Trả Lời Thính Giả

 

 

Trường hợp bé 3 tuổi,  chẻ vòm họng đã giải phẩu, lưỡi gà còn chẻ:

(3 year-old girl with repaired cleft palate; bifid uvula)

Câu hỏi:

Con gái tôi năm nay đuọc 3.5 tuổi. Cháu bị chẻ vòm họng nhưng không bị sứt môi, khi cháu đựoc 15 tháng tôi đưa cháu đi vá lại vòm họng (tàu của Mỹ vào Nha Trang năm 2008), nhưng lưỡi gà vẫn còn chẻ đôi và vòm họng phía trên gần mũi vẫn còn một đường rãnh nhỏ không sâu lắm và một lỗ nhỏ bằng hạt đậu mà tôi nghĩ chỗ đó thông với mũi , bởi vì thỉnh thỏang tôi thấy sữa vẫn chảy từ mũi ra. Tháng 8 /2009 tôi đưa cháu đến bệnh viện Răng hàm mặt trung uơng TPHCM kiểm tra theo chương trình của tổ chức Operation Smile. Sau khi khám và nghe tôi trình bày (bởi vì do số lượng các cháu bị dị tật này rất là đông nên bác sĩ không bao quát đựoc hết). Con tôi đựoc sắp xếp cho vá và tạo hình luỡi gà. Đến ngày thứ năm kể từ ngày mổ , luỡi gà bung chỉ và chẻ ra làm đôi rộng hơn. Một bên lữoi gà bị chẻ mất đi một miếng thịt nên bây giờ bên ngắn , bên dài. Vợ chồng tôi suy sụp vì nghĩ rằng lưỡi gà mà bên ngắn bên dài như thế thì làm sao có cơ hội vá lại đựoc. Bé nói ngọng chữ C và N ,vợ chồng tôi dành mọi thời gian để tập luyện cho cháu + cầu nguyện mong có một phép nhiệm màu. Thế rồi cháu phát âm đựoc chữ C , con chữ N thì khi nói nhanh còn hơi ngọng chút ít nhưng toi nghĩ cố gắng tập luỵen se khỏi. Vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm.
 
Nhưng có điều này xin các bác sĩ tư vấn giúp tôi là bây giờ tôi có nên đưa cháu đi vá lại lữoi gà hay không. Nếu vá thì vá vào lúc nào thì phù hợp với cháu ( có nghĩa là nên vá vào lúc mấy tuổi). nếu cháu không vá thì có ảnh hưởng gì sau này không.
Khe hở cạn ở vòm trên họng và lỗ nhỏ bằng hạt đậu không vá lại có gây ảnh hưởng về tai mũi họng cho cháu sau này không (như hôi miệng, hay viêm mũi )
 
Tôi sợ cháu chụp thuốc mê nhiều lần sẽ ảnh hưởng tới thần kinh hay trí nhớ sau này.

BS Hiền  trả lời:

Vòm miệng (palate)  là một bộ phận quan trọng cho việc ăn uống và phát âm. Nếu ta lấy ngón tay rà trên vòm miệng, ta sẽ thấy phần trước cứng (hard palate) vì có xương ở dưới niêm mạc, xong ra phía sau thì vòm miệng mềm (soft palate), và cuối cùng có cái lưỡi gà  (uvula) nhỏ thòng xuống. Nếu vòm miệng không nguyên vẹn, thức ăn chạy ngược lên mũi , lúc nói, không khí trong miệng xì lên mũi  và người bịnh không phát âm được những âm cần áp suất trong không gian miệng và cần lưỡi chạm lên vòm miệng (âm C, N).

File:Tonsils diagram.jpg

Figure 1 : Vòm họng mềm (soft palate) và lưỡi gà (uvula)

(Nguồn:  Wikipedia)

Trước hết , tôi xin ngợi khen cách trình bày bịnh sử, những cố gắng mà phụ huynh đã thực hiện trong hoàn cảnh thiếu thốn phương tiện để thực hiện được những tiến bộ đáng kể trong việc chữa bịnh cho cháu. Ở Mỹ, là nơi giàu phương tiện và chuyên khoa, thường việc săn sóc cho những trẻ chẻ vòm họng cần đến một e kíp chuyên gia mà ba chuyên gia chính là bác sĩ tai mũi họng (hoặc bs tạo hình, plastic surgeon), chuyên gia về ngôn ngữ và phát âm (speech and language pathologist) và bs nha khoa chuyên về răng hàm mặt. Ngay trong những điều kiện lý tưởng, vẩn có một tỷ lệ nhất định các cháu sau khi giải phẩu và trị liệu vẫn bị trở ngại phát âm một số từ (ví dụ đọc “bờ” thành ra “mờ” vì phụ âm”mờ” không cần đến phần sau họng) vì không ngăn cản không khí trong miệng đừng thoát lên mũi lúc cần phát âm một số âm thanh. Từ khoa học là velopharyngeal dysfunction (VPD) , nghĩa là loạn cơ năng vòm miệng-họng, rối loạn trong việc kiểm soát, trong việc điều khiển phần mềm của  vòm miệng phía sau (soft palate) và hầu (họng, pharynx) để chặn không cho không khí từ miệng thoát lên trên mũi lúc cần. Phụ huynh đã tập cho cháu nói được những phụ âm C và N như vậy thật đáng khen.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/16/Cleftpalate.jpeg

Figure 2 : Bé sơ sinh bị chẻ vòm miệng (cleft palate)

(Nguồn: Wikipedia commons)

Đề nghị phụ huynh nên tiếp tục dành thì giờ hơn nữa để  nói chuyện, dạy cho cháu phát âm chuẩn vì nay cháu 3 tuổi và đang ở giai đoạn phát triển ngôn ngữ rất nhanh, trong thời kỳ trước khi cắp sách đến trường học. Những trẻ hở vòm họng hay bị chậm về phát triển ngôn ngữ nên cần phụ huynh đầu tư công sức, thì giờ nhiều hơn.

Lưỡi gà (tiếng Anh gọi là uvula) của em vẫn còn chẻ ra làm đôi, và mất miếng thịt một bên sau vụ mổ thứ nhì. Phụ huynh hỏi không biết cần vá lại hay không, sau khi vá một lần thất bại. Tôi không phải là bác sĩ giải phẩu và đưong nhiên bác sĩ giải phẩu của em là người khám cháu và quyết định từng trường họp.

Tuy nhiên, xin có một số nhận xét sau:

·         Uvula hoặc lưỡi gà đóng vai trò tương đối nhỏ trong sự phát âm. Có khi uvula trách nhiệm một phần trong hiện tượng vòm-họng hở (VPD), không đóng kín, như nói trên ( nghĩa là phát âm có nhiều giọng mũi (hypernasal), vì không khí miệng xì lên mũi). Nhưng ngay trong trường họp này, chữa trị và định bịnh cũng khó, có nhiều phương cách giải quyết (như trị liệu phát âm, speech therapy), không nhất thiết là phải may uvula lại thì kết quả tốt.Nên tham khảo chuyên viên nói và ngôn ngữ trước khi quyết định.

·         Nếu cháu nói được đa số các từ kể cả phụ âm C và N, chắc giải phẩu uvula không đem lại ích lợi gì thêm.

·         Theo như tôi biết, khe hở nhỏ trên vòm miệng (oronasal fistula, ONF)  không gây biến chứng tai mũi họng gì nguy hiểm: tuy thức ăn có thể xì lên mũi và nói giọng mũi nhiều (hypernasal). Những kết quả công bố cho biết nếu giải phẩu cũng sẽ thất bại (bịnh tái lại) trong 25%.

·         Có những khảo cứu gần đây (2009) cho thấy trẻ con bị gây mê nhiều lần trước 4 tuổi có thể liên quan đến tỷ lệ học hành khó khăn (learning disabilities) tăng gấp đôi.

·         Cho nên, tôi thiết nghĩ, sự ngần ngại của phụ huynh là có cơ sở và nhất là việc vá lại lưỡi gà (uvula) có thể xem như không cần thiết lúc này.

·         Tuy nhiên, các trẻ em bị chẻ vòm họng thường dễ bị nhiễm trùng tai giữa (middle ear infection) hơn các trẻ khác.

·         Nên chú ý đem em khám bs chuyên môn để xem em có thính lực bình thường hay không và chữa bịnh tai kịp thời nếu có.Trẻ bị nhiễm trùng tai thường xuyên không theo dõi kỹ, làm mất khả năng nghe, trẻ có thể phát âm bất bình thường vì nghe không rõ.

·         Cần cho em khám bs nha khoa để xem răng có mọc đầy đủ, hàm có ngay ngắn không vì các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến khả năng nói.

·         -Ngoài ra, ở các trẻ em bình thường, không phải là hiếm khi chúng ta gặp những trẻ có lưỡi gà chẻ làm đôi (bifid uvula), phần đông không cần chữa trị gì. Tuy nhiên, bs cũng luôn nhớ rằng, nhiều  khi, lưỡi gà chẻ đôi có thể là dấu hiệu của chứng chẻ vòm họng tiềm ẩn (occult cleft palate) hoặc là một triệu chứng trong một hội chứng , kèm theo chứng bịnh ở bộ phận khác. Như trường họp hội chứng Loeys Dietz Syndrome thì  bịnh nhân còn chứng nở  đại động mạch  (aortic aneurysm), nhưng đây là một  bịnh hiếm, ngoài lãnh vực câu chuyện hôm nay.Ngoài ra nếu lưỡi gà chẻ đôi, thuờng bs tai mũi họng tránh giải phẩu nạo cắt adenoid hoặc amiđan vì sợ hội chứng rối loạn cơ năng vòm -họng (VPD).

 

Chúc gia đình và bịnh nhân may mắn.

 

BS Hồ Văn Hiền

(Hien V. Ho, MD)

June 21, 2010

 

Tế bào gương và chứng tự kỷ (Mirror Neurons and Autism).

BS Hồ văn Hiền

 

Trong một cuộc nghiên cứu hệ thần kinh của con khỉ ở Ý, người ta cho con khỉ làm một số việc nào đó đồng thời người ta đo dòng điện phát ra từ các  tế bào thần kinh riêng rẻ trên vỏ não của nó . Nhà khảo cứu Giacomo Rizzolatti và cọng sự viên thấy mỗi lần con khỉ cử động cánh tay nó để lấy thức  ăn thì có một số tế bào thần kinh trong vỏ não trán (premotor cortex) và  vùng xương đỉnh (inferior parietal lobe) nó được hoạt hóa (activated).Sau đó, điều ngạc nhiên là ngay lúc con khỉ chỉ nhìn người khác làm động tác trên, cũng những tế bào đó sẽ được hoạt hoá, y như lúc chính nó làm động tác đó vậy. Có nghĩa là có một nhóm tế bào thần kinh trong đầu con khỉ đóng vai trò cái gương (kiếng soi, mirror) phản ảnh lại, hoặc bắt chước những động tác mà mắt nó theo dõi trên sinh vật khác. Những tế bào này, được gọi là “mirror neuron”, tế bào thần kinh gương”,  xoá nhoà biên giới giữa “làm” và “ thấy”, giữa “hành động” và “thụ động”. Chúng ta nhìn một người khác cười, trong bộ óc của chúng ta cũng có một nhóm tế bào neuron cũng “ cười” theo (nghĩa là những tế bào phụ trách động tác cười cũng được hoạt hóa, “cười trong bụng’ hay “cười thầm” như chúng ta thường nói trong tiếng Việt, tuy trên mặt chúng ta không cười thật sự). Lúc nhìn người khác khóc, nhăn nhó, mếu máo, trong đầu chúng ta cũng có một số tế bào “làm” theo như vậy, mặc dù ngoài mặt chúng ta không khóc, không biểu lộ cảm xúc. Do đó, giả thuyết được đưa ra gần đây là các mirror neuron đóng vai trò quan trọng trong việc bắt chước, và học tập. Em bé mới chào đời, mắt thấy chưa xa lắm, chỉ gần thôi, đủ để thấy và nhận ra mặt mẹ nó, nhưng nếu ta lè lưỡi cho nó thấy, đợi vài giây đồng hồ, nó sẽ bắt chước được, lè lưỡi nó đáp lại. Có lẽ đó là do các mirror neuron của bé làm việc, vì trẻ sơ sinh không có khả năng phân tích xem động tác lè lưỡi của ta rồi từ đó vận động từng bước miệng môi và lưỡi nó để bắt chước một cách có ý thức (giống như người lớn chúng ta bắt chước uốn lưỡi lúc phát âm một tiếng ngoại ngữ, thật khó khăn). “Cơ chế tế bào thần kinh gương” gồm những vùng phụ trách thị giác (tempral, parietal, occipital visual areas) và hai vùng vận đông (motor area) của vỏ não trán và đỉnh (frontal and parietal cortex).[1]

