual acuity and inability to perceive colors)

- mắt cườm (thủy tinh thể bị đục) bẩm sinh (congenital cataract)

-những bịnh thoái hoá võng mạc (macular degeneration)

-và nhất là teo thần kinh thị giác (optic atrophy).Thần kinh thị giác (optic nerve) đem tín hiệu từ võng mạc mắt vào não bộ (giống như dây điện nối liền video camera vào computer), những trẻ bị teo dây thần kinh thị giác có thể bị mù.

Những chứng trên chỉ được định bịnh qua sự khám bịnh kỹ lưỡng do bác sĩ chuyên khoa mắt (pediatric ophthalmologist) được trang bị đầy đủ dụng cụ và có khả năng chẩn đoán cho trẻ sơ sinh.

3) Một số trường hợp khác, ngoài bác sĩ chuyên khoa mắt, còn cần đến bác sĩ thần kinh trẻ em vì có khả năng co giật mắt do bướu trong đầu (intracranial gây ra). Bác sĩ có thể yêu cầu làm MRI để định bịnh chính xác hơn.

Tóm lại, cha mẹ có thể quan sát xem qua những dấu hiệu gián tiếp, em bé có vẻ thấy được không (chăm chú nhìn vào mắt mình lúc mình ẳm nó, con mắt bé nhìn qua nhìn lại theo dõi mặt của mình lúc mình di chuyển trước mặt nó, cách nó phản ứng với nguồn ánh sang, với một khuôn mặt quen).

Cha mẹ nên xem kỹ lại mắt con có gì lạ không: có bị lé không, hai bên đồng tử có bằng nhau không. Chụp hình vói flash trong phòng tối xem trong hình hai con ngươi đỏ giống nhau không.

Nếu có khả năng, nên đem cháu khám bác sĩ y khoa chuyên về khoa mắt trẻ em, tại một trung tâm lớn có trang bị đầy đủ để khám mắt trẻ sơ sinh (gây mê nếu cần) và làm MRI nếu cần. Tôi nghe nói ở Sài gòn có Viện Mắt phụ huynh nên tìm hiểu xem sao. Gần VN có lẽ phụ huynh nên tìm Eye Surgery Center ở National University Hospital ở Singapore ở info@nuheye.com.

Chúc gia đình và bịnh nhân may mắn.

BS Hồ Văn Hiền

Falls Church ngày 30 tháng 10 năm 2009

 

Cleft lip, cleft palate in newborns

Sứt môi, hở hàm ếch ở trẻ sơ sinh.

BS Hồ Văn Hiền

Hai chứng này là hai thực thể khác nhau, tuy có liên hệ với nhau.Câu hỏi là tại sao trẻ sơ sinh bị sứt môi (20%), hở hàm ếch (35%) hoặc bị cả hai chứng này(45%).

File:CleftLip1.png

Figure 1   Sứt môi bên trái

   File:CleftLip3.png

Figure 2 Sứt môi hai bên

  http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/82/Cleftpalate3.png/120px-Cleftpalate3.png

Figure 3 Hở hàm ếch (hở vòm miệng)

      File:Cleftpalate1.png

Figure 4 Sứt môi và hở vòmg miệng (hở hàm ếch)

Về di truyền: có những yết tố di truyền đóng vai trò đáng kể, làm cho một người nào đó dễ chứng sứt môi, hàm ếch hơn người khác (susceptibility genes), nếu cả hai người đều cùng ở trong hoàn cảnh giống nhau. Ví dụ ở người da trắng cứ 750 người thì có một người bị sứt môi, 2500 người thì có một người bị hở vòm miệng. Người châu Á và người Da Đỏ  thì có incidence cao nhất (500 người có 1 cas), người da đen thì bị ít nhất (2000 người có một cas). Tuy nhiên những so sánh này cũng chỉ có tính cách  tương đối, vì đây không phải là những nhóm có đặc tính di truyền thuần nhất. Ở những trẻ có các hội chứng dị tật di truyền (congenital malformation), ti lệ mắc phải sứt môi, hở hàm ếch cũng cao hơn. Có những gia đình sứt môi do một gien trội (dominant gene), làm cho 50% con cái của họ bị sứt mội.Con trai bị sứt môi nhiều hơn, con gái hở vòm miệng nhiều hơn.

Về vấn đề chất độc da cam (agent orange), thay vì hỏi chất độc da cam có gây ra sứt môi hay hở hàm ếch  chúng ta phải nên đặt câu hỏi là tiếp xúc (phơi nhiễm) với chất da cam có phải là một yếu tố cơ nguy (risk factor) gây ra sứt môi hay hở hàm ếch hay không.  Câu hỏi này khó trả lời , có thể có yếu tố kinh tế và chính trị, cho nên  nếu có trả lời thì cũng tùy theo người trả lời đó là ai.Theo một task force gồm nhiều khoa học gia Mỹ ( Agent Orange Scientific Task ForceReport on Reproductive and Developmental Effects[1]) thì:

-Nhiều nghiên cứu các cựu quân nhân Mỹ ở Vn, và các nhân viên Mỹ phụ trách xịt chất khai quang (Air Force Study of Ranch Hand personnel), tỷ lệ xảy của các tật bẩm sinhcủa con cái họ nói chung có cao một cách đáng kể  hơn ở nhóm kiểm soát (nghĩa là người bình thường). Cơ hội tiếp xúc với chất khai quang  càng tăng, thì nguy cơ con bị tật bẩm sinh càng cao.

- Nhóm nghiên cứu kết luận là các kết quả nói trên “gợi lên một sự lien hệ giữa các tật nói trên và sự phơi nhiễm đối với các chất khai quan”, tuy nhiên chưa kết luận dứt khoát được vì khả năng giới hạn của các khảo cứu .Những nghiên cứu phía Việt nam hình như chưa được thế giới  chú ý vì thiếu hệ thống và phuơng pháp nghiên cứu cũng như xử lý số liệu chưa phù hợp với các tiêu chuẩn khoa học (theo GS Nguyễn Văn Tuấn[2]).

Về vấn đề đức của cha hay mẹ có ảnh hưởng đến con bị sứt môi hay hở hàm ếch hay không, tất nhiên tôi không trả lời được vì ‘đức” không phải là một khái niệm y khoa. Đương nhiên, không nên thấy người nào đó có con bị dị tật nào đó thì gán cho cha mẹ đứa bé là không có đức nên nó bị như vậy. Tuy nhiên , cũng nên nhắc ở đây một số khảo cứu cho thấy các yếu tố tình cảm (bị tù túng, buồn, sợ hải, thần kinh căng thẳng, bị stress) của người mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ sứt môi, hở hàm ếch của con cái họ, có lẽ do mức corticosteroid trong máu người mẹ lên cao vì những yếu tố đó. Nếu chúng ta nghĩ người “có đức” là người tốt , vui vẻ với mọi người,  lạc quan về  xã hội,  về tha nhân và sẳn lòng giúp đở người khác, thì nói chung, và tuy hơi viễn vông một chút, người mẹ đó giúp cho sức khỏe cũng tạo  một môi trường thuận lợi cho đứa con trong bụng mình nẩy nở một cách bỉnh thường, tốt đẹp.

Về chữa trị, nếu chỉ  sứt môi,  giải phẩu thẩm mỹ sớm lúc bé chừng  6 tuần đến 6 tháng thì kết quả tốt hơn.

Nếu hở vòm miệng, giải phẩu phức tạp hơn, thường người ta đợi cho bé lớn hơn , chừng 6 tháng sau khi mổ sứt môi.Bác sĩ giải phẩu thẩm mỹ /sọ mặt kéo một mảng niêm mạc và màng bọc xương (periosteum) từ hai bên chỗ hở vòm miệng và bít chỗ hở này lại (palatoplasty). Giải phẩu vá lại môi và vòm miệng  chỉ là một trong những bước của quá trình phục hồi thẩm mỹ chức năng răng hàm mặt  của đứa bé. Vai trò bác sĩ chỉnh nha (orthodontist)(răng giả, sửa răng mọc ngay ngắn), bác sĩ tai mũi họng,, chuyên viên bịnh lý nói và ngôn ngữ (speech therapist) đặc biệt quan trọng. Đương nhiên, quan trọng không kém là vai trò của phụ huynh phải săn sóc, kiên nhẫn nuôi nấng em qua một qúa trình nhiều năm để em thành một trẻ diện mạo và ăn nói bình thường.

BS Hồ Văn Hiền

11/10/2009



[1] http://www.birthdefects.org/research/AO_Task_Force.htm

In summary, elevated incidences of specific birth defects have been found in several studies. Elevated rates of hypospadias, oral clefts, cardiovascular defects and hip dislocations have been reported in more than one study and are thus suggestive of an association between these defects and exposure to phenoxy herbicides, chlorophenols and their associate dioxin contaminants. Definitive interpretation of the assembled data on the reproductive toxicity of these substances in humans is constrained by the limited power of the studies to detect modest increases in detrimental effects; inadequate characterization of actual exposure and possible biases in reporting of adverse effects.)

[2] Nguyễn Văn Tuấn, Dioxin, Việt Nam, và Mĩ: giữa tình cảm và khoa học (Vietscience)

 

Congenital nystagmus:

Trả lời trường hợp bé Nam Khánh ở Hải Phòng, 8 tháng rung giật nhãn cầu.

Nếu tôi không lầm về ngôn ngữ thì đây là một trường hợp nystagmus mà bác sĩ ở Việt nam gọi là “rung giật nhãn cầu”, được định bịnh bằng soi đèn pin ở BV Mắt. Nystamus là những dao động, đu đưa qua lại của tròng mắt. Bịnh nhân ở đây mới tám tháng tuổi chúng ta gọi là rung giật nhãn cầu bẩm sinh của trẻ sơ sinh (congenital nystagmus. GNCBS).

GNCBS có nhiều nguyên nhân khác nhau, như phụ huynh đã biết sau khi tìm hiểu trên mạng.

1) Có một số trẻ rung giật mắt mà không có lý do tìm thấy vì bất ổn định của các cơ điều khiển tròng mắt (congenital idiopathic motor nystagmus),

2)Tuy nhiên nói chung, những nguyên nhân làm giảm thị lực (decreased visual acuity) của trẻ sơ sinh đều có thể gây GNCBS:

-u bướu võng mạc (retinoblastoma): trẻ em mới sinh đều được bác sĩ nhi khoa rọi đèn [ophthalmoscope]  vào mắt để xem có đốm đỏ bình thường (normal red reflex) phản chiếu lại hay không. Nếu trẻ bị retinoblastoma, một con ngươi (đồng tử) sẽ phản chiếu lại màu trắng (leukocoria), cũng như trong trường hợp cườm mắt khô bẩm sinh (congenital cataract). Đôi khi chụp hình các bé có flash, nếu một bên con ngươi màu trắng thay vì đỏ như thường lệ, có thể nhờ đó người nhà phát hiện được chứng “đồng tử trắng” này.

-cườm nước bẩm sinh (congenital glaucoma)

-chứng bạch tạng (albinism), người bịnh không có sắc tố ở mắt, da và tóc.

-chứng không có đồng tử (aniridia), do di truyền

-achromatopsia, một bịnh di truyền gây thị giác kém và không cẩm nhận được màu sắc (decreased visual acuity and inability to perceive colors)

- mắt cườm (thủy tinh thể bị đục) bẩm sinh (congenital cataract)

-những bịnh thoái hoá võng mạc (macular degeneration)

-và nhất là teo thần kinh thị giác (optic atrophy).Thần kinh thị giác (optic nerve) đem tín hiệu từ võng mạc mắt vào não bộ (giống như dây điện nối liền video camera vào computer), những trẻ bị teo dây thần kinh thị giác có thể bị mù.

Những chứng trên chỉ được định bịnh qua sự khám bịnh kỹ lưỡng do bác sĩ chuyên khoa mắt (pediatric ophthalmologist) được trang bị đầy đủ dụng cụ và có khả năng chẩn đoán cho trẻ sơ sinh.