The mirror neuron system and the consequences of its dysfunction

Hệ thống tế bào gương (Human Mirror Neuron System/MNS, mảu đỏ ) trên vỏ não vùng trán ( Premotor cortex, PMC) và đỉnh (parietal). Vùng trán phụ trách về mục đich của  động tác (ví dụ đưa tay ra nắm cái ly để uống nước khác với đưa tay ra nắm cái ly lúc dọn dẹp) trong lúc vùng vách phụ trách về mô tả động tác . Vùng màu vàng ở thái dương (Superior  Temporal Sulcus, STS)  là nơi xuất phát các tín hiệu thị giác (nhìn) cung cấp cho hệ thống tế bào gương.(theo Nature.com)

http://www.nature.com/nrn/journal/v7/n12/fig_tab/nrn2024_F1.html#figure-title

 

Trong giao tiếp xã hội hàng ngày, ngoài những lời nói, chúng ta “hiểu” người khác bằng cách nhìn những cử chỉ, dáng điệu, điệu bộ, cái “tướng”  của người đó, tiếng Anh gọi là “body language”. Vì mirror neuron vừa phụ trách cả cái mình “nhìn” ( chúng phản ảnh lại cái mình đang thấy) và cái mình “làm” (chúng được hoạt hóa theo động tác của bản thân), chúng là nhịp cầu giúp mình “thông cảm” được những động tác của người khác, ý nghiã và những cảm xúc đi kèm theo những động tác đó. Tôi thấy anh môi nở nụ cười, những mirror neuron phụ trách “cười” trong đầu tôi cũng được hoạt hóa , tôi cũng “cười trong bụng”, và vì mirror neuron của tôi được nối liền với bộ phận  khác trong óc (anterior insula) phụ trách về tình cảm, tôi sẽ hiểu một cách trực giác là anh cười vì vui, và tới một mức nào đó, tôi vui “cùng với anh”.

Do đó, một thuyết được đưa ra là mirror neuron giúp cho ta ý thức về sự hiện hữu của người khác, là những kẻ cũng có một cái “ngã” cái tôi riêng của họ, giống nhứ cái “tôi”, cái “ngã” của chính mình. Đến một giai đoạn phát triển nào đó , đứa trẻ biết rằng chính nó có cảm giác vui buồn, ý muốn, có sở thích,thì  người khác cũng có những cảm giác, ý muốn, sở thích của học, họ cũng có ‘tâm trí “, “đầu óc” (mind) như mình có ‘đầu óc’ của mình, khả năng ý thức về sự hiện hữu của đầu óc người khác đó gọi là   “theory of mind”(tạm dịch “thuyết về tâm trí ”). Sự hình thành của lương tâm cũng tùy thuộc và khả năng này.

Những đứa trẻ bị bịnh tự kỷ (autism), ngoài thiếu sót về khả năng ngôn ngữ, còn bị khiếm khuyết trong khả năng “thấu cảm “(empathy) tức là cảm thông  với những cảm xúc, cảm tình của người khác, do đó chúng bị trở ngại trong giao  tiếp và trong sự thích ứng với lối sống, lối hành sử của xã hội chung quanh nói chung. Thuyết về các tế bào thần kinh gương có thể giải thích phần nào những triệu chứng như sự tự cô lập (isolation) và thiếu đồng cảm của người bịnh autism (chứ không giải thích toàn bộ bịnh autism). Người ta nhận thấy ở những bịnh nhân này hệ “mirror neuron” hoạt động kém hơn ở những người bình thường, và đó có thể là lý do làm người bịnh có một “theory of mind” thấp kém (tùy theo mức độ nặng nhẹ, trong quang phổ từ nặng đến nhẹ của cái gọi là “ phổ tự kỷ”. autism spectrum), làm cho người tự kỷ không hiểu được tình cảm, tâm trạng cũng như tâm tư của người khác. Hy vọng trong tương lai không xa, hiểu biết về mirror neuron có thể giúp định bịnh chứng tự kỷ khách quan hơn và sớm hơn, cũng như giúp cải thiện khiếm khuyết về thấu cảm và tương quan xã hội nơi người mắc chứng tự kỷ.

Bs Hồ Văn Hiền.

(Hien V, Ho, MD)

Ngày 9 tháng 6 năm 2010



[1] Hardwired behavior: what neuroscience reveals about morality

 By Laurence R. Tancredi

 

Autism and acupuncture.

Chứng tự kỷ và châm cứu.

Tôi xin trả lời  câu hỏi với tư cách một bác sĩ tây y tìm hiểu về những khảo cứu  y học  liên hệ đến vai trò châm cứu trong trị liệu của bịnh tự kỷ. Tôi không hành nghề châm cứu và không phải là   thầy thuốc đông y. Ngoài ra, tuy về lý thuyết , đông y đặt cơ sở trên thuyết âm dương, ngũ hành, huyệt đạo là những điều chưa được tây y công nhận, kết quả lâm sàn của một số thủ thuật, thực hành như châm cứu đã được các bác sĩ tây y nghiên cứu và công nhận có giá trị trị liệu thực tiển, đặc biệt tronh lãnh vực chữa trị đau nhức và một số rối loạn của não bộ.

Bịnh tự kỷ là một bịnh bao gồm những triệu chứng chính sau đây thường biểu lộ, xuất hiện trong ba năm đầu đời và sẽ tồn tại suốt đời:

1.      Rối loạn về ngôn ngữ cũng như cách phát biểu bằng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ 

2.      Rối loạn về giao tiếp xã hội, về cách tương tác với người khác, những rối loạn này ảnh hưởng đến việc học tập.

3.      Những hoạt động hoặc động tác lập đi lập lại (repetitive activities and stereotypic movements)

4.      Khó khăn trong sự thích ứng với tình huống mới, không chịu thay đổi, dù là chi tiết nhỏ nhặt.

5.      Phản ứng một cách khác thường đối với những kích thích như âm thanh, mùi vị,..

6.      Khả năng suy nghĩ bị thiếu sót nhất là về khả năng nhìn khiá cạnh bao quát của một vấn đề, quá chú trọng về nghĩa đen của các từ, thiếu khả năng nhận ra ý nghĩa tượng trưng của một câu chuyện, thiếu óc tưởng tượng.

Theo BS Virginia Wong của Đại học Hongkong, mặc dù đã được thực hành mấy ngàn năm, trong đông y không nói đến bịnh tự kỷ. Y học Trung quốc chỉ nói đến hội chứng “năm chậm’: chậm mọc tóc, chậm nói, chậm mọc răng, chậm đứng và chậm đi, bao gồm các bịnh chậm phát triển, bịnh liệt não, bịnh tự kỷ…. Khái niệm về bịnh tự kỷ chỉ mới du nhập vào y học cổ truyền Trung quốc trong mười mấy năm gần đây và tên gọi ở Đài Loan và Hong Kong là “hội chứng tự phong toả, bế tắc” (self shut off syndrome), trong lúc ở Hoa lục lại gọi là ‘hội chứng cô đơn” . Theo BS Wong, cái lưỡi rất quan trọng để định bịnh tự kỷ, vì lưỡi là bộ phận duy nhất nằm trong cơ thể, một loại nội tạng (internal organ) mà ta có thể quan sát trrực tiếp được.Cho nên bs đông y xem lưỡi dày mỏng, khô ướt, mùi ra sao để chẩn đoán. Ngoài ra vì lưỡi được xem như nối liền với tim mà tim thì được y khoa truyền thống Trung quốc xem như bộ phận điều khiển hết mọi bộ phận khác .Ngoài ra lưỡi là nơi gặp nhau của 14 kinh mạch (meridian) trong cơ thể. Cho nên theo đông y, thì lưỡi là con đường đẫn đến các bộ phận khác trong cơ thể. Chúng ta nêu lên những điểm trên để thấy cách suy nghĩ và suy luận đưa đến trị liệu của đông y khác với tây y như thế nào.

Từ đó bác sĩ đông y Sun GJ, từ Trung Quốc phát minh ra phương pháp châm cứu lưỡi để trị chứng tự kỷ. Bs Wong , giáo sư y khoa, và Bs Sun nghĩ rằng trên lưỡi có đến trên 40 huyệt (acupoints), những huyệt này nối liền với những vùng trong óc, nhất là tiểu não (cerebellum), là những vùng phụ trách về hiểu biết, chú ý, ngôn ngữ (cognition, attention, language) mà MRI và PET scan cho thấy có thể liên hệ đến các triệu chứng của bịnh tự kỷ.

 Năm 1999, Bs Wong thực hiên một chương trình kết hợp Dông Tây Y khảo cứu việc chữa trị một số 700 trẻ em bị bịnh thần kinh hoặc bịnh rối loạn phát triển , trong đó có 250 trẻ bị chứng tự kỷ. Các trẻ được châm cứu lưỡi 5 ngày mỗi tuần và trong 4-8 tuần. nói chung , theo BS Wong , các trẻ em có cải thiện ở nhiều mức khác nhau, tùy theo bịnh nặng nhẹ, tùy theo tuổi. Những triệu chứng như chảy nước giải (drooling), co rút (spasticity) , mất phối hợp các cơ (ataxia) thường cải thiện sớm chỉ sau vài lần châm cứu.Bs Wong đưa giả thuyết là qua châm cứu lưõi, các kích thích đi vào tiểu não, và từ đó có thể tái lập circuit nối tiểu não với vùng trán, thái dương của võ não, làm thức dậy những khả năng tiềm ẩn ở bịnh nhân tự kỷ, làm cho người bịnh dễ tiếp thu những biện pháp giáo dục cũng như những phưong pháp trị liệu khác như ngôn ngữ trị liệu (speech therapy) và trị liệu tập tính (behaviorial therapy).. Tóm lại, châm cứu lưỡi được đề nghị như là một loại trị liệu phụ (adjunctive therapy) co thể bổ túc cho các trị liệu khác, và cũng như BS Wong nói, vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời, cần khảo cứu them, nhất là cần xem có thể thiết lập một bản đồ của cái lưỡi hay không, xem huyệt nào trên lưỡi tương ứng với  vùng nào trong óc (brain topography).

Theo một bản tin đài BBC năm 2001, Bs Wong đã trình bày một số kết quả của châm cứu lưỡi đố với bịnh tự kỷ; Hành vi , khả năng truyền đạt (communication), chỉ số thông minh của chúng được cải thiện. Chúng vẽ tốt hơn, nhiều óc tưởng tượng hơn,viết chuyện có đầu đuôi hơn và có sang kiến hơn”. Tuy nhiên bà cũng công nhận là châm cứu chỉ cải thiện các triệu chứng, chứ không trị gốc bịnh. Đấy là năm 2001, mấy  năm qua, tôi không biết các khảo cứu này có kết quả gì mới chăng.

Trên đây là một trong những  phát hiện mới  về châm cứu trong trị liệu chứng tự kỷ được y giớo chú ý và công nhận. Có những áp dụng khác như châm cứu trên da đầu (vì trẻ không cọng tác nằm yên), chấm cứu bằng cách chôn  chỉ catgut (chỉ may tự hủy) vào các huyệt ,được nhắc đến và ca ngợi  trong một số bài báo tiếng Việt. Tuy nhiên tôi không biết giá trị khoa học đích thực của các giai thoại này như thế nào. Mong rằng thính giả sẽ dùng những tin tức trình bày hôm nay như là khởi điểm để tự mình học hỏi thêm.

Chúc bịnh nhân và gia đình may mắn.

Bs Hồ Văn Hiền

7 tháng 6 năm 2010

 

Bàn chân vẹo (club foot (Anh), pied bot (Pháp), congenital talipes equino varus, CTEV)

Chân vẹo là một dị dạng bẩm sinh của bàn chân, tuy nhiên những phần cao hơn của chi dưới cũng có những biến đổi liên hệ. Cỗ  chân bị quay, ngoặc vào trong (varus), có nghĩa là đầu ngón chân cái thay vì chỉa về phía trước, lại chụm vào phía bên kia. Thêm nữa, lòng bàn chân thay vì huớng về phía dưới, lại được quay ngược lên, lưng bàn chân lại bị lật xuống phía dưới. Do đó nếu không chữa trị, đứa trẻ lúc biết đi sẽ đi chống trên cỗ chân (ankle) hay trên bờ ngòai của bàn chân  thay vì chống trên lòng bàn chân như đứa trẻ bình thường (do đó có từ talipes: tali: cỗ chân, pes: chân: dùng cỗ chân thế bàn chân để chống đi trong trường hợp chân vẹo thường gặp nhất gọi là talipes equino varus).Chừng 1/1000 trẻ sơ sinh bị chứng này. Con trai bị nhiều hơn con gái. Trong gần ½ trường hợp , trẻ bị chân vẹo hai bên.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/28/P3240003.jpg/230px-P3240003.jpg

Figure 1 : Chân vẹo (hình Wikipedia)

Chân vẹo có thể gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, như những yếu tố di truyền, điều kiện phát triển thai nhi trong bụng mẹ (làm một phần của chân thai nhi bị trở ngại phát triển do thiếu dinh dưỡng, chật chội thiếu chỗ..), hoặc do tuỷ sống có thương tật (spina bifida)…

Chữa trị: Theo phương pháp Ponseti mới được áp dụng rộng rãi trong chừng 10 năm gần đây thì có kết quả tốt trong trên 90% trường hợp mà không cần giải phẫu quan trọng. Được thực hiện sớm, trong vòng hai tuần đầu đời. Chân được nắn từ từ, từng bước một, vào vị trí bình thường, dùng bó,  băng bột mới mỗi tuần để uốn nắn và  đễ giữ trong vị thế mới trong nhiều (4) tuần (braces , cast), sau đó em phải mang nẹp (splints) lúc đầu 24/24 giờ, sau đó giảm dầntrong nhiều năm (có thể đến 4 năm).Một số trẻ cần phẫu thuật nhỏ để làm dãn gân gót (Achilles tenotomy).(xem video được giải thưởng của British Medical Association)

Nếu chữa trị trể hơn như trong trường hợp này, lúc chân vẹo đã cứng, cần phải giải phẩu để cắt, di dời các sợi gân (tendon), các bắp cơ để cân bằng lực kéo của các nhóm cơ khác nhau, và phải ổn định các khớp xương (arthrodesis)  để giữ các khớp ở vị trí vững vàng. Chân có thể vẹo trở lại ít nhiếu và có thể giải phẩu them. Đấy là công việc của các bác sĩ chuyên về chỉnh hình (pediatric orthopedist) của trẻ em.Ngoài ra còn có bác sĩ và chuyên viên vật lý trị liệu tham gia.

Nói chung, cần phát hiện sớm bịnh chân vẹo từ lúc mới sanh. Bác sĩ nhi khoa hoặc cô đỡ phải khám xem chân cháu có vẹo hay không. Nếu có thì kiểm soát xem sự vẹo này là cơ năng (functional), tạm thời do vị trí bé nằm trong bụng mẹ,trường hợp này, lúc uốn nắn thì khớp trở về vị trí bình thường một cách dễ dàng. Nếu cử động của xương khớp bị giới hạn, không đưa về vị trí bình thường được một cách dễ dàng thì cẩn thận, phải tham khảo với bác sĩ giải phẩu chỉnh hình chuyê n về  trẻ  em ( pediatric orthopedist) để xem có phải là chân vẹo thật sự phải cho chữa ngay.

Nói chung, nếu chữa đúng cách, kết quả tốt, đi đứng bình thường, có thể chân bên vẹo có thể nhỏ hơn và yếu hơn một tí. Trường hợp bé ở đây cần được bs chỉnh hình và vật lý trị liệu săn sóc và theo dõi kỷ lưỡng sau đó.Nếu có thể, nên nhờ bs nhi khám tổng quát xem em có những thương tật nào khác kèm theo hay không. Một trường hợp nổi tiếng là cô Kristi Yamaguchi vô địch thế vận hội và thế giới về múa trên nước đá (figure ice skating), lúc mới sanh cũng bị chân vẹo, phải chữa trị và sau đó dùng ice skating như là một biện pháp vật lý trị liệu, từ đó phát triển tài năng ngoại hạng như chúng ta đã biết.  Chúc gia đình em kiên nhẫn,  lạc quan và may mắn.  

BS Hồ văn Hiền (Hien V Ho, MD) 4-19- 2010

 

Fetid  breath and foreign bodies

Phụ huynh hỏi về bé một tuổi rưởi có hơi thở thối như phân.

Phụ huynh thường than phiền về hơi thở của em bé hôi hoặc nặng mùi. Đa số các em bé lúc khám có vẻ bình thường, lý do là các cháu càng lớn lên, ăn nhiềi loại thức ăn khác nhau ngoài sữa nên hơi thở không còn “ thơm mùi sữa” như trước. Tuy nhiên, một số có thể có những  triệu chứng sau:

1) Em bé nghẹt mũi, thở bằng miệng, nên miệng khô, hơi thở nặng mùi hơn bình thường.Một số thuốc cảm ho có tác dụng giảm sản xuất nước miếng càng làm miệng bé khô hơn (nước miếng có tác dụng che chở miệng), nhất là nếu cha mẹ cho cháu uống thuốc lâu dài vì tưởng là cần thiết mỗi khi cháu hơi nghẹt mũi hoặc ho (thường thì không cần, hiện nay ở Mỹ người ta khuyên cha mẹ tránh đừng dùng thuốc “cảm” (common cold) cho các em dưới 4 tuổi, đa số bịnh “cảm” do siêu vi gây ra sẽ tự nó hết bịnh mà không cần thuốc).

2) Có thể em bị nhiễm trùng (do virus lúc bị cảm , hoặc vi khuẩn/ bacteria) làm lở lói sau họng, sưng amidan hai bên họng( tonsillitis), sưng các adenoid phía sau mũi, một số tế bào chết làm mủ  (necrosis, hoại tử) làm cho  hơi thở có bi hôi. Chữa xong thì hơi thở bé sẽ hết hôi.

3) Một số trẻ bị lở miệng (viêm miệng, stomatitis}, thường do virus herpes, có thể hôi miệng trong vài ngày.

4) Các trẻ con tuổi lớn hơn hoặc người lớn, vì không săn sóc răng kỹ lưỡng , có thể bịnh nhiễm khuẩn  nướu răng hoặc phần chung quanh răng ( bịnh nha chu, periodontal disease). Bình thường, nếu vệ sinh miệng tốt, các vi khuẩn kỵ khí (anaerobic bacteria) chỉ tồn tại ở phía sau mặt của lưỡi. Lúc vệ sinh không tốt (không chải răng kỹ, không floss răng, không đến nha sĩ cạo răng theo định kỳ), các thức ăn bám vào răng, do tác dụng các vi khuẩn nói trên lên men (fermentation) và thải ra những khí như hydrogen sulfide, methyl mercaptan có mùi hôi.

Đương nhiên, sâu răng, áp xe răng cũng có thể làm hơi thở hôi, nhưng thường không thối nặng như trường hợp đang bàn ở đây.

5)Trường hợp hôi vì bịnh răng và nướu răng, biện pháp chính là áp dụng vệ sinh răng miệng, khám nha sĩ định kỳ. Ở Mỹ, hiện nay người ta khuyến khích đi khám nha sĩ từ lúc em bé có những răng đầu tiên để giáo dục cha mẹ về vệ sinh răng, cũng như áp dụng những biện pháp phòng ngừa (như phết fluoride vào răng, fluoride varnish).

-Cuối cùng là những trường hợp hiếm hơn, như trường hợp đang bàn ở đây. Mùi hơi thở em bé hôi thúi như phân chứng tỏ có một ổ tế bào chết (necrosis) và  làm mủ đâu đó

6)Tôi nghĩ trường hợp bé này, chỗ đáng nghi hơn hết là mũi của em bé. Nếu em bé nghẹt một bên mũi, chảy máu mũi, há mồm ra để thở (mouth breathing), thì càng đáng nghi hơn. Có thể em đã nhét, hoặc bị một bé khác nhét một vật lạ vào mũi, hoặc vì lúc sặc thức ăn. Vật lạ có thể là hạt bắp, mảnh giấy, đồ chơi , một thức ăn nào đó đã mắc kẹt vào mũi em gây nhiễm trùng, làm mũ và gây mùi hôi thúi nặng. Nên đi khám bác sĩ tai mũi họng càng sớm càng tốt để định bịnh, nhất là cần phải xem xét kỹ lưỡng , hút hết các  máu mủ ra, mới thấy vật lạ được, nếu cần phải chụp quang tuyến (để thấy một số vật kim loại , như cục pin [battery] nhỏ rất nguy hiểm) để lấy vật lạ ra nếu có.

 

Measles, complications, and prevention

Trả lời Ông Hồ Ngọc Bích ở Sa huỳnh Quảng Ngãi.

Xin cảm ơn Ông Bích đã chia sẻ câu chuyện buồn mấy mươi năm về trước với chúng tôi. Chúng ta bàn về đề tài này ở đây cũng là một hình thức tưởng niệm người đã khuất, là một cơ hội chúng ta cùng học hỏi để không còn xảy ra những trường hợp đau thương tương tự rất thường gặp trong thời đất nước chiến tranh.Theo như ông mô tả, có lẽ đúng là cháu bị bịnh sưởi, hoặc sởi hay ban đỏ .Tiếng Anh gọi là measles. Nói rõ như vậy cần thiết vì từ ban đỏ của chúng ta hay gây ngộ nhận, vì không phải loại sốt phát ban nào cũng là bịnh sởi đúng nghĩa của nó, mà phải phải danh chính ngôn thuận mới định bịnh đúng và chữa đúng được. Vậy thì xác định ở đây từ bịnh sởi để chỉ bịnh measles, tiếng Pháp goị là rougeole.

Ban là một tiếng rất thường dùng trong giới bệnh nhân Việt Nam. Nói chung, bất cứ cái gì xuất hiện ngoài da cũng đều có một tên nào đó bắt đầu bằng chữ "ban": Ban đỏ, ban cua, ban khỉ, ban trái, v...v... Trong sách vở Tây y, người ta đếm có 6 loại ban chánh, các loại ban này hơi giống nhau. Quan trọng nhất là bệnh "ban đỏ" (measles), được xếp hạng là "đệ nhất ban" (first exanthem).

Ban đỏ gây ra do một virus nhất định  tên Paramyxoviridae Morbillivirus .

·         Bịnh mới đầu có những triệu chứng đặc biệt của nó như sốt nhẹ, chảy nước mắt, nước mũi, viêm mắt (đỏ mắt, ra chỗ sáng thì chói chang khó chịu, ho rất nhiều) lúc ban đầu (prodromal phase). Sau đó nổi những đốm xám trắng gọi là đốm Kopliki trong miệng phía hai bên má.

·         Tiếp theo đó bé nóng cao đột ngộtvà các triệu chứng gia tăng. Những vết ban đỏ xuất hiện đầu tiên ở hai bên cổ, sau mang tai rồi lan khắp cơ thể.

·         Ban lan đến chân tay thì em bé thấy bớt nóng đi nhiều và chừng một ngày sau có vẻ như khỏe hẳn. Từ nhận xét này nảy ra cảm tưởng trong quần chúng rằng ban phải "ra hết" thì em bé mới hết bệnh được. Do đó một số cha mẹ rất lo lắng khi thấy con mình nổi lấm tấm một vài điểm rồi ngưng và lo sợ cháu sẽ bệnh hoạn, kém lớn sau này vì "ban không ra hết" và sẽ biến thành những ban khác như "ban trắng", "ban khỉ", v...v.. Ông Bích có nêu chữ “ban trầm”, và  viêt rằng bịnh “ít lộ ra ngoài, có thể biến chứng về phổi, tim.. Có thể đây là một quan niệm phổ biến trong dân gian, không được kiểm chứng. Nói chung ban nổi lên ít hơn, cũng như triệu chứng nhẹ hơn, nhiều khi không được định bịnh rõ rang (inapparent infection) vì bịnh nhân có đề kháng tốt, như các bé hài nhi được kháng thể từ mẹ truyền qua, hoặc những người từng chủng ngừa.