3) Một số trường hợp khác, ngoài bác sĩ chuyên khoa mắt, còn cần đến bác sĩ thần kinh trẻ em vì có khả năng co giật mắt do bướu trong đầu (intracranial gây ra). Bác sĩ có thể yêu cầu làm MRI để định bịnh chính xác hơn.

Tóm lại, cha mẹ có thể quan sát xem qua những dấu hiệu gián tiếp, em bé có vẻ thấy được không (chăm chú nhìn vào mắt mình lúc mình ẳm nó, con mắt bé nhìn qua nhìn lại theo dõi mặt của mình lúc mình di chuyển trước mặt nó, cách nó phản ứng với nguồn ánh sang, với một khuôn mặt quen).

Cha mẹ nên xem kỹ lại mắt con có gì lạ không: có bị lé không, hai bên đồng tử có bằng nhau không. Chụp hình vói flash trong phòng tối xem trong hình hai con ngươi đỏ giống nhau không.

Nếu có khả năng, nên đem cháu khám bác sĩ y khoa chuyên về khoa mắt trẻ em, tại một trung tâm lớn có trang bị đầy đủ để khám mắt trẻ sơ sinh (gây mê nếu cần) và làm MRI nếu cần. Tôi nghe nói ở Sài gòn có Viện Mắt phụ huynh nên tìm hiểu xem sao. Gần VN có lẽ phụ huynh nên tìm Eye Surgery Center ở National University Hospital ở Singapore ở info@nuheye.com.

 

Chúc gia đình và bịnh nhân may mắn.

 

BS Hồ Văn Hiền

Falls Church ngày 30 tháng 10 năm 2009

 

Portwine stain:

Cô gái 12 tuổi, bị vết đỏ chừng 5-6 cm trên trán từ lúc mới sinh, đã và đang chữa  laser nhiều lần và gia đình lo lắng.

http://www.millburnlaser.com/images/VBeam/vb_pws_man_pre.jpg

Figure 1 Portwine stain (Image by Dr Ross Kaplan)

Vì không có hình ảnh và phụ huynh không cho biết định bịnh chính xác, qua mô tả của phụ huynh và cách điều trị, tôi xin đoán đây là một trường hợp tiếng Anh gọi là “port-wine stain”, dịch nghĩa đen là “cái bớt màu rượu Porto’ (rượu nâu, đỏ đậm đặc biệt của miền Bắc Bồ Đào Nha/Portugal). Các bớt này màu từ hồng cho đến đỏ sậm, tím, thường ở mặt và cỗ,  là do những mạch máu li ti (capillaries)dưới da mọc bất bình thường dãn nở ra (vascular malformation). Portwine stain khác với:

·         Salmon patches là những bớt nhạt  màu thịt cá hồi, thường trên ót em bé sơ sinh dần dần sẽ biến đi sau vài tháng

·         U mạch máu (angioma), thường thì các u mạch máu xuất hiện sau khi sanh và to dần hình dạng như trái dâu tây (strawberry) trong những năm đầu, sau  đó đa số tự teo lại và biến mất.

Các” bớt rượu Porto” trái lại, thường phẳng, không nổi u lên, nhưng sẽ tồn tại suốt đời. Lúc bịnh nhân càng lớn lên thì màu càng đậm, đôi khi da chỗ có bớt dày lên, nổi lục cục, có thể làm biến dạng khôn mặt nếu thật lớn. Trường hợp dễ nhận ra nhất là portwine stain trên trán của ông Gorbachev của Liên Xô ngày trước. Nếu portwine stain nằm vùng trên mặt trên vùng của dây thần kinh số 5 và nhất là gần mắt , nên đem đến bác sĩ nhờ khám kỷ kưởng , xem có kèm theo triệu chứng ở bộ phận khác hay không. Đặc biệt  mắt có  bị  tăng nhãn áp (glaucoma) hay không cần chữa trị để tránh hư mắt, và đôi khi xem có triệu chứng thần kinh do những bất thường của não bộ đi kèm theo (Sturge Weber Syndrome).

http://birthmark.org/images/DianaCropped.jpg

 

Ngoài tác dụng trên ngoại hình của bịnh nhân, thiết tưởng chúng ta không nên lo lắng quá. Bịnh nhân may mắn được chữa trị bằng tia laser. Trước đây người ta dùng nhiều cách như dung kem mỹ phẩm  theo để che bớt lại, có lúc giải phẩu, đốt điện, đốt bằng đông lạnh (cryosurgery), nhưng kết quả không khả quan, lắm khi gây thẹo làm xấu đi.

Tia Laser (pulse Dye Laser , PDL) hiện nay là phương pháp tốt nhất. Tia laser truyền năng lượng vào huyết tố hemoglobin nằm trong các mạch máu và đốt nóng các mạch máu mà không hủy hoại các lớp mô lân cận. nên không gây thẹo. Tuy nhiên, chữa bao nhiêu lần, kết quả còn tùy lọai bớt , lớn nhỏ, màu đậm hay nhạt, sâu hay cạn (nông).. và tùy người bác sĩ chuyên môn  thực hiện thủ thuật đó. Nói chung, theo các thống kê, chừng 20% các portwine stain không cải thiện, không lợt hơn được,  dù là dùng laser nhiều lần. Ngay ở những bịnh nhân mà bớt đỏ đã nhạt đi nhiều sau khi tri bằng laser, một công bố gần đây cho biết sau 10 năm, chừng 60% bịnh nhân bằng lòng với kết quả, trong lúc có 35% các bớt đỏ có phần sậm hơn sau lần điều trị cuối cùng[1].

Chúc bịnh nhân và gia đình yên tâm và kiên nhẫn.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Hien V Ho, MD, FAAP

10 tháng 9 năm 2009



[1] New England Journal of Medicine, http://content.nejm.org/cgi/content/abstract/356/12/1235

 

 

Biliary Atresia:

Trả lời trường hợp nghi tắt ống mật ở em bé 2 tháng. Em bé trai Nguyễn Anh Kiệt 2 tháng tuổi có ba triệu chứng chính của chứng tắt ống mật trẻ sơ sinh:

1.      -vàng da , vàng mắt (jaundice)

2.      -phân trắng , không có màu (acholic stools).

3.      -thường còn có dấu hiệu kèm theo là nước tiểu đậm màu (dark urines)

Các em bé này thường mạnh khỏe lúc mới sanh, sanh đầy dủ tháng ngày, và lúc đầu không vàng, bú tốt, lên cân đều  trong vài tuần đầu rồi mới ngã bịnh.

Bịnh này hiếm có,nhưng người châu Á nhât là người Trung Hoa bị nhiều hơn các giống dân khác

Giải thích triệu chứng:

Mật từ gan tiết ra, bình thường được dẫn qua ống gan (hepatic duct), qua túi mật (gall bladder), và qua ống mật (bile duct), đi vào ruột non để giúp cho sự tiêu hóa, biến dưỡng thành một chất màu làm cho phân màu vàng, hoặc nâu sậm. Nếu ống dẫn mật vào ruột bị nghẽn, mật không vào ruột nên phân trắng dã như đất sét, không có màu vàng hoặc nâu, hoặc xanh lá cây thường thấy ở trẻ lành mạnh .Mật dồn ứ trở lại vào gan gây viêm (sưng) trong gan, làm hư gan từ từ. Ngoài ra, mật ứ vào  trong máu, làm chất bilirubin màu vàng  trong máu tăng lên, làm cho mắt và da trở nên vàng, vì nhiều bilirubin trong máu, bilirubin được thải qua thận, ra nước tiểu và nước tiểu vàng đậm.Thử máu thấy bilirubin trực tiếp (direct bilirubin) cao trên 2mg/100ml và chiếm đa số chất bilirubin trong máu.

 Các phương tiện định bịnh bằng hình ảnh:

Siêu âm (ultrasonography) giúp ích cho việc định bịnh để xem cấu trúc của hệ ống dẫn mật và gan bất bình thường ở đoạn nào (ví dụ không thấy túi mật, túi mật nhỏ, teo,, ống gan nở ra), xếp loại bịnh để dự tính cách trị liệu. Tuy nhiên trong một trăm trường hợp có bịnh tắt ống mật thật sự, siêu âm, ngay với những người bs chuyên khoa đọc  siêu âm rất giỏi tại những trung tâm lớn, cũng chỉ phát hiện được các dấu hiệu bịnh trong 80% trường hợp (độ nhạy cảm /sensitivity 80%).

Người ta có thể dùng những phương tiện thể hiện hình ảnh (imaging) khác như

1.      -dùng chất phóng xạ cho vào gan để xem nó có được thải vào ruột hay không (hepatobiliary scintiscanning)

2.      -MRI , có độ nhạy cảm cao (sensitivity) (90%)

Ngoài ra:

1.      bs có thể làm sinh thiết gan (“thử thịt”, biopsy) để xem có đúng hay không.

2.      -có thể bơm chất cản quang (radiopaque) vào túi mật trong lúc mổ bụng (laparotomy with surgical cholangiography), 

3.      hoặc xuyên qua da (percutaneous) nhờ hướng dẫn siêu âm  để  chụp hình túi  mật và ống dẫn mật, ( sonography guided percutaneous cholecystocholangiography).

Những định bịnh này rất chuyên môn do sự quyết định của một số bác sĩ liên hệ. Chúng tôi chỉ xin giải thích có mục đích thông tin để phụ huynh nghe bác sĩ hướng dẫn có thể hiểu dễ dàng hơn và quyết định có ý thức hơn. Nếu đúng bịnh tắt ống dẫn mật , cần chữa trị cấp thời, lúc bé tuổi chừng 8 tuần, giải phẩu nối ống mật với ruột cho mật thông ra ruột (Kasai portoenterostomy, do BS Nhật Morio  Kasai đề xướng năm 1959 )để lá gan khỏi bị mật ứ lại làm hư. Những trường hợp không cứu được lá gan, phải ghép gan (liver transplant) khác cho bịnh nhân

Chúc em Kiệt  gia đình em may mắn.

Bs Hồ văn Hiền

8-05-09

 

Muscular dystrophy

Dinh dưỡng trong bịnh loạn dinh dưỡng cơ (muscular dystrophy).

Lọan  dưỡng là dịch chữ dystrophy, dys gốc Hy lạp có nghĩa không bình thường, trophe là thức ăn, nuôi nấng..Trước đây vì thấy trong bịnh này các cơ (bắp thịt teo lại và yếu dần, các bác sĩ nghĩ rằng vì một rối loạn nào đó trong sự nuôi dưỡng các bắp thịt (máu tới, không đủ, thiếu chất dinh dưỡng nào đó như vitamin..) nên các cơ không bình thường và do đó gọi bịnh này là loạn  dưỡng.

Tuy nhiên, sau năm 1980 nhờ các tiến bộ trong sinh học phân tử và di truyền người ta mới biết nguyên nhân bịnh nằm trong các gien (gene). Trong trường hợp bịnh  loạn dưỡng thường gặp nhất là loại Duchenne (Duchenne Muscular Dystrophy), do thừa hưởng một gien bất bình thường từ nhiễm thể X của mẹ, hoặc do môt cái gien bị đột biến (mutation) người con trai mang phải bịnh này có những sợi cơ thiếu chất dystrophin và do đó bất bình thường, chứ không phải do máu đến nuôu bắp thịt  không đủ hoặc do thiếu một chất gì trong thức ăn uống.

Do đó , thức ăn uống không chữa được bịnh. Tuy nhiên, tài liệu của MDA khuyên như sau;

1.      Cho đến nay chưa có phương pháp ăn uống nào thay đổi được tiến trình bịnh loạn dinh dưỡng cơ

2.      Nhiều chất được thí nghiệm như amino acids, Coenzyme Q, Vitamin B6, Vitamin E, Zinc nhưng không có kết quả cụ thể.

3.      Phần đông các nghiên cứu đang thử những chất vitamin, những chất khoáng (minerals), những antioxidants (kháng oxít hoá) như vitamin C, vitamin E, các rau cải xanh (green) để chống các  chât độc( free radicals) do các cơ bị thoái hóa thải ra.

4.      Tuy nhiên nên cẩn thận lúc dùng những sản phẩm gọi là để tẩy độc nói ở trên, xem có đáng tin cậy không.

5.      Phần đông bác sĩ cho rằng bịnh nhân cần ăn uống như những đứa trẻ đang tăng trưởng bình thường. Chỉ có hai điểm cần chú ý là:

1)bịnh nhân ngồi xe lăn, ít tiêu năng lượng hơn trẻ hoạt động bình thường, cần ăn bớt calori lại  sợ quá mập. Những nghiên cứu cho thấy có thể cho bịnh nhân kiên ăn để giảm cân mà không ảnh hưởng đến sức khỏa các cơ

2) cần ăn trái cây, rau cải cung cấp chất xơ (fiber) , uống nước đủ để khỏi bị bón vì các cơ bụng yếu.

Bác sĩ Hồ văn Hiền

Ngày 6 tháng 8 năm 2009

 

Crying and failure to thrive in a 5 month old baby

Trả lời trường hợp bé 5 tháng khóc kinh niên và kém tăng trưởng.

Xin trả lời chung chung mà thôi vì chúng ta chỉ biết cháu 5 tháng, sinh ra 3.2 kg, có đi khám sức khỏe và có vẻ không bịnh gì rỏ rệt, không lên cân tốt, trước đây bé bú vào bị ọc sữa và bác sĩ chữa bằng cách cho calcium và kết quả giới hạn.

Các bé khỏang hai ba tháng có thể bị chứng “colic”, là đau bụng, la hét từng giờ, chân co rút lại, tay chân lạnh ngắt, và thường thì không tìm ra nguyên do chính xác.Thường người ta nghi bé nuốt hơi nhiều quá lúc bú, hoặc hơi tạo ra từ thức ăn làm sình bụng cháu vì một số trẻ khóc cho đến khi đi tiêu hoặc trung tiện (flatus) được thì ngưng. Bác sĩ có thể cho những em bé này simethicone (Mylicon) là một chất làm bé bớt sình bụng, hoặc đổi sữa formula cho cháu xem có thích hợp hơn hay không. Phần đông các cháu này vẫn khỏe mạnh. Ở đây bé đã năm tháng, và nếu tôi nghe không lầm thì bé tăng trưởng kém.Các triệu chứng có vẻ như chỉ dấu hướng về hệ tiêu hoá. 

Chúng ta cần biết bé uống sữa gì, có bú mẹ hay không?  Thường sữa mẹ được coi là thức ăn thích hợp nhất cho em bé. Nếu mẹ cho con bú mà người mẹ ít khi ra nắng (vì sợ đen), có thể cơ thể người mẹ có thể không tổng hợp vitamin D trong da và người mẹ thiếu Vitamin D và trẻ bú mẹ có thể thiếu vitamin D và calcium. Ở Mỹ, trẻ chỉ bú sữa mẹ được cho thêm giọt vitamin ACD. Tôi nêu điểm này vì bs chữa bé bằng calcium mỗi lần đi khám, nếu bé cần calcium thì cũng cần được cung cấp vitamin D đầy đủ. Trong một số trường hợp hiếm, một số protein trong thức ăn người mẹ (như sữa bò, trứng, đậu phụng) đi qua sữa  mẹ và em bé không chịu những protein này.[Xin đừng hiểu lầm là bác sĩ khuyên không nên cho bú sữa mẹ, vì điều này không đúng.]

Nếu bé bú sữa bò hay sữa chế biến formula, triệu chứng khóc dai dẵng có thể do cháu không chịu một chất nào đó trong sữa (formula intolerance). Một số bé không chịu , bị dị ứng với chất protein trong sữa bò hoặc trong thức ăn. Bé có thể bức rứt, khó chịu, ói, tiêu chảy xảy ra vài giờ sau khi bú. Những bé không chịu protein  sữa bò (cow milk sensitivity)   có thể chữa được bằng cách thế formula làm bằng sữa bò (cow milk based formula) bằng một sữa khác dùng protein của đậu nành (soy based formula như Isomil ). Có bé cũng dị ứng với đậu nành luôn thì có thể dùng một formula  tuy chế biến từ sữa bò nhưng các protein đã được biến đổi để giảm khả năng  gây dị ứng nữa (như Nutramigen, Alimentum ở Mỹ, đắt hơn nhiều so với formula thường). Trong một số trường hợp , trẻ em thiếu chất enzyme lactase cần thiết để tiêu hóa chất ngọt lactose của sữa và đau bụng, tiêu chảy vì lactose ứ đọng trong ruột. Có thể dùng những formula goị là lactose free (không có lactose) hoặc các formula làm bằng đậu nành không chứa lactose.

Liên hệ vớicác chứng này nên nhắc tới chứng viêm thực quản (allergic eosinophilic esophagitis) và viêm dạ dày và ruột  (allergic eosinophilic gastroenteritis) do dị ứng là trẻ bỏ bú, trào dịch thực quản (gastroesophageal reflux) khó trị bằng các phương pháp thong thường,chậm lớn, ngủ không yên giấc.

Cụ thể, nên cho bé đến một bác sĩ nhi khoa khám lại cho kỹ và theo dõi định kỳ sau khi cha mẹ đã để ý và xem xét những điểm trên.

Nên xem lại những điểm sau:

-Nếu bú sữa mẹ, xem em bé có bú đủ no không, mẹ em bé có dùng thuốc men gì có thể qua sữa  và kích thích bé quá đáng không, có ăn thứ gì nhiều quá đáng không (đậu phụng, trứng). Nên cho bé uống thêm các vitamin ACD.

-Nếu bú formula, sữa bò, cần xem phảm chất của sữa đó có tốt không. Ví dụ sữa đặt có đường uống cà fê sữa không thích hợp cho em bé bú. Formula cần pha đúng liều lượng: ví dụ ở Mỹ đa số sữa formula bột cần pha 2 oz nước với 1 muỗng lường, sữa đậm đặt (concentrated formula) phải pha loãng một phần sữa với một phần nước. Nếu pha không đúng có thể nguy hiểm cho em bé vì rối loạn các cân bằng điện giải và nước trong cơ thể. Chuyện này đã từng xảy ra nhiều ở Mỹ vì các người mẹ thiểu sốkhông biết đọc cách hướng dẫn bằng tiếng Anh và để nguyên sữa đặt không pha loãng cho trẻ uống.

-phân em bé có máu hay không, bé có đau bụng mỗi lần đi cầu không, có chất mỡ nhiều trong phân không (nghi malabsorption=hấp thụ kém có thể do một số bịnh viêm ruột ).Nếu có những điểm này, cần cho bs biết. Nếu nghi không hạp với sữa thay formula như bàn ở trên.

-bé có bón không, phân cứng quá mức không. Nếu có có thể cho bé uống thêm nước trái cây để dễ đi cầu hơn.

-Nếu bé còn ọc nhiều, có thể bé bị tràn dịch thực quản (GE reflux)  và khóc la kinh niên vì viêm thực quản (esophagitis) làm đau em bé. Hỏi  bs chỉ cách cho bột gạo (cereal) vào sữa cho đặc sệt  để thức ăn bớt chạy ngược lên thực quản, kê giường em bé cao lên, và hỏi bác sĩ xem có thể dùng những thuốc bao tử thuộc loại như Ranitidine (Zantac) làm giảm a xít trong bao tử (ở Mỹ chứa 15mg trong 1ml, cứ 1 kilo cân nặng dung (uống) 5-10 mg mỗi ngày ) xem có bớt không.

Xin chúc gia đình và em bé may mắn.

BS Hồ văn Hiền

5/20/2009

 

Thalassemia

Ở đây chúng ta đã biết định bịnh của em là thalassemia, thính giả yêu cầu chúng tôi giải thích nguyên nhân bịnh này.

Thalassemia thường xảy ra ở người vùng Địa Trung Hải (Âu châu) cũng như người ở Vùng Đông Nam Á; ở Mỹ những bịnh này thấy trên những người di dân từ vùng của chúng ta, hoặc từ Ý , Hy lạp. . 

1)

File:Red White Blood cells.jpg  

hinh 1: Bên trái là một hồng cầu (RBC), tròn , hình dĩa, giữa là tiểu bản (platelet) phụ trách đông máu , bên phải là bạch cầu (T lymphocyte) phụ  trách miễn nhiễm (immunity)
(from Wikipedia:  Electron Microscopy Facility at The National Cancer Institute at Frederick (NCI-Frederick)

 

Trước hết chúng ta biết rằng máu là một chất lỏng chứa những tế bào có nhiệm vụ khác nhau.  Trong đó, hồng cầu (red blood cell, RBC) là những tế bào màu đỏ, hình cái dĩa , toàn thể  chiếm chừng gần nữa thể tích của máu chúng ta (xem hình 1)

Hồng cầu có nhiệm vụ mang oxy , hoặc dưỡng khí từ phổi đến các bộ phận trong cơ thể.   

 

File:1GZX Haemoglobin.png

hình 2:  Phân tử Hemoglobin với 2 alpha globin và 2 betaglobin (Wikipedia)

Trong hồng cầu, có những phân tử (molecule ) chịu trách nhiệm chuyên chở oxy là huyết cầu tố, tiếng Anh gọi là hemoglobin (Hb)(xem hình 2). 

 

Bây giờ chúng ta thử đi sâu hơn vào cấu trúc của phân tử huyết cầu tố (hemoglobin).  Phân tử hemoglobin được câu tạo bởi  4 phần protein gọi là  mạch globin (globin chain), tạm ví như  như một trái cam có bốn múi.  Hai múi là globin alpha, hai múi kia gọi là beta. Mỗi cái globin chain hình dạng giống như một con sâu được xếp lại (folded worm), trong long nó chứa một cai1 nhân gọi là heme (xem hinh), trong heme có chứa nguyên tử sắt.  (Fe/iron). 

 Khi tế bào máu được sản xuất trong tủy xương,  trước tiên  các tế bào tủy xương phải sản xuất ra các globin kể trên rồi mới ráp thành huyết cầu  tố hemoglobin.  Sự sản xuất globin lại do một số gien trên nhiễm thể (chromosome) của tế bào quyết định. 

2) Bịnh thalassemia có thứ bậc nặng nhẹ không:

Nếu gien bị trục trặc, tủy xương người đó không sản xuất ra  globin  môt cách đầy đủ được và không sản xuất đủ huyết cầu tố cho huyết cầu mới.  Do đó  ngưới đó bị thiếu máu , nặng nhẹ tùy trường hợp và ta nói rằng người  người bịnh mắc chứng  thalassemia . 

Trường hợp beta thalassemia, nếu chỉ một trong hai nhiễm thể số 11 bị trục trặc thôi (heterozygote), người bịnh chỉ hơi thiếu máu và không có triệu chứng gì , không cần chữa trị, và sẽ mang đặc điểm này suốt đời (thalassemia minor, thalassemia trait). 

Nếu cả hai nhiễm thể trong cặp số 11 đều bị (homozygote), bịnh thiếu máu sẽ nặng, phần globulin được tổng hợp bình thường sẽ bị dư ra và kết tụ (aggregates) lại gây tác hại trên tế bào hồng cầu, vỡ hồng cầu (hemolysis), nhiều biến chứng và bịnh nhân không sống lâu. (thalassemia major).

Trường hợp alpha thalassemia  khác, có 4 genes quyết định. Nếu 2 gene bị bất bình thường, thì không có triệu chứng (alpha thalassemia trait). Nếu 3 gene bị bất thường thi có một số triệu chứng như thiếu máu, vàng da, lá lách sưng, đôi khi cần truyền máu.Nếu cả 4 gene bất bình thường, bào thai thường không sống sót được hết thai kỳ, chết trong bụng mẹ

3) Cuộc sống:

Thalassemia trait không có triệu chứng. Thalassemia  minor thường ít  triệu chứng, có thể cần truyền máu nhưng ít thôi.