Hiện nay chúng ta chưa có những thuốc kháng sinh đặc trị ban đỏ.Chỉ cần dùng thuốc giảm nóng, cho ăn, uống đầy đủ và trị các biến chứng lúc cần (supportive treatment).

Một số trẻ bị ban đỏ sẽ không hết hẳn mà lại bị những biến chứng như sưng phổi, sưng tai, lở loét ở miệng, viêm óc, v...v... do những cơ chế khác nhau. Ở Việt Nam trước đây, do nền y khoa còn thiếu thốn, nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng sau khi bệnh ban trở nặng.

Bệnh ban đỏ cũng ít khi thấy ở Mỹ.

Hiện nay, ở Mỹ cứ một triệu người mới xảy ra một trường hợp ban đỏ/năm. Nghĩa là vài trăm trường hợp một năm so với trên 500.000 trường hợp/ năm trước khi áp dụng chủng ngừa từ năm 1963.

Hiện  nay, tại Mỹ các cháu được chích ngừa ban đỏ chung một mũi thuốc lượt với thuốc chủng ngừa quai bị (mumps, sưng hàm) và rubella (German Measles, “ban người Đức”,một bệnh ban nhẹ nhưng có ảnh hưởng lớn vì nếu đàn bà mắc bệnh này trong lúc mới có bầu, siêu vi trùng bệnh sẽ làm thai nhi mang nhiều thương tật, nghĩa là sẽ sinh quái thai). Thuốc này thường được gọi là MMR, viết tắt ba chữ MEASLES, MUMPS và RUBELLA.

Vì bệnh ban đỏ vẫn có thể được đem vào từ nước ngoài, hiện nay, Hàn Lâm viện Nhi khoa HK khuyến cáo nên chích ngừa MMR lúc 12-15 tháng (như trước), chích MMR thêm một lần nữa lúc 4-6 tuổi. Các trường Ðại học đòi hỏi các cô cậu thanh niên phải được chích ngừa ban đỏ 2 lần trước khi được nhập học .

Cũng nên nhắc ở đây việc một số người nghĩ rằng thuốc chủng ngừa MMR gây ra  chứng tự kỷ (autism) và vận động ngăn chặn dùng thuốc MMR cho trẻ em. Kết quả là ở một số nơi, vì cha mẹ không chịu cho con cái chích MMR, số trường hợp ban đỏ có gia tăng một số nơi và gây tử vong, thương tật  đáng lẻ không được xảy ra cho các em nhỏ. Cho đến nay,theo y giới chính thống thì chưa có bằng chứng khoa học cho thấy MMR gây ra chứng tự kỷ,

Cuối cùng, về hiện tượng đổ mồ hôi đầu ở trẻ con, nếu khám tổng quát cháu mạnh giỏi, không bị bịnh tim mạch, bịnh phổi, bịnh truyền nhiễm, trong đại đa số trường hợp đây không phải là một triệu chứng cần lo ngại.

Xin cám ơn ông Bình đã theo dõi chương trình giải đáp của chúng tôi.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

01-21-10

 

Congenital nystagmus:

Trả lời trường hợp bé Nam Khánh ở Hải Phòng, 8 tháng rung giật nhãn cầu.

Nếu tôi không lầm về ngôn ngữ thì đây là một trường hợp nystagmus mà bác sĩ ở Việt nam gọi là “rung giật nhãn cầu”, được định bịnh bằng soi đèn pin ở BV Mắt. Nystamus là những dao động, đu đưa qua lại của tròng mắt. Bịnh nhân ở đây mới tám tháng tuổi chúng ta gọi là rung giật nhãn cầu bẩm sinh của trẻ sơ sinh (congenital nystagmus. GNCBS).

GNCBS có nhiều nguyên nhân khác nhau, như phụ huynh đã biết sau khi tìm hiểu trên mạng.

1) Có một số trẻ rung giật mắt mà không có lý do tìm thấy vì bất ổn định của các cơ điều khiển tròng mắt (congenital idiopathic motor nystagmus),

2)Tuy nhiên nói chung, những nguyên nhân làm giảm thị lực (decreased visual acuity) của trẻ sơ sinh đều có thể gây GNCBS:

-u bướu võng mạc (retinoblastoma): trẻ em mới sinh đều được bác sĩ nhi khoa rọi đèn [ophthalmoscope]  vào mắt để xem có đốm đỏ bình thường (normal red reflex) phản chiếu lại hay không. Nếu trẻ bị retinoblastoma, một con ngươi (đồng tử) sẽ phản chiếu lại màu trắng (leukocoria), cũng như trong trường hợp cườm mắt khô bẩm sinh (congenital cataract). Đôi khi chụp hình các bé có flash, nếu một bên con ngươi màu trắng thay vì đỏ như thường lệ, có thể nhờ đó người nhà phát hiện được chứng “đồng tử trắng” này.

-cườm nước bẩm sinh (congenital glaucoma)

-chứng bạch tạng (albinism), người bịnh không có sắc tố ở mắt, da và tóc.

-chứng không có đồng tử (aniridia), do di truyền

-achromatopsia, một bịnh di truyền gây thị giác kém và không cẩm nhận được màu sắc (decreased visual acuity and inability to perceive colors)

- mắt cườm (thủy tinh thể bị đục) bẩm sinh (congenital cataract)

-những bịnh thoái hoá võng mạc (macular degeneration)

-và nhất là teo thần kinh thị giác (optic atrophy).Thần kinh thị giác (optic nerve) đem tín hiệu từ võng mạc mắt vào não bộ (giống như dây điện nối liền video camera vào computer), những trẻ bị teo dây thần kinh thị giác có thể bị mù.

Những chứng trên chỉ được định bịnh qua sự khám bịnh kỹ lưỡng do bác sĩ chuyên khoa mắt (pediatric ophthalmologist) được trang bị đầy đủ dụng cụ và có khả năng chẩn đoán cho trẻ sơ sinh.

3) Một số trường hợp khác, ngoài bác sĩ chuyên khoa mắt, còn cần đến bác sĩ thần kinh trẻ em vì có khả năng co giật mắt do bướu trong đầu (intracranial gây ra). Bác sĩ có thể yêu cầu làm MRI để định bịnh chính xác hơn.

Tóm lại, cha mẹ có thể quan sát xem qua những dấu hiệu gián tiếp, em bé có vẻ thấy được không (chăm chú nhìn vào mắt mình lúc mình ẳm nó, con mắt bé nhìn qua nhìn lại theo dõi mặt của mình lúc mình di chuyển trước mặt nó, cách nó phản ứng với nguồn ánh sang, với một khuôn mặt quen).

Cha mẹ nên xem kỹ lại mắt con có gì lạ không: có bị lé không, hai bên đồng tử có bằng nhau không. Chụp hình vói flash trong phòng tối xem trong hình hai con ngươi đỏ giống nhau không.

Nếu có khả năng, nên đem cháu khám bác sĩ y khoa chuyên về khoa mắt trẻ em, tại một trung tâm lớn có trang bị đầy đủ để khám mắt trẻ sơ sinh (gây mê nếu cần) và làm MRI nếu cần. Tôi nghe nói ở Sài gòn có Viện Mắt phụ huynh nên tìm hiểu xem sao. Gần VN có lẽ phụ huynh nên tìm Eye Surgery Center ở National University Hospital ở Singapore ở info@nuheye.com.

Chúc gia đình và bịnh nhân may mắn.

BS Hồ Văn Hiền

Falls Church ngày 30 tháng 10 năm 2009

 

Cleft lip, cleft palate in newborns

Sứt môi, hở hàm ếch ở trẻ sơ sinh.

BS Hồ Văn Hiền

Hai chứng này là hai thực thể khác nhau, tuy có liên hệ với nhau.Câu hỏi là tại sao trẻ sơ sinh bị sứt môi (20%), hở hàm ếch (35%) hoặc bị cả hai chứng này(45%).

File:CleftLip1.png

Figure 1   Sứt môi bên trái

   File:CleftLip3.png

Figure 2 Sứt môi hai bên

  http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/82/Cleftpalate3.png/120px-Cleftpalate3.png

Figure 3 Hở hàm ếch (hở vòm miệng)

      File:Cleftpalate1.png

Figure 4 Sứt môi và hở vòmg miệng (hở hàm ếch)

Về di truyền: có những yết tố di truyền đóng vai trò đáng kể, làm cho một người nào đó dễ chứng sứt môi, hàm ếch hơn người khác (susceptibility genes), nếu cả hai người đều cùng ở trong hoàn cảnh giống nhau. Ví dụ ở người da trắng cứ 750 người thì có một người bị sứt môi, 2500 người thì có một người bị hở vòm miệng. Người châu Á và người Da Đỏ  thì có incidence cao nhất (500 người có 1 cas), người da đen thì bị ít nhất (2000 người có một cas). Tuy nhiên những so sánh này cũng chỉ có tính cách  tương đối, vì đây không phải là những nhóm có đặc tính di truyền thuần nhất. Ở những trẻ có các hội chứng dị tật di truyền (congenital malformation), ti lệ mắc phải sứt môi, hở hàm ếch cũng cao hơn. Có những gia đình sứt môi do một gien trội (dominant gene), làm cho 50% con cái của họ bị sứt mội.Con trai bị sứt môi nhiều hơn, con gái hở vòm miệng nhiều hơn.

Về vấn đề chất độc da cam (agent orange), thay vì hỏi chất độc da cam có gây ra sứt môi hay hở hàm ếch  chúng ta phải nên đặt câu hỏi là tiếp xúc (phơi nhiễm) với chất da cam có phải là một yếu tố cơ nguy (risk factor) gây ra sứt môi hay hở hàm ếch hay không.  Câu hỏi này khó trả lời , có thể có yếu tố kinh tế và chính trị, cho nên  nếu có trả lời thì cũng tùy theo người trả lời đó là ai.Theo một task force gồm nhiều khoa học gia Mỹ ( Agent Orange Scientific Task ForceReport on Reproductive and Developmental Effects[1]) thì:

-Nhiều nghiên cứu các cựu quân nhân Mỹ ở Vn, và các nhân viên Mỹ phụ trách xịt chất khai quang (Air Force Study of Ranch Hand personnel), tỷ lệ xảy của các tật bẩm sinhcủa con cái họ nói chung có cao một cách đáng kể  hơn ở nhóm kiểm soát (nghĩa là người bình thường). Cơ hội tiếp xúc với chất khai quang  càng tăng, thì nguy cơ con bị tật bẩm sinh càng cao.

- Nhóm nghiên cứu kết luận là các kết quả nói trên “gợi lên một sự lien hệ giữa các tật nói trên và sự phơi nhiễm đối với các chất khai quan”, tuy nhiên chưa kết luận dứt khoát được vì khả năng giới hạn của các khảo cứu .Những nghiên cứu phía Việt nam hình như chưa được thế giới  chú ý vì thiếu hệ thống và phuơng pháp nghiên cứu cũng như xử lý số liệu chưa phù hợp với các tiêu chuẩn khoa học (theo GS Nguyễn Văn Tuấn[2]).

Về vấn đề đức của cha hay mẹ có ảnh hưởng đến con bị sứt môi hay hở hàm ếch hay không, tất nhiên tôi không trả lời được vì ‘đức” không phải là một khái niệm y khoa. Đương nhiên, không nên thấy người nào đó có con bị dị tật nào đó thì gán cho cha mẹ đứa bé là không có đức nên nó bị như vậy. Tuy nhiên , cũng nên nhắc ở đây một số khảo cứu cho thấy các yếu tố tình cảm (bị tù túng, buồn, sợ hải, thần kinh căng thẳng, bị stress) của người mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ sứt môi, hở hàm ếch của con cái họ, có lẽ do mức corticosteroid trong máu người mẹ lên cao vì những yếu tố đó. Nếu chúng ta nghĩ người “có đức” là người tốt , vui vẻ với mọi người,  lạc quan về  xã hội,  về tha nhân và sẳn lòng giúp đở người khác, thì nói chung, và tuy hơi viễn vông một chút, người mẹ đó giúp cho sức khỏe cũng tạo  một môi trường thuận lợi cho đứa con trong bụng mình nẩy nở một cách bỉnh thường, tốt đẹp.

Về chữa trị, nếu chỉ  sứt môi,  giải phẩu thẩm mỹ sớm lúc bé chừng  6 tuần đến 6 tháng thì kết quả tốt hơn.