Cuộc sống của người bị thalassemia major:

Mặc dầu lúc mới sanh, bịnh nhân chưa có triệu chứng, mầm mống căn bịnh đã ghi sẵn trong di thể của các tế bào. D ần dần c ác tri ệu ch ứng xu ất hi ện: xanh xao, mệt mõi , chậm lớn, bụng trướng lên do gan và lá lách lớn, khuôn m ặt thay đổi v ì c ác xư ơng do biến d ạng (mắt xết, g ò má trồi lên), suy giáp trạng, tiểu đuờng (diabetes). Với các phương tiện hiện nay về chẩn đoán di truyền học, người ta có thể định bịnh lúc còn phôi thai, tức là những tuần đầu của bào thai. 

4)  Di truyền:

 Người có một gien beta thalassemia (thalassemia minor) thừa hưởng gien này từ cha hoặc mẹ mình. Nếu hai người này (cùng mang gien thalassemia minor) lấy nhau, cơ nguy có một đứa con bị thalassemia major là 25%, đưá con bị thalasemia minor là 50%, và đưá con không mang gien thalassemia là 25%.Bịnh thalassemia minor không thể biến thành major được.

Nếu là loại bịnh nặng (beta thalassemia major), người bịnh thừa hưởng một gien bịnh từ cha mình và một gien bịnh từ mẹ mình.  Người đó  sẽ truyền lại cái gien này cho tất cả con cái mình. N ếu người phối ngẫu cũng mang gien này, tất nhiên, một số đứa con có khả năng bị thalassemia major.

 Đối với thalassemia major, loại thalassemia nặng, hiện nay phương pháp chữa duy nhất là truyền máu đều đặn cho em, thường 4-6 tu ần một lần.  Bất tiện của sự chuyền máu đều đặn là phản ứng do chuyền máu và tích lũy chất sắt quá nhiều trong cơ thể làm ảnh hưởng đến các bộ phận quan trọng như tim và gan.  (hemosiderosis). Trong quá khứ, phần đông bịnh nhiên không

sống đến tuổi hai mươi vì  các biến ch ứng này ‘ Gần đây, dùng chất deferoxamine (Desferal) để giúp cơ th ể đào thải chất sắt, thuốc chích qua m ột máy bơm liên tục chầm chậm dưới da hoặc vào tĩnh mạch, Nhờ vậy cuộc s ống kéo dài hơn (đến trên 30) và  cải thi ện ch ất lượng cuộc sống rất nhiều,

Một số nơi ỏ Mỹ áp dụng phuơng pháp ghép tế bào tủy xương (bone marrow transplant), tức là lấy tế bào tủy xương bình thường của người khác (thường là anh em, bà con) thế vào tế bào tủy xương bất bình thương , do đó tế bào tủy xương sẽ có khả năng sanh ra tế bào máu bình thường. 

Một phương pháp khác là gien trị liệu pháp( gene therapy) còn trong vòng thí nghiệm chỉ mới bắt đầu mấy năm gần đây .  Người ta gắn một cái di thể, cái gien tổng hợp  vào một virus.  Lúc cho virus nhiễm vào người bịnh, nó sẽ là phuơng tiện chuyên chở một khúc DNA (gien) bình thường gắn vào tế bào người bịnh, trong mục dích chữa lại cái gien bị sai của người bịnh.  Gần đây gene therapy bị khựng lại vì một số biến chứng gây chết người cho nên ứng dụng thực tế chắc còn đợi nhiều năm. 

Một phương pháp khác là tìm cách dùng thuốc thức dậy một cái gien đang ngủ , như gene phụ trách hemoglobin F của thai nhi nói ở trên (chỉ hoạt động lúc còn trong bụng mẹ) để gien này làm việc thế gien beta globin.

BS Hồ Văn Hiền

5/19/09

 

Breath holding spells and temper tantrums

Trẻ em làm nư nín thở

Bé Hiếu, 16 tháng lên cơn khóc tím tái, lịm đi, qua khỏi cơn thì vẫn như bình thường,có ngày làm tới ba lần. Lúc cháu không bằng lòng việc gì thì cháu lên cơn làm nư . Có thể xảy ra từ hồi ba tháng tuổi. Ngoài ra, có vẻ cháu không có bịnh gì đáng kể, mặc dù gia đình chưa đem đi khám bịnh vì lý do kinh tế.

Đây có lẻ là một trường hợp cơn nín thở (phân biệt với ngưng thở là trường hợp một số trẻ sơ sinh thỉnh thoảng không thở kéo dài mấy chục giây,  đôi khi đến mức tắt thở, được gọi là apnea). Cơn nín thở ở trẻ em  tiếng Anh gọi là breath holding spell đi đôi với triệu chứng gọi là temper tantrum, temper là cái nết dữ, tantrum là cơn giận dữ; temper tantrum chúng ta có thể gọi là cơn nư, ví dụ như chúng ta nói để bé “khóc cho đã nư”, hay “cơn tam bành, lục tặc” (tam bành là ba vị hung thần trong người ta, xui khiến người ta làm bậy bạ). Tuổi lúc mới biết đi của trẻ con cũng giống như vậy, đây là lúc bé chừng mười mấy tháng đến 3-4 tuổi chưa kiểm soát được các ‘cơn bốc đồng’, sự  thúc đẩy (impulses) của mình . Lúc từ 12 đến 24 tháng, chúng nghe thì hiểu được khá nhiều nhưng khả năng nói thì ít phát triển hơn, cho nên muốn nói mà nói không được có thể làm cho bé bực bội lắm. Ngoài ra đây là lúc cháu bắt đầu ý thức về sự độc lập của mình (autonomy, independance), bé muốn quyền điều khiển những gì xảy ra chung quanh mình, như muốn làm cái này, làm cái kia, mà trong lúc khả năng chưa cho phép nên lại làm cho nó bực bội (frustrated) thêm . Do đó tùy theo tâm tính từng đứa, có trẻ  sẽ rên la, khóc tha ầm ĩ, lăn lộn, vật vã và như trong trường hợp bé Hiếu ở đây, nín thở chừng vài chục giây đồng hồ, cho người tím ngắt, và sau đó thự nó thở trở lại vì bị ngộp nín thở không nổi nữa. Một số trường hợp hiếm, cháu có thể nín thở hoặc thở nhanh đến mức co giật (seizure) giống như cơn động kinh (epilepsy) nhưng cũng không sao cả (đương nhiên trường hợp này phải cẩn thận theo dõi và nếu cần khám bác sĩ để phân biệtcó phải là động kinh hay không).

Làm thế nào giảm các cơn nư này?

1.      -Ta nên  nhớ có thể cháu làm nư vì muốn được người khác chú ý (attention). Nếu chúng ta chứng tỏ là chúng ta quan tâm đến nó bằng cách để ý những cái gì nó thật sự làm tốt và khen thưởng, khuyến khích nó thì nó sẽ bớt đi tìm sự chú ý bằng cách đó.

2.      -Cho bé một sự lựa chọn nào đó , thay vì ra lệnh cho nó: ví dụ “con muốn ăn cháo hay ăn cơm; con muốn uống đi ngủ với ba hay ngủ với má?..” thay vì “Ba muốn con phải ăn cơm bây giờ? mẹ muốn con phải vào giường nằm xuống ngay!  Cho cháu cơ hội chọn một trong hai ba điều  và giảm bớt chiều hướng đề kháng, la lối, khóc lóc.

3.      -Đừng để cháu trước những gì cám dỗ nó  mà không được đụng tới: ví dụ biết nó sẽ phá cái máy đắt tiền thì nên cất cái máy vào một nơi ngoài tầm mắt nó. Nếu dấu những món đồ, món ăn cám dỗ không được, thì nên kiếm món gì khác làm cho nó đảng trí, quên chuyện đó đi.

4.      -Nhiều trẻ có rất nhiều đồ chơi, mức khó khăn sử dụng các đồ chơi này tùy theo tuổi khác nhau. Nên chọn một số đồ chơi vừa phải để cháu đừng dễ rối trí và chán, nên vừa lứa tuổi nó, vì nếu cho  chơi món khó sử dụng quá, nó làm không được, bé lại quạu lên, làm nư thì lại gây chuyện phiền mọi người.

5.      -Bản thân người lớn cũng nên xét lại xem mình có “khó” quá không. Nếu phụ huynh gò bó bé quá, kiểm soát trẻ nhất cử nhất động, lại gặp một đứa trẻ ‘bướng” lại là một cơ hội cho bé lên cơn nóng giận dữ.

Cháu bé làm nư thì nên làm gì?

-Tất nhiên nếu bé đang ở hoàn cảnh nguy hiểm , như gần lửa, gần nước, thì phải đem nó đi chỗ khác, hoặc kiềm chế nó lại, không nhượng bộ được.

-Đừng nóng giận, la lối theo nó. Đưá trẻ làm nư vì muốn mình chú ý đến nó. Người lớn ồn ào giận dữ sẽ làm cho nó nghĩ rằng nó có thể dung cơn nư để gây chú ý (dù là chú ý một cách tiêu cực là nóng giận, la lối). Đừng đánh đập nó, nhất là ở Mỹ, nơi mà đa số cha mẹ sẽ dễ bị buộc vào tôi bạo hành với trẻ em, mà buộc tội với lý do chính đáng vì nóng giận và võ lực làm ta mất trí khôn, nguy hiểm vàtạo gương xấu cho sự giáo dục em bé.Người lớn nên ý thức về tánh giận dữ của chính mình và tập kiểm soát giận dữ.   (anger control).

-Xem trẻ làm nư có lý do gì mình thông cảm được không (ví dụ bé bị anh giật đồ chơi) thì an ủi vỗ về nó. Nếu nó làm nư vì muốn đòi một món gì bị cấm đoán, thì cứ làm ngơ, như không thấy, rồi bình tỉnh giải thích cho nó là không được ,  từ từ nó sẽ bình tỉnh lại. Tránh nhượng bộ dễ dàng vì bé sẽ dùng “chiến thuật” này nữa. Đợi lúc bé hết lên cơn, tự chủ được thì mới khen là nó ngoan vì bé không còn làm dữ nữa.

-Nếu cháu bé có những triệu chứng làm cha mẹ thấy nguy hiểm (như đập đầu vào vách, sàn nhà nhiều lần, phá hoại [destructive]), cha mẹ cảm thấy nguy hiểm, mất tinh thần, trở nên quá thụ động không còn kiểm soát được tình hình, nên tìm đến bác sĩ hoặc chuyên viên tâm lý để khám cho em và ước định tình hình, giúp đở cho cha mẹ có những giải pháp thích đáng với hoàn cảnh.

Với thời gian, do phát triển về ngôn ngữ và khả năng tự kiềm chế và ý thứcvề những giới hạn quanh mình, dần dần các cơn nư ở trẻ con này sẽ qua đi. Chúc gia đình  bé Hiếu đủ kiên nhẫn để dạy dỗ em qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tự nhiên của trẻ con. Ước mong gia đình có cơ hội đưa em đi khám bác sĩ định kỳ để theo dõi sức khỏe em đều đặn và được sự hổ trợ của ngành nhi khoa trong công cuộc dạy dỗ em trong nếp sống có kỷ luật.

BS Hồ V Hiền

 Tháng 4 năm 2009

 

Một trường hợp viêm tủy sống ở trẻ em

(Pediatric Myelitis)

Con em được 40 tháng tuổi, vừa qua cháu bị sốt cao mê mang 2 ngày, không ăn uống gì được. Sang ngày thứ 3 thì cháu bớt sốt và ăn được nhưng sau đó cháu đứng dậy đi thì té quỵ gối 2 lần và sau đó cháu đi không được nữa và chân phải yếu luôn. Bây giờ cháu không đi được và chân phải không điều kiển được nữa. Sau đó cháu vào bệnh viện Nhi đồng 1 ở Sài gòn kiểm tra xét nghiệm máu, đo điện cơ bảo không bị sao. Sau đó đưa cháu sang BV chấn thương chỉnh hình chụp X quang khớp háng thì bảo viêm khớp háng. sau đó uống thuốc 1 tuần thì có đỡ đau hơn, nhưng chân cháu vẫn không đi được. Tiếp tục BS cho chụp MRI ở cột sống ngực - thắt lưng với các chuỗi xung : sagittal T1W, T2W, Axial T2W. Kết quả  : “Bất thường vùng chóp tuỷ (1) ngang mức đốt sống ngực T11-T12, khả năng do viêm nhiễm, tổn thương tuỷ cũ…Ít nghĩ đến u tuỷ” . Hiện nay cháu vẫn không đi được và chân phải cháu không dở lên dở xuống được.