Nếu hở vòm miệng, giải phẩu phức tạp hơn, thường người ta đợi cho bé lớn hơn , chừng 6 tháng sau khi mổ sứt môi.Bác sĩ giải phẩu thẩm mỹ /sọ mặt kéo một mảng niêm mạc và màng bọc xương (periosteum) từ hai bên chỗ hở vòm miệng và bít chỗ hở này lại (palatoplasty). Giải phẩu vá lại môi và vòm miệng  chỉ là một trong những bước của quá trình phục hồi thẩm mỹ chức năng răng hàm mặt  của đứa bé. Vai trò bác sĩ chỉnh nha (orthodontist)(răng giả, sửa răng mọc ngay ngắn), bác sĩ tai mũi họng,, chuyên viên bịnh lý nói và ngôn ngữ (speech therapist) đặc biệt quan trọng. Đương nhiên, quan trọng không kém là vai trò của phụ huynh phải săn sóc, kiên nhẫn nuôi nấng em qua một qúa trình nhiều năm để em thành một trẻ diện mạo và ăn nói bình thường.

BS Hồ Văn Hiền

11/10/2009



[1] http://www.birthdefects.org/research/AO_Task_Force.htm

In summary, elevated incidences of specific birth defects have been found in several studies. Elevated rates of hypospadias, oral clefts, cardiovascular defects and hip dislocations have been reported in more than one study and are thus suggestive of an association between these defects and exposure to phenoxy herbicides, chlorophenols and their associate dioxin contaminants. Definitive interpretation of the assembled data on the reproductive toxicity of these substances in humans is constrained by the limited power of the studies to detect modest increases in detrimental effects; inadequate characterization of actual exposure and possible biases in reporting of adverse effects.)

[2] Nguyễn Văn Tuấn, Dioxin, Việt Nam, và Mĩ: giữa tình cảm và khoa học (Vietscience)

 

Congenital nystagmus:

Trả lời trường hợp bé Nam Khánh ở Hải Phòng, 8 tháng rung giật nhãn cầu.

Nếu tôi không lầm về ngôn ngữ thì đây là một trường hợp nystagmus mà bác sĩ ở Việt nam gọi là “rung giật nhãn cầu”, được định bịnh bằng soi đèn pin ở BV Mắt. Nystamus là những dao động, đu đưa qua lại của tròng mắt. Bịnh nhân ở đây mới tám tháng tuổi chúng ta gọi là rung giật nhãn cầu bẩm sinh của trẻ sơ sinh (congenital nystagmus. GNCBS).

GNCBS có nhiều nguyên nhân khác nhau, như phụ huynh đã biết sau khi tìm hiểu trên mạng.

1) Có một số trẻ rung giật mắt mà không có lý do tìm thấy vì bất ổn định của các cơ điều khiển tròng mắt (congenital idiopathic motor nystagmus),

2)Tuy nhiên nói chung, những nguyên nhân làm giảm thị lực (decreased visual acuity) của trẻ sơ sinh đều có thể gây GNCBS:

-u bướu võng mạc (retinoblastoma): trẻ em mới sinh đều được bác sĩ nhi khoa rọi đèn [ophthalmoscope]  vào mắt để xem có đốm đỏ bình thường (normal red reflex) phản chiếu lại hay không. Nếu trẻ bị retinoblastoma, một con ngươi (đồng tử) sẽ phản chiếu lại màu trắng (leukocoria), cũng như trong trường hợp cườm mắt khô bẩm sinh (congenital cataract). Đôi khi chụp hình các bé có flash, nếu một bên con ngươi màu trắng thay vì đỏ như thường lệ, có thể nhờ đó người nhà phát hiện được chứng “đồng tử trắng” này.

-cườm nước bẩm sinh (congenital glaucoma)

-chứng bạch tạng (albinism), người bịnh không có sắc tố ở mắt, da và tóc.

-chứng không có đồng tử (aniridia), do di truyền

-achromatopsia, một bịnh di truyền gây thị giác kém và không cẩm nhận được màu sắc (decreased visual acuity and inability to perceive colors)

- mắt cườm (thủy tinh thể bị đục) bẩm sinh (congenital cataract)

-những bịnh thoái hoá võng mạc (macular degeneration)

-và nhất là teo thần kinh thị giác (optic atrophy).Thần kinh thị giác (optic nerve) đem tín hiệu từ võng mạc mắt vào não bộ (giống như dây điện nối liền video camera vào computer), những trẻ bị teo dây thần kinh thị giác có thể bị mù.

Những chứng trên chỉ được định bịnh qua sự khám bịnh kỹ lưỡng do bác sĩ chuyên khoa mắt (pediatric ophthalmologist) được trang bị đầy đủ dụng cụ và có khả năng chẩn đoán cho trẻ sơ sinh.

3) Một số trường hợp khác, ngoài bác sĩ chuyên khoa mắt, còn cần đến bác sĩ thần kinh trẻ em vì có khả năng co giật mắt do bướu trong đầu (intracranial gây ra). Bác sĩ có thể yêu cầu làm MRI để định bịnh chính xác hơn.

Tóm lại, cha mẹ có thể quan sát xem qua những dấu hiệu gián tiếp, em bé có vẻ thấy được không (chăm chú nhìn vào mắt mình lúc mình ẳm nó, con mắt bé nhìn qua nhìn lại theo dõi mặt của mình lúc mình di chuyển trước mặt nó, cách nó phản ứng với nguồn ánh sang, với một khuôn mặt quen).

Cha mẹ nên xem kỹ lại mắt con có gì lạ không: có bị lé không, hai bên đồng tử có bằng nhau không. Chụp hình vói flash trong phòng tối xem trong hình hai con ngươi đỏ giống nhau không.

Nếu có khả năng, nên đem cháu khám bác sĩ y khoa chuyên về khoa mắt trẻ em, tại một trung tâm lớn có trang bị đầy đủ để khám mắt trẻ sơ sinh (gây mê nếu cần) và làm MRI nếu cần. Tôi nghe nói ở Sài gòn có Viện Mắt phụ huynh nên tìm hiểu xem sao. Gần VN có lẽ phụ huynh nên tìm Eye Surgery Center ở National University Hospital ở Singapore ở info@nuheye.com.

 

Chúc gia đình và bịnh nhân may mắn.

 

BS Hồ Văn Hiền

Falls Church ngày 30 tháng 10 năm 2009

 

Portwine stain:

Cô gái 12 tuổi, bị vết đỏ chừng 5-6 cm trên trán từ lúc mới sinh, đã và đang chữa  laser nhiều lần và gia đình lo lắng.

http://www.millburnlaser.com/images/VBeam/vb_pws_man_pre.jpg

Figure 1 Portwine stain (Image by Dr Ross Kaplan)

Vì không có hình ảnh và phụ huynh không cho biết định bịnh chính xác, qua mô tả của phụ huynh và cách điều trị, tôi xin đoán đây là một trường hợp tiếng Anh gọi là “port-wine stain”, dịch nghĩa đen là “cái bớt màu rượu Porto’ (rượu nâu, đỏ đậm đặc biệt của miền Bắc Bồ Đào Nha/Portugal). Các bớt này màu từ hồng cho đến đỏ sậm, tím, thường ở mặt và cỗ,  là do những mạch máu li ti (capillaries)dưới da mọc bất bình thường dãn nở ra (vascular malformation). Portwine stain khác với:

·         Salmon patches là những bớt nhạt  màu thịt cá hồi, thường trên ót em bé sơ sinh dần dần sẽ biến đi sau vài tháng

·         U mạch máu (angioma), thường thì các u mạch máu xuất hiện sau khi sanh và to dần hình dạng như trái dâu tây (strawberry) trong những năm đầu, sau  đó đa số tự teo lại và biến mất.

Các” bớt rượu Porto” trái lại, thường phẳng, không nổi u lên, nhưng sẽ tồn tại suốt đời. Lúc bịnh nhân càng lớn lên thì màu càng đậm, đôi khi da chỗ có bớt dày lên, nổi lục cục, có thể làm biến dạng khôn mặt nếu thật lớn. Trường hợp dễ nhận ra nhất là portwine stain trên trán của ông Gorbachev của Liên Xô ngày trước. Nếu portwine stain nằm vùng trên mặt trên vùng của dây thần kinh số 5 và nhất là gần mắt , nên đem đến bác sĩ nhờ khám kỷ kưởng , xem có kèm theo triệu chứng ở bộ phận khác hay không. Đặc biệt  mắt có  bị  tăng nhãn áp (glaucoma) hay không cần chữa trị để tránh hư mắt, và đôi khi xem có triệu chứng thần kinh do những bất thường của não bộ đi kèm theo (Sturge Weber Syndrome).

http://birthmark.org/images/DianaCropped.jpg

 

Ngoài tác dụng trên ngoại hình của bịnh nhân, thiết tưởng chúng ta không nên lo lắng quá. Bịnh nhân may mắn được chữa trị bằng tia laser. Trước đây người ta dùng nhiều cách như dung kem mỹ phẩm  theo để che bớt lại, có lúc giải phẩu, đốt điện, đốt bằng đông lạnh (cryosurgery), nhưng kết quả không khả quan, lắm khi gây thẹo làm xấu đi.

Tia Laser (pulse Dye Laser , PDL) hiện nay là phương pháp tốt nhất. Tia laser truyền năng lượng vào huyết tố hemoglobin nằm trong các mạch máu và đốt nóng các mạch máu mà không hủy hoại các lớp mô lân cận. nên không gây thẹo. Tuy nhiên, chữa bao nhiêu lần, kết quả còn tùy lọai bớt , lớn nhỏ, màu đậm hay nhạt, sâu hay cạn (nông).. và tùy người bác sĩ chuyên môn  thực hiện thủ thuật đó. Nói chung, theo các thống kê, chừng 20% các portwine stain không cải thiện, không lợt hơn được,  dù là dùng laser nhiều lần. Ngay ở những bịnh nhân mà bớt đỏ đã nhạt đi nhiều sau khi tri bằng laser, một công bố gần đây cho biết sau 10 năm, chừng 60% bịnh nhân bằng lòng với kết quả, trong lúc có 35% các bớt đỏ có phần sậm hơn sau lần điều trị cuối cùng[1].

Chúc bịnh nhân và gia đình yên tâm và kiên nhẫn.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Hien V Ho, MD, FAAP

10 tháng 9 năm 2009



[1] New England Journal of Medicine, http://content.nejm.org/cgi/content/abstract/356/12/1235

 

 

Biliary Atresia:

Trả lời trường hợp nghi tắt ống mật ở em bé 2 tháng. Em bé trai Nguyễn Anh Kiệt 2 tháng tuổi có ba triệu chứng chính của chứng tắt ống mật trẻ sơ sinh:

1.      -vàng da , vàng mắt (jaundice)

2.      -phân trắng , không có màu (acholic stools).

3.      -thường còn có dấu hiệu kèm theo là nước tiểu đậm màu (dark urines)

Các em bé này thường mạnh khỏe lúc mới sanh, sanh đầy dủ tháng ngày, và lúc đầu không vàng, bú tốt, lên cân đều  trong vài tuần đầu rồi mới ngã bịnh.

Bịnh này hiếm có,nhưng người châu Á nhât là người Trung Hoa bị nhiều hơn các giống dân khác

Giải thích triệu chứng:

Mật từ gan tiết ra, bình thường được dẫn qua ống gan (hepatic duct), qua túi mật (gall bladder), và qua ống mật (bile duct), đi vào ruột non để giúp cho sự tiêu hóa, biến dưỡng thành một chất màu làm cho phân màu vàng, hoặc nâu sậm. Nếu ống dẫn mật vào ruột bị nghẽn, mật không vào ruột nên phân trắng dã như đất sét, không có màu vàng hoặc nâu, hoặc xanh lá cây thường thấy ở trẻ lành mạnh .Mật dồn ứ trở lại vào gan gây viêm (sưng) trong gan, làm hư gan từ từ. Ngoài ra, mật ứ vào  trong máu, làm chất bilirubin màu vàng  trong máu tăng lên, làm cho mắt và da trở nên vàng, vì nhiều bilirubin trong máu, bilirubin được thải qua thận, ra nước tiểu và nước tiểu vàng đậm.Thử máu thấy bilirubin trực tiếp (direct bilirubin) cao trên 2mg/100ml và chiếm đa số chất bilirubin trong máu.

 Các phương tiện định bịnh bằng hình ảnh:

Siêu âm (ultrasonography) giúp ích cho việc định bịnh để xem cấu trúc của hệ ống dẫn mật và gan bất bình thường ở đoạn nào (ví dụ không thấy túi mật, túi mật nhỏ, teo,, ống gan nở ra), xếp loại bịnh để dự tính cách trị liệu. Tuy nhiên trong một trăm trường hợp có bịnh tắt ống mật thật sự, siêu âm, ngay với những người bs chuyên khoa đọc  siêu âm rất giỏi tại những trung tâm lớn, cũng chỉ phát hiện được các dấu hiệu bịnh trong 80% trường hợp (độ nhạy cảm /sensitivity 80%).

Người ta có thể dùng những phương tiện thể hiện hình ảnh (imaging) khác như

1.      -dùng chất phóng xạ cho vào gan để xem nó có được thải vào ruột hay không (hepatobiliary scintiscanning)

2.      -MRI , có độ nhạy cảm cao (sensitivity) (90%)

Ngoài ra:

1.      bs có thể làm sinh thiết gan (“thử thịt”, biopsy) để xem có đúng hay không.

2.      -có thể bơm chất cản quang (radiopaque) vào túi mật trong lúc mổ bụng (laparotomy with surgical cholangiography), 

3.      hoặc xuyên qua da (percutaneous) nhờ hướng dẫn siêu âm  để  chụp hình túi  mật và ống dẫn mật, ( sonography guided percutaneous cholecystocholangiography).

Những định bịnh này rất chuyên môn do sự quyết định của một số bác sĩ liên hệ. Chúng tôi chỉ xin giải thích có mục đích thông tin để phụ huynh nghe bác sĩ hướng dẫn có thể hiểu dễ dàng hơn và quyết định có ý thức hơn. Nếu đúng bịnh tắt ống dẫn mật , cần chữa trị cấp thời, lúc bé tuổi chừng 8 tuần, giải phẩu nối ống mật với ruột cho mật thông ra ruột (Kasai portoenterostomy, do BS Nhật Morio  Kasai đề xướng năm 1959 )để lá gan khỏi bị mật ứ lại làm hư. Những trường hợp không cứu được lá gan, phải ghép gan (liver transplant) khác cho bịnh nhân

Chúc em Kiệt  gia đình em may mắn.

Bs Hồ văn Hiền

8-05-09

 

Muscular dystrophy

Dinh dưỡng trong bịnh loạn dinh dưỡng cơ (muscular dystrophy).

Lọan  dưỡng là dịch chữ dystrophy, dys gốc Hy lạp có nghĩa không bình thường, trophe là thức ăn, nuôi nấng..Trước đây vì thấy trong bịnh này các cơ (bắp thịt teo lại và yếu dần, các bác sĩ nghĩ rằng vì một rối loạn nào đó trong sự nuôi dưỡng các bắp thịt (máu tới, không đủ, thiếu chất dinh dưỡng nào đó như vitamin..) nên các cơ không bình thường và do đó gọi bịnh này là loạn  dưỡng.

Tuy nhiên, sau năm 1980 nhờ các tiến bộ trong sinh học phân tử và di truyền người ta mới biết nguyên nhân bịnh nằm trong các gien (gene). Trong trường hợp bịnh  loạn dưỡng thường gặp nhất là loại Duchenne (Duchenne Muscular Dystrophy), do thừa hưởng một gien bất bình thường từ nhiễm thể X của mẹ, hoặc do môt cái gien bị đột biến (mutation) người con trai mang phải bịnh này có những sợi cơ thiếu chất dystrophin và do đó bất bình thường, chứ không phải do máu đến nuôu bắp thịt  không đủ hoặc do thiếu một chất gì trong thức ăn uống.

Do đó , thức ăn uống không chữa được bịnh. Tuy nhiên, tài liệu của MDA khuyên như sau;

1.      Cho đến nay chưa có phương pháp ăn uống nào thay đổi được tiến trình bịnh loạn dinh dưỡng cơ

2.      Nhiều chất được thí nghiệm như amino acids, Coenzyme Q, Vitamin B6, Vitamin E, Zinc nhưng không có kết quả cụ thể.

3.      Phần đông các nghiên cứu đang thử những chất vitamin, những chất khoáng (minerals), những antioxidants (kháng oxít hoá) như vitamin C, vitamin E, các rau cải xanh (green) để chống các  chât độc( free radicals) do các cơ bị thoái hóa thải ra.

4.      Tuy nhiên nên cẩn thận lúc dùng những sản phẩm gọi là để tẩy độc nói ở trên, xem có đáng tin cậy không.

5.      Phần đông bác sĩ cho rằng bịnh nhân cần ăn uống như những đứa trẻ đang tăng trưởng bình thường. Chỉ có hai điểm cần chú ý là:

1)bịnh nhân ngồi xe lăn, ít tiêu năng lượng hơn trẻ hoạt động bình thường, cần ăn bớt calori lại  sợ quá mập. Những nghiên cứu cho thấy có thể cho bịnh nhân kiên ăn để giảm cân mà không ảnh hưởng đến sức khỏa các cơ

2) cần ăn trái cây, rau cải cung cấp chất xơ (fiber) , uống nước đủ để khỏi bị bón vì các cơ bụng yếu.

Bác sĩ Hồ văn Hiền

Ngày 6 tháng 8 năm 2009

 

Crying and failure to thrive in a 5 month old baby

Trả lời trường hợp bé 5 tháng khóc kinh niên và kém tăng trưởng.

Xin trả lời chung chung mà thôi vì chúng ta chỉ biết cháu 5 tháng, sinh ra 3.2 kg, có đi khám sức khỏe và có vẻ không bịnh gì rỏ rệt, không lên cân tốt, trước đây bé bú vào bị ọc sữa và bác sĩ chữa bằng cách cho calcium và kết quả giới hạn.

Các bé khỏang hai ba tháng có thể bị chứng “colic”, là đau bụng, la hét từng giờ, chân co rút lại, tay chân lạnh ngắt, và thường thì không tìm ra nguyên do chính xác.Thường người ta nghi bé nuốt hơi nhiều quá lúc bú, hoặc hơi tạo ra từ thức ăn làm sình bụng cháu vì một số trẻ khóc cho đến khi đi tiêu hoặc trung tiện (flatus) được thì ngưng. Bác sĩ có thể cho những em bé này simethicone (Mylicon) là một chất làm bé bớt sình bụng, hoặc đổi sữa formula cho cháu xem có thích hợp hơn hay không. Phần đông các cháu này vẫn khỏe mạnh. Ở đây bé đã năm tháng, và nếu tôi nghe không lầm thì bé tăng trưởng kém.Các triệu chứng có vẻ như chỉ dấu hướng về hệ tiêu hoá. 

Chúng ta cần biết bé uống sữa gì, có bú mẹ hay không?  Thường sữa mẹ được coi là thức ăn thích hợp nhất cho em bé. Nếu mẹ cho con bú mà người mẹ ít khi ra nắng (vì sợ đen), có thể cơ thể người mẹ có thể không tổng hợp vitamin D trong da và người mẹ thiếu Vitamin D và trẻ bú mẹ có thể thiếu vitamin D và calcium. Ở Mỹ, trẻ chỉ bú sữa mẹ được cho thêm giọt vitamin ACD. Tôi nêu điểm này vì bs chữa bé bằng calcium mỗi lần đi khám, nếu bé cần calcium thì cũng cần được cung cấp vitamin D đầy đủ. Trong một số trường hợp hiếm, một số protein trong thức ăn người mẹ (như sữa bò, trứng, đậu phụng) đi qua sữa  mẹ và em bé không chịu những protein này.[Xin đừng hiểu lầm là bác sĩ khuyên không nên cho bú sữa mẹ, vì điều này không đúng.]

Nếu bé bú sữa bò hay sữa chế biến formula, triệu chứng khóc dai dẵng có thể do cháu không chịu một chất nào đó trong sữa (formula intolerance). Một số bé không chịu , bị dị ứng với chất protein trong sữa bò hoặc trong thức ăn. Bé có thể bức rứt, khó chịu, ói, tiêu chảy xảy ra vài giờ sau khi bú. Những bé không chịu protein  sữa bò (cow milk sensitivity)   có thể chữa được bằng cách thế formula làm bằng sữa bò (cow milk based formula) bằng một sữa khác dùng protein của đậu nành (soy based formula như Isomil ). Có bé cũng dị ứng với đậu nành luôn thì có thể dùng một formula  tuy chế biến từ sữa bò nhưng các protein đã được biến đổi để giảm khả năng  gây dị ứng nữa (như Nutramigen, Alimentum ở Mỹ, đắt hơn nhiều so với formula thường). Trong một số trường hợp , trẻ em thiếu chất enzyme lactase cần thiết để tiêu hóa chất ngọt lactose của sữa và đau bụng, tiêu chảy vì lactose ứ đọng trong ruột. Có thể dùng những formula goị là lactose free (không có lactose) hoặc các formula làm bằng đậu nành không chứa lactose.

Liên hệ vớicác chứng này nên nhắc tới chứng viêm thực quản (allergic eosinophilic esophagitis) và viêm dạ dày và ruột  (allergic eosinophilic gastroenteritis) do dị ứng là trẻ bỏ bú, trào dịch thực quản (gastroesophageal reflux) khó trị bằng các phương pháp thong thường,chậm lớn, ngủ không yên giấc.

Cụ thể, nên cho bé đến một bác sĩ nhi khoa khám lại cho kỹ và theo dõi định kỳ sau khi cha mẹ đã để ý và xem xét những điểm trên.

Nên xem lại những điểm sau:

-Nếu bú sữa mẹ, xem em bé có bú đủ no không, mẹ em bé có dùng thuốc men gì có thể qua sữa  và kích thích bé quá đáng không, có ăn thứ gì nhiều quá đáng không (đậu phụng, trứng). Nên cho bé uống thêm các vitamin ACD.

-Nếu bú formula, sữa bò, cần xem phảm chất của sữa đó có tốt không. Ví dụ sữa đặt có đường uống cà fê sữa không thích hợp cho em bé bú. Formula cần pha đúng liều lượng: ví dụ ở Mỹ đa số sữa formula bột cần pha 2 oz nước với 1 muỗng lường, sữa đậm đặt (concentrated formula) phải pha loãng một phần sữa với một phần nước. Nếu pha không đúng có thể nguy hiểm cho em bé vì rối loạn các cân bằng điện giải và nước trong cơ thể. Chuyện này đã từng xảy ra nhiều ở Mỹ vì các người mẹ thiểu sốkhông biết đọc cách hướng dẫn bằng tiếng Anh và để nguyên sữa đặt không pha loãng cho trẻ uống.

-phân em bé có máu hay không, bé có đau bụng mỗi lần đi cầu không, có chất mỡ nhiều trong phân không (nghi malabsorption=hấp thụ kém có thể do một số bịnh viêm ruột ).Nếu có những điểm này, cần cho bs biết. Nếu nghi không hạp với sữa thay formula như bàn ở trên.

-bé có bón không, phân cứng quá mức không. Nếu có có thể cho bé uống thêm nước trái cây để dễ đi cầu hơn.

-Nếu bé còn ọc nhiều, có thể bé bị tràn dịch thực quản (GE reflux)  và khóc la kinh niên vì viêm thực quản (esophagitis) làm đau em bé. Hỏi  bs chỉ cách cho bột gạo (cereal) vào sữa cho đặc sệt  để thức ăn bớt chạy ngược lên thực quản, kê giường em bé cao lên, và hỏi bác sĩ xem có thể dùng những thuốc bao tử thuộc loại như Ranitidine (Zantac) làm giảm a xít trong bao tử (ở Mỹ chứa 15mg trong 1ml, cứ 1 kilo cân nặng dung (uống) 5-10 mg mỗi ngày ) xem có bớt không.

Xin chúc gia đình và em bé may mắn.

BS Hồ văn Hiền

5/20/2009

 

Thalassemia

Ở đây chúng ta đã biết định bịnh của em là thalassemia, thính giả yêu cầu chúng tôi giải thích nguyên nhân bịnh này.

Thalassemia thường xảy ra ở người vùng Địa Trung Hải (Âu châu) cũng như người ở Vùng Đông Nam Á; ở Mỹ những bịnh này thấy trên những người di dân từ vùng của chúng ta, hoặc từ Ý , Hy lạp. . 