Nhờ Chị Minh Phượng hỏi xem chỉ cho em cách chữa trị cho cháu chứ hiện nay vẫn chưa biết cách nào chữa trị. Cháu đang nằm trong BV Nhi đồng 1 ở Sài gòn.

Em chân thành cảm ơn chị nhiều.

(1) Conus medullaris  

 

BS Hồ Văn Hiền trả lời:

Theo như sơ lược bịnh sữ của mẹ bịnh nhân gởi qua, chúng ta có thể đoán đây là một trường hợp viêm tủy sống (myelitis) ở đưá trẻ 40 tháng tuổi. đây là một bịnh rất hiếm, nhất là ở trẻ con. Có thể bịnh nhân bị loại transverse myelitis (TM), tạm dịch là viêm tủy sống nằm ngang; MRI cho thấy vùng bất bình thường ở đốt sống ngực 11-12 (T11-12).Tổn thương ở vùng này của tủy sống làm liệt các bắp cơ từ háng trở xuống, cả hai bên, cùng với những rối loạn về cảm giác vùng dưới đáy quần, và rối loạn cơ năng các cơ vòng (sphincters) là những bắp thịt kiểm soát sự tiểu tiện, đại tiện. Ở đây phụ huynh không nhắc đến các triệu chứng này, có thể nên để ý thêm thì mới biết rõ hơn để  định bịnh gì cho đúng. Ở đây, chúng ta chỉ bàn chung chung trên một số giả thuyết mà thôi.

Sơ lược về cơ thể học:

Figure 1 Motor cortex là phần võ não điều khiển các vận động của các bắp thịt (cơ) trong cơ thể (từ trên xuống dưới: ngón chân, bàn chân, cẳng chân, đùi, bụng, mình, lưng, vai , cánh tay, khuỷu tay, cổ tay, đầu, mắt , má, làm, môi) (hình Wikipedia)  

 

Figure 2 : Dermatomes: các thần kinh từ các khúc khác nhau của tủy sống (C là cervical, sống cổ, D là sống (lưng) ngực, L là lumbar (eo), S la sacral =xương thiêng) đi đến những vùng da khác nhau của cơ thể gọi là dermatomes (hình Wikipedia)

 

Figure 3 : Hình cắt ngang hai đốt sống (vertebra) với dĩa đệm ở giữa (intervertebral disk).

Tủy sống (spinal cord) chạy  dọc theo cột sống, các rễ thần kinh (nerve roots) đem tín hiệu từ ngoại biên vào tủy sống, đi lên não bộ (cảm giác). Các  tín hiệu mệnh lệnh từ não bộ, xuống tủy sống, ra các rễ thần kinh vận đông. (hình Wikipedia)  

 

Các bắp thịt (cơ) ngoại biên được điều khiển bởi các tế bào thần kinh trên vỏ não (motor cortex), qua trung gian những sợi thần kinh từ não bộ đi xuống tủy sống (descending corticospinal tract) , rồi từ tủy sống chạy ra các rể thần kinh (nerve root), tiếp cận với các cơ bắp. Về cảm giác (sensory system), các receptors gởi tín hiệu,  giây thần kinh (peripheral nerves) đem tín hiệu từ ngoại biên (như cảm giác sờ mó, đau, cảm giác về vị trí các khớp xương, nóng lạnh..) chạy vào tủy sống rồi từ tủy sống chạy lên não bộ , não bộ tiếp nhận các tín hiệu này và làm cho ta nhận ra các cảm giác khác nhau như  về xúc giác (tactile) , nóng , lạnh, đau (spino thalamic tract for pain and temperature)., về vị trí (proprioception)...

Nói cách khác tủy sống như là một xa lộ tín hiệu hai chiều nối liền trung ương (não bộ) và các bộ phận ngoại biên (cơ cử động , cảm giác sờ mó..). Nếu bị tổn thương trên tủy sống, gọi chung là viêm tủy sống, thì các cơ bắp sẽ mất tín hiệu không điều khiển được, như bé bị liệt chân ở đây, các cơ vòng (sphincter)  kiểm  soát tiêu, tiểu cũng bị ảnh hưởng; các tín hiệu của hệ cảm giác (sensory system) sẽ bị rối loạn hoặc không vào não bộ được và sẽ gây những cảm giác bất thường (dysesthesia, như đau nhức , tê buốt, cảm giác kiến bò) hoặc mất cảm giác (sensory loss).

Trường hợp ở đây có lẽ là do viêm tủy sống cắt ngang (transverse myelitis) và tổn thương được thấy trên MRI có lẽ là nơi các tín hiệu bị gián đoạn. Tổn thất này có thể do những nguyên nhân sau đây:

1.      Cơ chế tự miễn nhiễm (autoimmune process). Bình thường các tế bào phòng thủ của hệ miễn nhiễm không tấn công những tế bào của chính cơ thể mình (self tolerance). Nếu vì trục trặc một khâu nào đó, như sau một cơn bịnh (parainfectious myelitis), (thường là do virus), các tế bào phòng thủ gây ra những kháng thể chống lại tế bào chính mình, trường hợp ở đây là chất myelin của tế bào thần kinh, thì hệ thần kinh, ở đây là tủy sống sẽ bị tổn thương.

2.      Nhiễm trùng trực tiếp : thường do siêu vi, đôi khi do vi trùng bịnh lao (lao cần đặc trị)

3.      Bướu, u (tumor) như ung thư, bướu mạch máu (angioma), xương sống không bình thường đè lên tủy sống. Theo người đọc quan tuyến thì MRI không giống trường hợp do u bướu.

4.      Để phân biệt người ta phải lấy nước tủy sống (CSF, cerebrospinal fluid) và nghiên cứu thêm để tìm nguyên nhân.

Nói tóm lại, có lẽ đây là một trường hợp viêm tủy sống do tự miễn nhiễm (autoimmune), cũng gọi là viêm tủy không biết nguyên do (idiopathic myelitis).

Nếu đúng như vậy, đây là một bịnh rất là hiếm , nhất là ở trẻ em. Phải cả triệu người mới có một trường hợp, cho nên ít bác sĩ chuyên về bịnh này và có kinh nghiệm nhiều về bịnh này. Bởi vậy những giải thích ở trên chỉ có mục đích giúp cho phụ huynh hiểu thêm về loại bịnh này, để cộng tác với bs chuyên khoa (mà có lẽ cần nhiều chuyên khoa khác nhau) lo cho em bé bịnh nhân.

Phụ huynh hỏi về các chữa trị, thì em bé  đang nằm trong một bịnh viện chuyên khoa lớn ỏ Sài gòn, tôi không dám lạm bàn. Chỉ đưa ra vài điểm căn cứ trên các công bố của Đại học John Hopkins là nơi có một trung tâm chuyên về loại bịnh viêm tủy sống này (xem www. Myelitis.org):

1.      Một số khảo cứu dùng những liều corticoid rất cao chuyền tĩnh mạch (very high IV steroid doses) trong giai đoạn mấy tuần đầu, lúc thời cấp tính.

2.      Trong các khảo cứu tổng kết các trường hợp TM ở trẻ em, chừng 20 % sẽ phải bị ngồi xe lăn, không đi đứng một mình được, bị trở ngại đáng kể về tiêu, tiểu.

3.      Chừng 30 % sẽ phục hồi, có thể phục hồi từ từ, qua thời gian 2 năm, và đi đứng, sinh hoạt tốt, hoặc gần như bình thường.

4.      Số còn lại có thể phục hồi khá tốt, với một số vấn đề sót lại về đi đứng, tiêu, tiểu.

Nói tóm lại, sau khi bịnh qua khỏi thời kỳ cấp tính (acute phase), sẽ có một thời kỳ

plateau (palliative) không nặng thêm nhưng không giảm, và sau đó sẽ từ từ hồi phục trong đa số trường hợp. Điểm chính là cần kiên nhẫn, trường kỳ trị liệu bằng khoa vật lý trị liệu, vì thời gian phục hồi kéo dài đến hai năm.

Chúc gia đình em may mắn và kiên nhẫn giúp cho em tai qua nạn khỏi.

 

BS Hồ Văn Hiền

3/24/2009

 

Cháu bé bị phát triển chậm về tâm trí - Mental Retardation

VOA question

Trả lời ông Nguyễn Quang Thật hỏi về cháu bé chậm nói và đi nhón gót, và từng bị một cơn cảm kéo dài.

Trường hợp này do phụ huynh chỉ cung cấp thông tin sơ lược chỉ xin bàn chung mà thôi. Cháu bé bị phát triển chậm về tâm trí , kèm theo dáng đi bất thường, đi nhón gót (toe walking, là một triệu chứng thường gặp ở chứng liệt não/cerebral palsy) và không vững. Theo phụ huynh cháu bị cảm kéo dài trước đây, có thể cơn cảm kéo dài này lien quan đến chứng chậm phát triển của cháu, mà cũng có thể không. Nếu có liên quan, thì ta có thể  nghĩ đến một nhiễm trùng nào đó của hệ thần kinh, làm viêm não (encephalitis) và viêm não gây dư chứng hiện nay. Ở Việt nam, viêm não do virus viêm não Nhật bản (Japanese Encephalitis virus) là một trong những loại nhiễm trùng hệ thần kinh thường gặp nhất, do muỗi cắn truyền qua ở những vùng đồng ruộng. Bịnh này có thuốc chích ngừa được.

Nếu các triệu chứng đã có từ lâu và không phải do nhiễm trùng gần đây thì phải nghĩ đến những nguyên do khác : những yếu tố di truyền, những  nhiễm trùng lúc còn trong bụng mẹ, những khó khăn lúc sanh, những bịnh sau khi sanh nhất là bịnh tuyến giáp trạng (thyroid), ngộ độc các kim loại nặng ( như chì/ lead; tôi nhắc tới chì vì ngộ độc chì phổ biến ở Việt nam đang bị ô nhiễm môi sinh nặng và có thể chữa được )  Tuy nhiên cũng có những định bịnh khác mà chỉ có bs trực tiếp khám cháu mới quyết định được.

Cho nên lời khuyên đầu tiên là nên cho cháu bé đi khám bác sĩ nhi khoa nhất là bs chuyên về thần kinh để đánh giá toàn bộ hoàn cảnh nếu có phương tiện. Có như thế chúng ta mới không để sót những trường hợp mà chúng ta coí thể bỏ qua cơ hội cải thiện bịnh tình của cháu, càng sớm càng tốt.

Chứng phát triển chậm về tâm trí, nhất là nếu nặng, cần sự giúp đỡ của nhiều người, Cần cho cháu đến những trung tâm lớn để thẩm định về trình độ phát triển và có những dịch vụ chuyên môn như dạy nói, dạy những hoạt động căn bản trong cuộc sống để giúp trẻ tự lập, hoặc ít ra tự túc trong những sinh hoạt hang ngày nào đó. Tôi đọc internet thấy ở Sàigòn quận 2 có trường can thiệp sớm  (giống như early intervention program ở Mỹ) cho những trẻ chậm phát triển và khiếm thính.

Cháu đã đi chữa nhiều nơi nhưng không khỏi.