1)

File:Red White Blood cells.jpg  

hinh 1: Bên trái là một hồng cầu (RBC), tròn , hình dĩa, giữa là tiểu bản (platelet) phụ trách đông máu , bên phải là bạch cầu (T lymphocyte) phụ  trách miễn nhiễm (immunity)
(from Wikipedia:  Electron Microscopy Facility at The National Cancer Institute at Frederick (NCI-Frederick)

 

Trước hết chúng ta biết rằng máu là một chất lỏng chứa những tế bào có nhiệm vụ khác nhau.  Trong đó, hồng cầu (red blood cell, RBC) là những tế bào màu đỏ, hình cái dĩa , toàn thể  chiếm chừng gần nữa thể tích của máu chúng ta (xem hình 1)

Hồng cầu có nhiệm vụ mang oxy , hoặc dưỡng khí từ phổi đến các bộ phận trong cơ thể.   

 

File:1GZX Haemoglobin.png

hình 2:  Phân tử Hemoglobin với 2 alpha globin và 2 betaglobin (Wikipedia)

Trong hồng cầu, có những phân tử (molecule ) chịu trách nhiệm chuyên chở oxy là huyết cầu tố, tiếng Anh gọi là hemoglobin (Hb)(xem hình 2). 

 

Bây giờ chúng ta thử đi sâu hơn vào cấu trúc của phân tử huyết cầu tố (hemoglobin).  Phân tử hemoglobin được câu tạo bởi  4 phần protein gọi là  mạch globin (globin chain), tạm ví như  như một trái cam có bốn múi.  Hai múi là globin alpha, hai múi kia gọi là beta. Mỗi cái globin chain hình dạng giống như một con sâu được xếp lại (folded worm), trong long nó chứa một cai1 nhân gọi là heme (xem hinh), trong heme có chứa nguyên tử sắt.  (Fe/iron). 

 Khi tế bào máu được sản xuất trong tủy xương,  trước tiên  các tế bào tủy xương phải sản xuất ra các globin kể trên rồi mới ráp thành huyết cầu  tố hemoglobin.  Sự sản xuất globin lại do một số gien trên nhiễm thể (chromosome) của tế bào quyết định. 

2) Bịnh thalassemia có thứ bậc nặng nhẹ không:

Nếu gien bị trục trặc, tủy xương người đó không sản xuất ra  globin  môt cách đầy đủ được và không sản xuất đủ huyết cầu tố cho huyết cầu mới.  Do đó  ngưới đó bị thiếu máu , nặng nhẹ tùy trường hợp và ta nói rằng người  người bịnh mắc chứng  thalassemia . 

Trường hợp beta thalassemia, nếu chỉ một trong hai nhiễm thể số 11 bị trục trặc thôi (heterozygote), người bịnh chỉ hơi thiếu máu và không có triệu chứng gì , không cần chữa trị, và sẽ mang đặc điểm này suốt đời (thalassemia minor, thalassemia trait). 

Nếu cả hai nhiễm thể trong cặp số 11 đều bị (homozygote), bịnh thiếu máu sẽ nặng, phần globulin được tổng hợp bình thường sẽ bị dư ra và kết tụ (aggregates) lại gây tác hại trên tế bào hồng cầu, vỡ hồng cầu (hemolysis), nhiều biến chứng và bịnh nhân không sống lâu. (thalassemia major).

Trường hợp alpha thalassemia  khác, có 4 genes quyết định. Nếu 2 gene bị bất bình thường, thì không có triệu chứng (alpha thalassemia trait). Nếu 3 gene bị bất thường thi có một số triệu chứng như thiếu máu, vàng da, lá lách sưng, đôi khi cần truyền máu.Nếu cả 4 gene bất bình thường, bào thai thường không sống sót được hết thai kỳ, chết trong bụng mẹ

3) Cuộc sống:

Thalassemia trait không có triệu chứng. Thalassemia  minor thường ít  triệu chứng, có thể cần truyền máu nhưng ít thôi.

Cuộc sống của người bị thalassemia major:

Mặc dầu lúc mới sanh, bịnh nhân chưa có triệu chứng, mầm mống căn bịnh đã ghi sẵn trong di thể của các tế bào. D ần dần c ác tri ệu ch ứng xu ất hi ện: xanh xao, mệt mõi , chậm lớn, bụng trướng lên do gan và lá lách lớn, khuôn m ặt thay đổi v ì c ác xư ơng do biến d ạng (mắt xết, g ò má trồi lên), suy giáp trạng, tiểu đuờng (diabetes). Với các phương tiện hiện nay về chẩn đoán di truyền học, người ta có thể định bịnh lúc còn phôi thai, tức là những tuần đầu của bào thai. 

4)  Di truyền:

 Người có một gien beta thalassemia (thalassemia minor) thừa hưởng gien này từ cha hoặc mẹ mình. Nếu hai người này (cùng mang gien thalassemia minor) lấy nhau, cơ nguy có một đứa con bị thalassemia major là 25%, đưá con bị thalasemia minor là 50%, và đưá con không mang gien thalassemia là 25%.Bịnh thalassemia minor không thể biến thành major được.

Nếu là loại bịnh nặng (beta thalassemia major), người bịnh thừa hưởng một gien bịnh từ cha mình và một gien bịnh từ mẹ mình.  Người đó  sẽ truyền lại cái gien này cho tất cả con cái mình. N ếu người phối ngẫu cũng mang gien này, tất nhiên, một số đứa con có khả năng bị thalassemia major.

 Đối với thalassemia major, loại thalassemia nặng, hiện nay phương pháp chữa duy nhất là truyền máu đều đặn cho em, thường 4-6 tu ần một lần.  Bất tiện của sự chuyền máu đều đặn là phản ứng do chuyền máu và tích lũy chất sắt quá nhiều trong cơ thể làm ảnh hưởng đến các bộ phận quan trọng như tim và gan.  (hemosiderosis). Trong quá khứ, phần đông bịnh nhiên không

sống đến tuổi hai mươi vì  các biến ch ứng này ‘ Gần đây, dùng chất deferoxamine (Desferal) để giúp cơ th ể đào thải chất sắt, thuốc chích qua m ột máy bơm liên tục chầm chậm dưới da hoặc vào tĩnh mạch, Nhờ vậy cuộc s ống kéo dài hơn (đến trên 30) và  cải thi ện ch ất lượng cuộc sống rất nhiều,

Một số nơi ỏ Mỹ áp dụng phuơng pháp ghép tế bào tủy xương (bone marrow transplant), tức là lấy tế bào tủy xương bình thường của người khác (thường là anh em, bà con) thế vào tế bào tủy xương bất bình thương , do đó tế bào tủy xương sẽ có khả năng sanh ra tế bào máu bình thường. 

Một phương pháp khác là gien trị liệu pháp( gene therapy) còn trong vòng thí nghiệm chỉ mới bắt đầu mấy năm gần đây .  Người ta gắn một cái di thể, cái gien tổng hợp  vào một virus.  Lúc cho virus nhiễm vào người bịnh, nó sẽ là phuơng tiện chuyên chở một khúc DNA (gien) bình thường gắn vào tế bào người bịnh, trong mục dích chữa lại cái gien bị sai của người bịnh.  Gần đây gene therapy bị khựng lại vì một số biến chứng gây chết người cho nên ứng dụng thực tế chắc còn đợi nhiều năm. 

Một phương pháp khác là tìm cách dùng thuốc thức dậy một cái gien đang ngủ , như gene phụ trách hemoglobin F của thai nhi nói ở trên (chỉ hoạt động lúc còn trong bụng mẹ) để gien này làm việc thế gien beta globin.

BS Hồ Văn Hiền

5/19/09

 

Breath holding spells and temper tantrums

Trẻ em làm nư nín thở

Bé Hiếu, 16 tháng lên cơn khóc tím tái, lịm đi, qua khỏi cơn thì vẫn như bình thường,có ngày làm tới ba lần. Lúc cháu không bằng lòng việc gì thì cháu lên cơn làm nư . Có thể xảy ra từ hồi ba tháng tuổi. Ngoài ra, có vẻ cháu không có bịnh gì đáng kể, mặc dù gia đình chưa đem đi khám bịnh vì lý do kinh tế.

Đây có lẻ là một trường hợp cơn nín thở (phân biệt với ngưng thở là trường hợp một số trẻ sơ sinh thỉnh thoảng không thở kéo dài mấy chục giây,  đôi khi đến mức tắt thở, được gọi là apnea). Cơn nín thở ở trẻ em  tiếng Anh gọi là breath holding spell đi đôi với triệu chứng gọi là temper tantrum, temper là cái nết dữ, tantrum là cơn giận dữ; temper tantrum chúng ta có thể gọi là cơn nư, ví dụ như chúng ta nói để bé “khóc cho đã nư”, hay “cơn tam bành, lục tặc” (tam bành là ba vị hung thần trong người ta, xui khiến người ta làm bậy bạ). Tuổi lúc mới biết đi của trẻ con cũng giống như vậy, đây là lúc bé chừng mười mấy tháng đến 3-4 tuổi chưa kiểm soát được các ‘cơn bốc đồng’, sự  thúc đẩy (impulses) của mình . Lúc từ 12 đến 24 tháng, chúng nghe thì hiểu được khá nhiều nhưng khả năng nói thì ít phát triển hơn, cho nên muốn nói mà nói không được có thể làm cho bé bực bội lắm. Ngoài ra đây là lúc cháu bắt đầu ý thức về sự độc lập của mình (autonomy, independance), bé muốn quyền điều khiển những gì xảy ra chung quanh mình, như muốn làm cái này, làm cái kia, mà trong lúc khả năng chưa cho phép nên lại làm cho nó bực bội (frustrated) thêm . Do đó tùy theo tâm tính từng đứa, có trẻ  sẽ rên la, khóc tha ầm ĩ, lăn lộn, vật vã và như trong trường hợp bé Hiếu ở đây, nín thở chừng vài chục giây đồng hồ, cho người tím ngắt, và sau đó thự nó thở trở lại vì bị ngộp nín thở không nổi nữa. Một số trường hợp hiếm, cháu có thể nín thở hoặc thở nhanh đến mức co giật (seizure) giống như cơn động kinh (epilepsy) nhưng cũng không sao cả (đương nhiên trường hợp này phải cẩn thận theo dõi và nếu cần khám bác sĩ để phân biệtcó phải là động kinh hay không).

Làm thế nào giảm các cơn nư này?

1.      -Ta nên  nhớ có thể cháu làm nư vì muốn được người khác chú ý (attention). Nếu chúng ta chứng tỏ là chúng ta quan tâm đến nó bằng cách để ý những cái gì nó thật sự làm tốt và khen thưởng, khuyến khích nó thì nó sẽ bớt đi tìm sự chú ý bằng cách đó.

2.      -Cho bé một sự lựa chọn nào đó , thay vì ra lệnh cho nó: ví dụ “con muốn ăn cháo hay ăn cơm; con muốn uống đi ngủ với ba hay ngủ với má?..” thay vì “Ba muốn con phải ăn cơm bây giờ? mẹ muốn con phải vào giường nằm xuống ngay!  Cho cháu cơ hội chọn một trong hai ba điều  và giảm bớt chiều hướng đề kháng, la lối, khóc lóc.

3.      -Đừng để cháu trước những gì cám dỗ nó  mà không được đụng tới: ví dụ biết nó sẽ phá cái máy đắt tiền thì nên cất cái máy vào một nơi ngoài tầm mắt nó. Nếu dấu những món đồ, món ăn cám dỗ không được, thì nên kiếm món gì khác làm cho nó đảng trí, quên chuyện đó đi.

4.      -Nhiều trẻ có rất nhiều đồ chơi, mức khó khăn sử dụng các đồ chơi này tùy theo tuổi khác nhau. Nên chọn một số đồ chơi vừa phải để cháu đừng dễ rối trí và chán, nên vừa lứa tuổi nó, vì nếu cho  chơi món khó sử dụng quá, nó làm không được, bé lại quạu lên, làm nư thì lại gây chuyện phiền mọi người.

5.      -Bản thân người lớn cũng nên xét lại xem mình có “khó” quá không. Nếu phụ huynh gò bó bé quá, kiểm soát trẻ nhất cử nhất động, lại gặp một đứa trẻ ‘bướng” lại là một cơ hội cho bé lên cơn nóng giận dữ.