Nếu thật sự các bác sĩ nhìn nhận bịnh như thế không chữa được lành, đề nghị phụ huynh nhìn vấn đề qua một khía cạnh khác. Thay vì tìm cách để chữa hết bịnh, mà điều này có lẽ không thục hiện được, thì điều quan trọng nhất là đừng thụ động bỏ bê cháu, nhất là tránh thái độ “tốt khoe, xấu che”, không cho cháu ra ngoài tiếp xúc với xã hội và do đó, vì không được những kích thích về giác quan, tinh thần  và tri thức sẽ càng ngày càng xuống dốc và thụ động. Ta hãy để công sức tìm những cơ hội giáo dục, huấn luyện  cháu để cháu học  ít lắm những kỹ năng đơn giản cần cho đời sống hàng ngày, dù là cần sự giúp đỡ của gia đình hay người ngoài. Gia đình cũng cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài. Thay vì làm ngơ bất lực trước căn bịnh, cha mẹ cần được hướng dẫn

1.      Tìm hiểu căn bịnh cháu, xem có thể làm gì để cải thiện bịnh tình không.

2.      để dành thì giờ dạy dỗ, nói chuyện, sinh hoạt với cháu,

3.      dạy phát âm, nói, hiểu, tham gia trò chơi với anh chị em, gia đình, bạn bè

4.      ngồi ăn uống đàng hoàng, đi phòng vệ sinh một mình ,

5.      thu xếp nơi ăn chốn ở nếu được lúc cháu có khả năng  sống tự lập ,

6.      cho cháu đi khám định kỳ, chủng ngừa tránh bịnh

7.      theo dõi xem có triệu chứng gì mới để đối phó, trường hợp của em đi nhón gót, có thể các cơ ở bắp chân co rút ngắn lại, có thể cần bác sĩ chỉnh hình khám xem có thể cải thiện được không.

8.      cải thiện những khiếm tật như thị giác, thính giác,

9.       tạo nên một môi trường lành mạnh và phong phú, tạo  những kích thích cần thiết cho sự phát triển tốt của bất cứ đứa trẻ nào phát triển bình thường hay không.

BS Hồ Văn Hiền

2/04/09

 

Bướu mạch máu - Angioma in a 2 week old baby.

Bướu mạch máu( angioma) do những tế bào lót các mạch máu mọc quá nhiều tạo thành một cái bướu.Thường lúc mới sanh thì chưa thấy gì, trong mấy tuần đầu thì xuất hiện một vết đỏ hoặc tím, là chúng ta tưởng lầm là vết trầy trụa lúc sanh hoặc vết bầm. Sau đó vết bẩm sinh này lớn dần và  được bác sĩ định bịnh là bướu mạch máu.

http://www.stronghealth.com/services/childrens/craniofacial/images/Withhem.jpg

Trong năm đầu bướu máu tiếp tục tăng trưởng làm cha mẹ lo lắng, nhất là nếu bướu mạch máu mọc ở mặt nhất là gần mắt ảnh hưởng đến thị giác, ở cỗ hoặc vùng bộ phận sinh dục dễ bị lỡ lói, nhiễm trùng hoặc chảy máu.Tuy nhiên thường qua khỏi 6 tháng đầu tiên, chậm lắm là sau 12 tháng tuổi, bướu mạch máu ngưng tăng trưởng trong một thời gian, rồi từ từ biến mất, có lúc khỏang 3 tuổi, có lúc chậm hơn (chừng 10%) đến 8-9 tuổi mới teo lại. Đa số bướu máu biến đi lúc bịnh nhân được 10 tuổi. Bướu có thể biến mất không dấu vết, cũng có khi để lại một cái thẹo mỡ mềm. Bướu máu cần được phân biệt với một loại vết bẩm sinh khác gọi là biến dạng mạch máu (vascular malformation), nghĩa là những mạch máu biến dạng nằm trong da (chứ không phải là u bướu như bướu máu), màu đỏ sẩm, càng lớn tuổi thì càng đậm đen hơn (ví dụ như vết chàm đỏ trên mặt ông Gorbachev gọi là portwine stain; các vascular malformations này tồn tại suốt đời và tự nó không biến mất trừ ra dùng phẩu thuật hoặc laser) .  

Trường hợp em bé lúc phụ huynh hỏi thì mới 2 tuần, đương nhiên trong những tháng tới , lúc khám lại sẽ thấy to hơn trước. Phụ huynh nên hỏi bs lại cho kỹ, vì đây là một hiện tượng bình thường , và như trên đã nói, cho đến 6 tháng-1 năm trở đi sẽ từ từ nhỏ lại mà không cần chữa trị gì cả. Nhất là nếu giải phẩu, coi chừng chảy máu và nhất là nếu  không có lý do chính đáng.

Trường hợp chảy máy, lấy băng gạt đè lên trên 10 phút để cầm máu. Nếu lở lóet, có thể dung kem , pommade trụ sinh săn sóc và băng lại. Trường hợp bướu máu lớn qúa nhanh, đè lên các bộ phận khác như mắt, tai, miệng, khí quản, người ta có thể dung chất corticoid uống, hoặc chích vào bướu mạch máu cho nó teo lại. Trong một số trường hợp hiếm vì lở loét không lành, chảy máu, hoặc muốn đứa trẻ bớt khổ sở lúc tới tuổi đi học mà bướu lớn làm biến dạng ngoại hình của nó bs có thể quyết định can thiệp bằng giải phẩu hoạc tia laser sau khi cân nhắc lợi hại của các thủ thuật này so sánh với phương pháp để tự nó teo lại tự nhiên.

Hien V. Ho, MD

2/04/09

 

Allergic conjunctivitis/ Viêm kết mạc dị ứng

Trả lời trường hợp bé trai 5 tuổi bị chứng viêm kết mạc dị ứng.

Cháu bị bịnh này sáu tháng nay, đã từng đi khám mắt , thử dị ứng không tìm ra một kháng nguyên nào rỏ rệt gây ra bịnh (allergen). Thuốc nhỏ mắt, thuốc uống chỉ bớt một thời gian ra nắng gió, nhìn TV nhiều thì bị triệu chứng lại. Quá khứ tắt lệ đạo (tear duct obstruction) lúc nhỏ, sức khỏe không tốt lắm, truớc đây có bị suyễn.

Bịnh lý:

Kết mạc (conjunctiva) là một màng tế bào trong (transparent cellular membrane) bọc phía trước mắt ở vùng tròng trắng. Lúc gặp một kháng nguyên (antigen) gây dị ứng gọi là allergen, kháng nguyên này làm các kháng thể IgE kết hợp lại, kích thích các tế bào gọi là mast cell (mast cell degranulation) làm cho  mast cell tiết ra những chất (trong đó có histamin, leukotrienes, protaglandin) gây ra hiện tượng viêm ở mắt. Chúng ta sẽ nhắc đến các mast cell này lúc bàn về thuốc trị viêm mắt dị ứng. Có những người chỉ bị dị ứng theo mùa (SAC, seasonal allergic conjunctivitis) và một số khác bị dị ứng quanh năm (PAC, perennial allergic conjunctivitis), em bé ở đây mới bị chừng 6 tháng, nhưng có lẽ thuộc loại PAC.

Triệu chứng gồm:

·                     đỏ mắt

·                     ngứa mắt

·                     rát mắt (burning)

·                     mờ mắt

·                     ghèn mắt

 

Cách chữa trị gồm có những yết tố chính:

·                     tránh các allergen: vd nếu dị ứng với phấn bông thì không nên đến gần các cây loại đó,

·                     giảm thiểu các allergen (chất gây dị ứng)  trong môi trường sống (allergen load): bớt các đồ lỉnh kỉnh không cần thiết trong phòng có thể thu hút bụi bặm, dùng những loại bao plastic đặt biệt bao gối và nệm lại để các allergen từ gối và nệm không   lọt ra ngoài (hơi đắt tiền, có thể ít hiệu nghiệm); lau chùi, hút bụi kỹ lưỡng, bớt dùng thảm là nơi các con mite là một loại côn trùng li ti hay nẩy nở..

·                     giảm thiểu lông, nước miếng, phân.. do các thú nuôi trong nhà (pet, animal  dander= các vảy li ti của da , lông chim)

·                     ngăn chặn allergen vào nhà, vào xe : đóng cửa kính lại nếu không tránh được, dùng máy lọc không khí (air filters), tùy trường hợp máy điều hòa không khí..

·                     tránh đừng để nhà ẩm ướt, dễ mọc những nấm (fungus) gây dị ứng.

 

Những biện pháp thông thường:

đắp nuớc lạnh trên mắt cho dễ chịu, bớt sưng

dùng nước mắt nhân tạo (artificial tears) để mắt bớt khô, và đồng thời cuốn đi rửa sạch những allergen ra khỏi mắt.  

Những thuốc nhỏ mắt thông thường để ngăn chặn một khâu nào đó của chứng dị ứng. Thuốc không được hấp thụ đáng kể vào cơ thể nên không có phản ứng phụ đáng kể trên toàn cơ thể (systemic side effects)  

Mast cells stabilizers: giúp cho các mast cells được toàn vẹn mặc dù tác dụng của các allergen và IgE. Các thuốc này có khả năng ngăn chặn phản ứng dị ứng trước khi mắt tiếp xúc với allergen, có nghĩa là chúng hiệu nghiệm lúc mình xài thuốc trước khi tiếp xúc với chất gây dị ứng, nghĩa là phải xài đều đặn , không nên đợi có triệu chứng mới dùng thuốc vài hôm rồi ngưng, đợi có triệu chứng lại xài.

Thuốc nhỏ mắt:

Nedocromil (Alocril)

Ketotifen (Zaditor)

Olopatadine (Patanol)

Các thuốc kháng histamin (H1 antagonist)

Azelastine (Optivar)

Epinastine (Elestat) (antihistaminic)

Thuốc kháng viêm mà không phải steroid (ANSAID);

(cho bịnh nhân trên 12 tuổi) để giảm các hiện tượng viêm.

Ketorolac tromethamine (Acular)

1 giọt 4 lần/ ngày.

 

Nếu bịnh nặng, bác sĩ có thể xài những thuốc loại corticoid , tác dụng mạnh hơn, có tác dụng ngăn chặn các nhiện tượng viêm:

Loteprednol  0.02% (Alrex) (tương đối ít tác dụng phụ hơn các corticoid khác)

Loteprednol 0.05% (Lotemax)
Prednisolone (AK-Pred)

Rimexolone (Vexol)

Medrysone (HMS)

Fluorometholone (FML, FML Forte, FML Liquifilm)

Những thuốc này thường bs nhãn khoa mới dùng lúc thấy cần thiết mà thôi, nhất là ở trẻ em , vì phải cẩn thận có thể gây những biến chứng về mắt  nếu dùng lâu dài, như cườm mắt (cataract, tắng nhãn áp (glaucoma) là gây áp suất trong tròng mắt cao lên).

Một số trường hợp, bác sĩ chuyên về dị ứng thử da (skin test) xem những allergen đáng nghi là những chất nào, sau đó người ta chích liều rất nhỏ các allergen đó vào da người bịnh cho cơ thể người đó đần dần quen đi, bớt dị ứng lại.Trường hợp em bé ở đây đã đi khám bs allergy rồi nhưng không phát hiện ra một chất allergen nào có thể là thủ phạm của dị ứng của em nên bs đã không dùng allergy shots cho em được.

 

Tóm lại, bịnh nhân đã khám và định bịnh do nhiều nơi nhiều bs nhiều chuyên khoa khác nhau, xin có những gợi ý sau:

·                     Bịnh dị ứng mắt thường nhẹ, không nguy hiểm, thường có khuynh hướng giảm sau khi đạt cao điểm ở tuổi dây thì.

·                     Nên áp dụng những biện pháp đơn giản để giảm thiểu các allergen trong môi trường như bàn ở trên.

·                     Có thể dùng những thuốc chống allergy thường như loratidin (claritin) 1 muỗng càfê=5cc hoặc zyrtec (2.5 cc) mỗi ngày để bớt các triệu chứng allergy.

Nên biết những thuốc nhỏ mắt bs cho là thuộc loại gì, tác dụng phụ như thế nào, có dùng hàng ngày để ngăn chăn triệu chứng (như loại mast cell stabilizer Patanol, Zaditor) hay chỉ dùng lúc cấp tính (như corticoid) và chỉ dùng ngắn hạn.Nên tránh những yếu tố làm cho em khó chiu mắt như xem truyền hình nhiều, nắng gió, làm chói khô mắt.. Nên tham khảo bs nếu có những triệu chứng đáng lo ngại, hoặc có khả năng nhiễm trùng cầ điều trị thích hợp.

Bs Hồ văn Hiền

12-13-2008

 

Trả lời  trường hợp bé trai 3 tuổi chậm nói và phát âm sai (speech delay and mispronunciations in a 3 year old boy).

Theo phụ huynh thì chúng ta biết sơ lược bé 3 tuổi mạnh khỏe về thể chất, chỉ có chậm nói, thay phụ âm "mờ'  bằng phụ âm "tờ, chờ", và hay phá. Bác sĩ nói em vì lưỡi ngắn nên nói chậm.

Tính theo phát triển trung bình ở Mỹ, trẻ em 3 tuổi thì có ngữ vựng chừng 500 từ trở lên, có khả năng dùng 3-4 từ trong một câu. Trong tiếng Mỹ, thì các cháu biết phân biệt số nhiều số ít (plural), ví dụ 'cat"  và "cats", thi hiện tại với thì quá khứ (present and past tenses) và biết phân biệt "I, me và you" (tôi và anh, con và mẹ). Tiếng Việt thì hơi khác vì chúng ta không phân biệt số ít hay nhiều, không  chia các động từ, ví dụ chúng ta nói: "hôm qua con đi chơi, hôm nay con đi chơi, mai mình đi chơi " cũng giống nhau, ngôi thứ thì phức tạp hơn: đứa bé có thể xưng là "con, cháu", xưng bằng tên (thay vì chỉ “I, me”) và người đối thoại có thể là 'ba', mẹ, cô cậu,..cho nên có thể đòi hỏi khả năng phân biệt nhiều hơn để gọi đúng ngôi thứ. Cha mẹ người Vn rất để ý đến vấn đề xưng hô cho đúng ngôi thứ này nên thường dạy dỗ rất kỹ nhưng trẻ cũng khó hấp thụ và cha mẹ có thể dễ sốt ruột nếu cháu bé không nắm vững được khả năng này vì quá khó. Trẻ 3 tuổi biết trả lời câu hỏi: Của ai (Whose), vd " Cái xe của ai?", ai (who) (vd: con đi chơi với ai?), tại sao (why) (vd; tại sao con khóc?), bao nhiêu (how many)(mấy ? how many?), vd: con có mấy cái kẹo.
Bé 3 tuổi vẫn còn phát âm trât nhiều âm (mispronunciations), như nói con cọp là "con bọp" ( cờ và bờ), và trong trường hợp này bé đọc phụ âm "mờ' thành 'chờ". 

Thường khả năng phát âm (articulation skill) được phát triển hoàn chỉnh ở khoảng 5 tuổi. Lúc 3 tuổi bé có khả năng nói chuyện , đối thoại đơn giản với người lớn và mặc dù những lỗi về phát âm thường gặp, người nói chuyện không phải là người gia đình có thể hiểu hầu hết những gì bé nói, như người Vn chúng ta cũng có câu "thỏ thẻ như trẻ lên ba", mặc dầu 3 tuổi của chúng ta có thể chỉ là từ 2-3 tuổi tính theo kiểu Mỹ. Đến bốn tuổi bé dùng những câu 4-5 chữ với những câu (sentence ) hoàn chỉnh hơn. Ở Mỹ trên 5 tuổi mà vẫn phát âm sai (mispronunciations), bé được giới thiệu tới chuyên khoa về bịnh lý về phát âm và ngôn ngữ (speech language pathologist) để định bịnh và chữa trị nếu cần.

Trường hợp bé ở đây, bs nói là bé lưỡi ngắn (tongue tie= lưỡi bị cột lại) nên nói chậm. Trước đây ở Mỹ người ta cũng tin tương tự như vậy. Dưới lưỡi có một bộ phận nhỏ gọi là frenulum (là cái phanh, cái thắng) là một sợi gân mõng, lưỡi liềm, giữ cái đầu lưỡi xuống sàn miệng. Người ta tin rằng nếu cái frenulum ngắn, bé nói chậm và nhờ bs cắt cái dây này đi, một thủ thuật khá giản dị. Hiện nay, đa số bs không tin vào chuyện này nữa, và cho rằng sự phát triển về ngôn ngữ tùy thuộc về mức phát triển về thần kinh và về sự vận đông phối hợp của các bắp thịt (cơ/muscle liên hệ). Tuy nhiên một số bs ở Nam Triều tiên vẫn còn cắt cái frenulum này hy vọng để trẻ em Triều Tiên lỏng lưỡi, nói tiếng Mỹ cho đúng giọng (!). Nói chung, nếu em bé lè lưỡi ra mà đầu lưỡi đi ra quá răng cửa thì không cần can thiệp. Về trường hợp em bé ở đây, nếu trở ngại chính là em phát âm "mờ" không đúng, thì đây là một phụ âm môi (labial consonant), lưỡi không phải là yếu tố chính. Nếu muốn tập cho em phát âm "Mẹ" thì có thể tập cho em bằng cách cho em quan sát cách mình ngậm môi lại lúc nói "mờ", lấy tay đẩy nhẹ hàm dưới , tay kia vuốt hai má ra phía trước, để miệng em khép lại lúc phát âm "mờ'.

Tóm lại, nếi so với những tiêu chuẩn phát triển nói trên, em không lọt ra xa ngoài múc bình thường,thì vài lỗi phát âm cũng có thể chấp nhận được không có gì đáng lo. Nếu có thể, nên em đến bác sĩ răng hàm mặt hoặc nha sĩ xem có gì bất thường không. Ở Mỹ, những trẻ gặp vấn đề về phát triển (developmental disorders) được giới thiệu đến những chương trình gọi là EI (early intervention program) và được khảo sát , định bịnh và dạy phát âm miễn phí.Ở Việt nam, phụ huynh, cô giáo có thể bỏ thì giờ tập cho em phát âm đúng hơn. Nếu vẫn thấy lo ngại, nhất là nếu có những phát âm sai sau 5 tuổi, nên tham khảo những chuyên viên trị liệu về phát âm tiếng nói (speech therapist) ở những trung tâm lớn về nhi khoa nếu có thể được.
Chúc embé và gia đình may mắn.

BS Hồ văn Hiền
Hien V. Ho, MD

12-11-08

 

Bedwetting (enuresis)

Trường hợp em bé 6 tuổi đái dầm từ nhỏ (primary enuresis).

Theo như phụ huynh thì ngoài bịnh đái dầm, em bé mạnh khoẻ và tăng truởng tốt. Có lẽ chứng đái dầm không có nguyên do bịnh lý rõ rệt, cho nên bác sĩ được tham khảo chỉ cười rồi cho về. Thống kê cho biết 23% trẻ em 5 tuổi vẫn đái dầm, đến 7 tuổi 5-10% trẻ em vẫn còn đái dầm đêm, và hình như ở các nước khác nhau, tỷ lệ cũng tương tự.

Bé ở đây 6 tuổi, vẫn còn đái dầm thì cũng chưa đến nỗi nào.

Nguyên do chưa rõ lắm, nhưng có thể do một hoặc nhiều yếu tố sau đây:

  1. Yếu tố di truyền (chromosome 22); cha hoặc mẹ cũng đái dầm lúc nhỏ.

  2. Có thể hormon gọi là Anti Diuretic Hormone (ADH) ở mức hơi thấp về đêm so với người bình thường.

  3. Bọng đái (urinary bladder) có thể chưa phát triển thể tích bình thường, hoặc bắp thịt của bọng đái co thắt quá nhiều (muscle spasms).

  4. Bịnh nhân ngủ quá mê (sâu), nên không được thức giậy lúc bọng đái báo hiệu đầy nước tiểu, cần thức dậy đi tiểu.

  5. Nhiễm trùng đường tiểu, bất bình thường trong cơ thể học, sinh lý của bọng đáí, bộ phận sinh dục. Thường người ta phân tích nước tiểu (urinalysis) và cấy nước tiểu xem có vi trùng hay không.

  6. Yếu tố tâm lý: như stress, lo âu, sợ sệt , gia đình ly dị, dọn nhà chỗ khác, nhất là những trẻ dậy thì, thanh thiếu niên (teenagers).

 

Nếu khám và thử nước tiểu (urinalysis) bình thường, có thể thử những biện pháp sau:

  1. Uống nước ít lại trước khi đi ngủ.

  2. Tránh ăn nhiều trước khi đi ngủ, vì ăn nhiều cũng làm cho thận làm việc để bài tiết các chất biến dưỡng solutes, tạo nên nước tiểu.

  3. Tránh cà fê, trà, nước soda, nước ngọt có gas (carbonated beverages), làm đi tiểu nhiều.

  4. “Positive imagery: imagine yourself dry”: tự nhũ, tựởng tượng rằng mình sẽ thức giấc mà không ướt quần, sẽ tự thưởng cho mình một cái gì đó nếu thành công.

  5. ‘Bedwetting alarm”: chuông báo động , hơi phiền toái; bắt bịnh nhân phải thức giậy thật nhanh, nếu không được, cần ngườI khác trong gia đình phụ kêu thức dậy ngay. Lúc sensor cảm nhận giường bị ướt. người bịnh phải tắt máy báo động, đi tiểu tiếp và về ngủ lại, dần dần ngườI bịnh thức đi tiểu trưóc khi bị chuông ren vì giường bị ướt, hoặc nín tiểu tới sáng. Nên dùng máy kiên nhẫn ít lắm là ba tháng, đừng bỏ cuộc sớm

 

Figure 1 : Máy báo động (gắn trên vai) sẽ kêu lên và đánh thức bé dậy lúc sensor (màu vàng ) mang ở quần lót cảm nhận quần lót bị ướt (hiệu Malem, chừng 80 dô la)

[http://www.bedwettingstore.com/Bedwetting_Alarms/malem_bedwetting_alarm.htm?color=red]

 

Dùng thuốc: Nếu bịnh nhân thiếu hormon ADH nói trên , môt thuốc nhân tạo có tác dụng tương tự là desmopressin (DDAVP), có thể giúp bớt triệu chứng nhiều ít trong lúc còn uống thuốc, nhưng không chữa lành bịnh.

DDAVP: dạng viên uống (0.2mg), và dạng thuốc xịt vào mũi (nasal spray). Do vấn đề an toàn, hiện nay DDAVP dạng xịt không nên dùng để trị đái dầm nữa. Desmopressin giữ nước lại ,giảm lượng nước tiểu , nên nếu uống nước nhiều quá lúc đang dùng thuốc có thể gây ra ngộ độc nước (water intoxication), hạ muối natri trong máu (hyponatremia), bịnh nhân có thể co giật, đôi khi gây chết người. Bịnh nhân cần giới hạn nước uống (một ly) lúc cơm chiều và lúc ban tối, hai giờ trước khi đi ngủ thì không uống nước nữa. Cho nên, chỉ dùng trong những trường hợp thấy rất cần thiết và cần bs theo dõi, dặn dò. Chỉ dùng cho trẻ trên 6 tuổi. Liều sơ khởi là 0.2 mg buổi tối.

Tóm lại, đối với bé 6 tuổi, không nên la mắng, làm em xấu hổ; nên khuyến khích, kiên nhẫn, áp dụng thử một số phương pháp nói trên thay đổi thói quen (behaviorial approaches) , thay đổi ăn uống nhất là lúc chiều tối, giải quyết các xung đột gia đình,  tình cảm, các hoàn cảnh gây stress, làm như vậy có thể có ích, ngoài ra thì thời gian sẽ là liều thuốc tốt nhất, vì cứ mỗi năm số bé đái dầm giảm chừng 15%.

Nếu sau này,vẫn là một vấn đề quá phiền toái, có thể hỏi bs về cách dùng thuốc chữa trị.

 

BS Hồ Văn Hiền

6-14-2008

 

Jaundice in 2 months old

Vàng da ở trẻ em 2 tháng tuổi, nước tiểu vàng đậm.

Máu của bé cũng như máu chúng ta gốm những hồng cầu (red blood cells), và các hồng cầu này sống được chừng vài tháng (trung bình 120 ngày), phải phá hủy đi và thay thế bằng hồng cầu mới do tủy xương sản xuất. Các hồng cầu cũ này bị phá hủy (hemolysis) thải ra một chất gọi là bilirubin, màu vàng, cần được biến dưỡng qua lá gan (liver). Từ bilirubin ban đầu gọi là unconjugated bilirubin (chưa tiếp hợp) còn gọi là indirect bilirubin (bilirubin gián tiếp), lá gan biến thành bilirubin tiếp hợp (conjugated bilirubin) hoặc bilirubin trực tiếp (direct bilirubin) thi cơ thể mới thải bilirubin trong các ống dẫn mật, theo mật vào túi mật, ra đường tiêu hóa (ruột) và thải ra ngoài được.

Figure 1: Trong Gan (liver), bilirubin đưọc thải ra trong mật. Mật (bile) được dẫn đi từ tế bào gan qua các ống nhỏ, các ống này hợp lại thành ống [dẫn mật] chính của gan (common hepatic duct), ống này đổ vào ống túi mật (cystic duct), đi từ túi mật (gall bladder) để hợp thành ống dẫn mật chung (common bile duct) chảy vào ruột tá tràng (duodenum). Pancreas: Tùy tạng. (hình của Wikipedia)

 

Figure 2 :

Hồng cầu cũ bị phá hủy (hemolysis), sinh ra bilirubin không kết hợp (unconjugated bilirubin), gan biến thành bilirubin kết hợp (conjugated bilirubin) và thải ra hệ thống mật

(biliary system), xong được chuyển qua ruột (small intestine ), theo phân (feces) ra ngoài.

[http://diaglab.vet.cornell.edu/clinpath/modules/chem/images/bilirubin%20metabolism.jpg]

 

Nếu bilirubin gián tiếp (indirect/unconjugated bilirubin) lên quá cao trong máu của em bé, có thể gây tổn hại cho não (hệ thần kinh) của bé (brain damage). Phototherapy, là dùng ánh sáng trị liệu, là cho các photon của ánh sáng tác động lên bilirubin gián tiếp (indirect bilirubin) làm cho nó biến thành một chất isomer (chất đồng phân) gọi là lumirubin, lumirubin có thể thải ra ngoài qua mật và nước tiểu mà không cần gan biến dưỡng thành birirubin trực tiếp.

Nếu

  1. bilirubin được sản xuất ra nhiều quá

  2. bilirubin không được kết hợp (conjugated) đúng mức vì gan yếu hoặc bịnh

  3. nếu các ống dẫn mật bị nghẽn

thì bilirubin sẽ bị ứ đọng trong máu, nồng độ tăng cao, máu lưu thông dưới da, bình thường thì làm da có màu hồng, bilirubin trong máu làm cho da có màu vàng, gọi là bịnh vàng da (jaundice), trước đây tiếng Việt gọi là hoàng đãn.

Ở trẻ sơ sinh các hồng cầu này tương đối có lượng lớn hơn (căn cứ trên cân nặng), cần được thay thế nhanh chóng bằng những hồng cầu mới thích hợp với cuộc sống mới ngoài bụng mẹ, nên bilirubin được sản xuất rất nhiều, gan phải làm việc nhiều trong lúc gan còn non nớt.

 

Sau khi bé chào đời, nếu bị vàng da, có thể có một hoặc nhiều trong số bốn nguyên nhân sau đây:

1)      vàng da sinh lý (physiologic jaundice). Trẻ bị vàng da sau khi sanh được một hai ngày và mức vàng nhất lúc 3-5 ngày. Nguyên do là máu bé thay đổi sau khi chào đời và như trên đã giải thích, lá gan thanh toán lượng bilirubin không kịp thời, bilirubin gián tiếp (indirect bilirubin) tăng trong máu làm vàng da. Trẻ  Á đông (như VN, Trung Hoa), trẻ sinh thiếu tháng, dễ bị vàng da hơn các trẻ khác.

2)      vàng da bịnh lý (pathologic jaundice) thường xảy ra nội trong 24-48 giờ sau khi sanh. Lý do thường gặp nhất là do không tương hợp (incompatibility) giữa máu mẹ và máu con. Ví dụ người mẹ nhóm máu O, nếu người con máu A hoặc B, các kháng thể chống A hoặc B từ máu người mẹ có thể phá hủy một số hồng cầu (hemolysis) của người con, tạo ra một lượng bilirubin lớn trong máu , làm đứa bé vàng da. Một nhóm máu khác là nhóm Rhesus, nếu người mẹ không có kháng nguyên nhóm này (mẹ Rh negative) và có bầu em bé mang kháng nguyên Rh (antigen Rh positive), cơ thể mẹ sẽ sinh ra kháng thể  chống Rh (Rh antibodies). Đến kỳ có thai lần kế tiếp, nếu em bé Rh dương, kháng thể Rh của người mẹ sẽ tấn công các hồng cầu em bé này, và gây bịnh rất trầm trọng, có thể chết được. Bịnh Rh bất tương hợp (Rh incompatibility) giữa mẹ và con may thay, phần đông xảy ra ở người da trắng, hiếm khi thấy ở người Vn. Bịnh này có thể ngừa được.

3)      Vàng da cho bú mẹ; (breastfeeding jaundice), lúc bé chừng 7-10 ngày. Do sữa mẹ không đủ khối lượng, bilirubin đã được chế biến qua gan không được bài tiết qua đường ruột kịp thời nên bé vàng da. Khi lượng sữa mẹ tăng lên, bé sẽ bớt vàng.

4)      Phân biệt với vàng da do sữa mẹ (breast milk jaundice, BMJ), thường xảy đến chậm hơn, cho những trẻ bú sữa mẹ, và có thể kéo dài hàng tháng. Nguyên do chưa hiểu rõ lắm, có lẽ sữa mẹ có chất  là chậm lại sự biến dưỡng của bilirubin. Thường, rất hiếm khi thấy loại vàng da do sữa mẹ (BMJ) có tác dụng xấu nào trên sức khỏe đứa bé.

Ngoài ra, trong những trường hợp rất hiếm, bé có thể vàng da kéo dài do tắc nghẽn, tịt những ống dẫn mật trong gan (biliary atresia), bilirubin vẫn được tiếp hợp (conjugated) thành direct bilirubin, nhưng vì ống dẫn mật (biliary ducts) bị nghẹt, tắc,  muối mật không đi đến túi mật (gall bladder) không thải được ra đường ruột ra phân được. Do đó mức bilirubin trực tiếp lên cao trong máu, làm da vàng, thận cố gắng thải bilirubin ra ngoài, nước tiểu cũng vàng đậm nhưng phân thường lại trắng vì không có mật trong ruột (acholic stools, clay-colored stools) .

 

 

Figure 1 : Anatomical types of biliary atresia

Type 1 (3%): Atresia limited to common bile duct

Type 2 (6%): Cyst in the liver hilum communicating with "hairy" intrahepatic bile ducts

Type 3 (19%): Gallbladder, cystic duct and common bile duct patent

Type 4 (72%): Complete extrahepatic biliary atresia

[http://www.md.ucl.ac.be/pedihepa/BILIARYATRESIA.htm]

 

Trong trường hợp em bé đang bàn ở đây, vì rất ít dữ kiện nhưng chúng ta biết em đã hai tháng mà:

·         Vẫn vàng da sau hai tháng

·         bú kém

·         không có vẻ mạnh khỏe

·         nước tiểu vàng

1)      nên chúng ta phải rất dè dặt, phụ huynh nên đem em đến một bác sĩ nhi khoa càng sớm càng tốt. Nếu lạc quan nhất thì chúng ta có thể nghi là em bị vàng da do sữa mẹ (BMJ) và nếu đúng như vậy dự hậu tốt. Nếu muốn, mẹ em có thể ngưng cho bú sữa mẹ  một hai ngày, và sau đó cho bú sữa mẹ lại, xem có đỡ không.

2)      Tuy nhiên điều đáng quan tâm ở đây là em bé không khoẻ, và nước tiểu rất vàng. Bác sĩ cần nghiên cứu khả năng em có dấu hiệu của biliary atresia không, tuy đây là một bịnh khá hiếm.

3)      và em có bị viêm gan (hepatitis) hay không.

 

Hai trường hợp này đều cần điều trị gấp và theo dõi kỹ lưỡng. Một bước đầu là xem phân em màu gì, nếu phân trắng như đất sét, phải nghĩ đến biliary atresia (tịt , nghẽn ống mật), khám xem gan có lớn không,  thử máu em bé xem bilirubin của em thuộc loại nào, bao nhiêu phần trăm là bilirubin trực tiếp (direct bilirubin), nếu bilirubin trực tiếp cao (trên 20%) tổng số bilirubin, phải nghĩ đến tịt ống mật.Bịnh này cần giải phẩu mới trị được. Người ta dùng một khúc ruột để dẫn mật từ gan qua ruột ( Kasai procedure). Nếu, bị nghẽn ngay trong gan, thì không chữa được theo lối này. Một số phải ghép gan (liver transplant). Nói chung phải chữa sớm trong vòng 2-3 tháng đầu, để lâu, mật ứ trong gan làm xơ (cirrhosis), hư hại gan.

Mong cha mẹ em  cho em đi khám gấp và chúc mọi người may mắn.

 

BS Hồ Văn Hiền

14 tháng 6 năm 2008

 

Absence epilepsy (petit mal)

Trả lời bà Trần Thu Hà, ở Thái Bình.

Cảm on bà Hà đã cho những chi tiết rõ ràng về định bịnh cũng như thuốc men. Tôi đoán con trai 9 tuổi của bà đã được bác sĩ thần kinh khám và điều trị cẩn thận.

Tôi chỉ xin trình bày một ít kiến thức căn bản về bịnh này để chúng ta cùng học hỏi thêm và sau đó có vài điểm gợi ý cho trường hợp con bà Hà.

Động kinh cơn vằng, dịch từ  Absence seizures, hoặc absence epilepsy , trước đây thường gọi là “petit mal” (nghĩa đen là cơn bịnh nhỏ). Trong bịnh này, người bịnh thường là trẻ em từ 4 đến 12 tuổi (ít khi trẹn 20 tuổi), cơn động kinh , mặc dù có chữ động, khá đơn giản, người bịnh mất ý thức (impaired consciuousness) trong một khoảng thời gian ngắn, thường là vài giây đồng hồ như trường hợp đang bàn ở đây. Dù là đang ngồi học, hoặc đang đứng chơi, cháu bé bổng nhiên nhìn trống vắng vào không trung (stares vacantly), không nói ra tiếng, có vẽ như không nghe người khác nói gì cả . Rồi đột nhiên cháu tỉnh trở lại, làm tiếp việc mình đang làm, như viết, chơi, có lúc cháu vẫn tiếp tục chạy ngay lúc cơn trống vắng xảy ra. Tuy nhiên trong ý thức của cháu , đã có một sự gián đoạn, tức la 2cháu đã mất một phàn nào ý thức về thế giới bao quanh trong một khoản thời gian dù ngắn, mặc dù là nhìn từ bên ngoài do một cơ chế tự động (automatism) có vẽ như không có gì xảy ra. Bịnh nhân có thể bị những cơn này 50-100 lần một ngày mà người ngoài không thấy, nhiều khi lầm tưởng là cháu mắc chứng thiếu chú ý (attention deficit disorder), hay mơ mộng, hoặc buồng ngủ, lười biếng, nên la rầy, hoặc định bịnh sai.

Nói tóm lại, ngoài những cơn vắng này đôi khi khó nhận ra, chỉ không tới 50% là kèm theo  chứng động kinh co giật thật sự (tonic clonic seizures).

Não điện đồ cho thấy những thay đổi đặc trưng của bịnh này: sóng não chậm với những mũi nhọn (spikes, dáng như tháp chuông nhà thờ, đồng nhịp với nhau, đối xứng , và có ba (3) mũi nhọn trong một giâ đồng hồ (synchronous, symmetrical 3 Hertz spikes and slow wave pattern) .

Figure 1 (http://professionals.epilepsy.com/img/absence_eeg2_s.jpg)

 

Trong câu hỏi, chúng ta không nghe nói điện não đồ bịnh nhân như thế nào. Điểm này quan trọng vì đây là y