Cháu bé làm nư thì nên làm gì?

-Tất nhiên nếu bé đang ở hoàn cảnh nguy hiểm , như gần lửa, gần nước, thì phải đem nó đi chỗ khác, hoặc kiềm chế nó lại, không nhượng bộ được.

-Đừng nóng giận, la lối theo nó. Đưá trẻ làm nư vì muốn mình chú ý đến nó. Người lớn ồn ào giận dữ sẽ làm cho nó nghĩ rằng nó có thể dung cơn nư để gây chú ý (dù là chú ý một cách tiêu cực là nóng giận, la lối). Đừng đánh đập nó, nhất là ở Mỹ, nơi mà đa số cha mẹ sẽ dễ bị buộc vào tôi bạo hành với trẻ em, mà buộc tội với lý do chính đáng vì nóng giận và võ lực làm ta mất trí khôn, nguy hiểm vàtạo gương xấu cho sự giáo dục em bé.Người lớn nên ý thức về tánh giận dữ của chính mình và tập kiểm soát giận dữ.   (anger control).

-Xem trẻ làm nư có lý do gì mình thông cảm được không (ví dụ bé bị anh giật đồ chơi) thì an ủi vỗ về nó. Nếu nó làm nư vì muốn đòi một món gì bị cấm đoán, thì cứ làm ngơ, như không thấy, rồi bình tỉnh giải thích cho nó là không được ,  từ từ nó sẽ bình tỉnh lại. Tránh nhượng bộ dễ dàng vì bé sẽ dùng “chiến thuật” này nữa. Đợi lúc bé hết lên cơn, tự chủ được thì mới khen là nó ngoan vì bé không còn làm dữ nữa.

-Nếu cháu bé có những triệu chứng làm cha mẹ thấy nguy hiểm (như đập đầu vào vách, sàn nhà nhiều lần, phá hoại [destructive]), cha mẹ cảm thấy nguy hiểm, mất tinh thần, trở nên quá thụ động không còn kiểm soát được tình hình, nên tìm đến bác sĩ hoặc chuyên viên tâm lý để khám cho em và ước định tình hình, giúp đở cho cha mẹ có những giải pháp thích đáng với hoàn cảnh.

Với thời gian, do phát triển về ngôn ngữ và khả năng tự kiềm chế và ý thứcvề những giới hạn quanh mình, dần dần các cơn nư ở trẻ con này sẽ qua đi. Chúc gia đình  bé Hiếu đủ kiên nhẫn để dạy dỗ em qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tự nhiên của trẻ con. Ước mong gia đình có cơ hội đưa em đi khám bác sĩ định kỳ để theo dõi sức khỏe em đều đặn và được sự hổ trợ của ngành nhi khoa trong công cuộc dạy dỗ em trong nếp sống có kỷ luật.

BS Hồ V Hiền

 Tháng 4 năm 2009

 

Một trường hợp viêm tủy sống ở trẻ em

(Pediatric Myelitis)

Con em được 40 tháng tuổi, vừa qua cháu bị sốt cao mê mang 2 ngày, không ăn uống gì được. Sang ngày thứ 3 thì cháu bớt sốt và ăn được nhưng sau đó cháu đứng dậy đi thì té quỵ gối 2 lần và sau đó cháu đi không được nữa và chân phải yếu luôn. Bây giờ cháu không đi được và chân phải không điều kiển được nữa. Sau đó cháu vào bệnh viện Nhi đồng 1 ở Sài gòn kiểm tra xét nghiệm máu, đo điện cơ bảo không bị sao. Sau đó đưa cháu sang BV chấn thương chỉnh hình chụp X quang khớp háng thì bảo viêm khớp háng. sau đó uống thuốc 1 tuần thì có đỡ đau hơn, nhưng chân cháu vẫn không đi được. Tiếp tục BS cho chụp MRI ở cột sống ngực - thắt lưng với các chuỗi xung : sagittal T1W, T2W, Axial T2W. Kết quả  : “Bất thường vùng chóp tuỷ (1) ngang mức đốt sống ngực T11-T12, khả năng do viêm nhiễm, tổn thương tuỷ cũ…Ít nghĩ đến u tuỷ” . Hiện nay cháu vẫn không đi được và chân phải cháu không dở lên dở xuống được.

Nhờ Chị Minh Phượng hỏi xem chỉ cho em cách chữa trị cho cháu chứ hiện nay vẫn chưa biết cách nào chữa trị. Cháu đang nằm trong BV Nhi đồng 1 ở Sài gòn.

Em chân thành cảm ơn chị nhiều.

(1) Conus medullaris  

 

BS Hồ Văn Hiền trả lời:

Theo như sơ lược bịnh sữ của mẹ bịnh nhân gởi qua, chúng ta có thể đoán đây là một trường hợp viêm tủy sống (myelitis) ở đưá trẻ 40 tháng tuổi. đây là một bịnh rất hiếm, nhất là ở trẻ con. Có thể bịnh nhân bị loại transverse myelitis (TM), tạm dịch là viêm tủy sống nằm ngang; MRI cho thấy vùng bất bình thường ở đốt sống ngực 11-12 (T11-12).Tổn thương ở vùng này của tủy sống làm liệt các bắp cơ từ háng trở xuống, cả hai bên, cùng với những rối loạn về cảm giác vùng dưới đáy quần, và rối loạn cơ năng các cơ vòng (sphincters) là những bắp thịt kiểm soát sự tiểu tiện, đại tiện. Ở đây phụ huynh không nhắc đến các triệu chứng này, có thể nên để ý thêm thì mới biết rõ hơn để  định bịnh gì cho đúng. Ở đây, chúng ta chỉ bàn chung chung trên một số giả thuyết mà thôi.

Sơ lược về cơ thể học:

Figure 1 Motor cortex là phần võ não điều khiển các vận động của các bắp thịt (cơ) trong cơ thể (từ trên xuống dưới: ngón chân, bàn chân, cẳng chân, đùi, bụng, mình, lưng, vai , cánh tay, khuỷu tay, cổ tay, đầu, mắt , má, làm, môi) (hình Wikipedia)  

 

Figure 2 : Dermatomes: các thần kinh từ các khúc khác nhau của tủy sống (C là cervical, sống cổ, D là sống (lưng) ngực, L là lumbar (eo), S la sacral =xương thiêng) đi đến những vùng da khác nhau của cơ thể gọi là dermatomes (hình Wikipedia)

 

Figure 3 : Hình cắt ngang hai đốt sống (vertebra) với dĩa đệm ở giữa (intervertebral disk).

Tủy sống (spinal cord) chạy  dọc theo cột sống, các rễ thần kinh (nerve roots) đem tín hiệu từ ngoại biên vào tủy sống, đi lên não bộ (cảm giác). Các  tín hiệu mệnh lệnh từ não bộ, xuống tủy sống, ra các rễ thần kinh vận đông. (hình Wikipedia)  

 

Các bắp thịt (cơ) ngoại biên được điều khiển bởi các tế bào thần kinh trên vỏ não (motor cortex), qua trung gian những sợi thần kinh từ não bộ đi xuống tủy sống (descending corticospinal tract) , rồi từ tủy sống chạy ra các rể thần kinh (nerve root), tiếp cận với các cơ bắp. Về cảm giác (sensory system), các receptors gởi tín hiệu,  giây thần kinh (peripheral nerves) đem tín hiệu từ ngoại biên (như cảm giác sờ mó, đau, cảm giác về vị trí các khớp xương, nóng lạnh..) chạy vào tủy sống rồi từ tủy sống chạy lên não bộ , não bộ tiếp nhận các tín hiệu này và làm cho ta nhận ra các cảm giác khác nhau như  về xúc giác (tactile) , nóng , lạnh, đau (spino thalamic tract for pain and temperature)., về vị trí (proprioception)...

Nói cách khác tủy sống như là một xa lộ tín hiệu hai chiều nối liền trung ương (não bộ) và các bộ phận ngoại biên (cơ cử động , cảm giác sờ mó..). Nếu bị tổn thương trên tủy sống, gọi chung là viêm tủy sống, thì các cơ bắp sẽ mất tín hiệu không điều khiển được, như bé bị liệt chân ở đây, các cơ vòng (sphincter)  kiểm  soát tiêu, tiểu cũng bị ảnh hưởng; các tín hiệu của hệ cảm giác (sensory system) sẽ bị rối loạn hoặc không vào não bộ được và sẽ gây những cảm giác bất thường (dysesthesia, như đau nhức , tê buốt, cảm giác kiến bò) hoặc mất cảm giác (sensory loss).

Trường hợp ở đây có lẽ là do viêm tủy sống cắt ngang (transverse myelitis) và tổn thương được thấy trên MRI có lẽ là nơi các tín hiệu bị gián đoạn. Tổn thất này có thể do những nguyên nhân sau đây:

1.      Cơ chế tự miễn nhiễm (autoimmune process). Bình thường các tế bào phòng thủ của hệ miễn nhiễm không tấn công những tế bào của chính cơ thể mình (self tolerance). Nếu vì trục trặc một khâu nào đó, như sau một cơn bịnh (parainfectious myelitis), (thường là do virus), các tế bào phòng thủ gây ra những kháng thể chống lại tế bào chính mình, trường hợp ở đây là chất myelin của tế bào thần kinh, thì hệ thần kinh, ở đây là tủy sống sẽ bị tổn thương.

2.      Nhiễm trùng trực tiếp : thường do siêu vi, đôi khi do vi trùng bịnh lao (lao cần đặc trị)

3.      Bướu, u (tumor) như ung thư, bướu mạch máu (angioma), xương sống không bình thường đè lên tủy sống. Theo người đọc quan tuyến thì MRI không giống trường hợp do u bướu.

4.      Để phân biệt người ta phải lấy nước tủy sống (CSF, cerebrospinal fluid) và nghiên cứu thêm để tìm nguyên nhân.

Nói tóm lại, có lẽ đây là một trường hợp viêm tủy sống do tự miễn nhiễm (autoimmune), cũng gọi là viêm tủy không biết nguyên do (idiopathic myelitis).

Nếu đúng như vậy, đây là một bịnh rất là hiếm , nhất là ở trẻ em. Phải cả triệu người mới có một trường hợp, cho nên ít bác sĩ chuyên về bịnh này và có kinh nghiệm nhiều về bịnh này. Bởi vậy những giải thích ở trên chỉ có mục đích giúp cho phụ huynh hiểu thêm về loại bịnh này, để cộng tác với bs chuyên khoa (mà có lẽ cần nhiều chuyên khoa khác nhau) lo cho em bé bịnh nhân.

Phụ huynh hỏi về các chữa trị, thì em bé  đang nằm trong một bịnh viện chuyên khoa lớn ỏ Sài gòn, tôi không dám lạm bàn. Chỉ đưa ra vài điểm căn cứ trên các công bố của Đại học John Hopkins là nơi có một trung tâm chuyên về loại bịnh viêm tủy sống này (xem www. Myelitis.org):

1.      Một số khảo cứu dùng những liều corticoid rất cao chuyền tĩnh mạch (very high IV steroid doses) trong giai đoạn mấy tuần đầu, lúc thời cấp tính.

2.      Trong các khảo cứu tổng kết các trường hợp TM ở trẻ em, chừng 20 % sẽ phải bị ngồi xe lăn, không đi đứng một mình được, bị trở ngại đáng kể về tiêu, tiểu.

3.      Chừng 30 % sẽ phục hồi, có thể phục hồi từ từ, qua thời gian 2 năm, và đi đứng, sinh hoạt tốt, hoặc gần như bình thường.

4.      Số còn lại có thể phục hồi khá tốt, với một số vấn đề sót lại về đi đứng, tiêu, tiểu.

Nói tóm lại, sau khi bịnh qua khỏi thời kỳ cấp tính (acute phase), sẽ có một thời kỳ

plateau (palliative) không nặng thêm nhưng không giảm, và sau đó sẽ từ từ hồi phục trong đa số trường hợp. Điểm chính là cần kiên nhẫn, trường kỳ trị liệu bằng khoa vật lý trị liệu, vì thời gian phục hồi kéo dài đến hai năm.

Chúc gia đình em may mắn và kiên nhẫn giúp cho em tai qua nạn khỏi.

 

BS Hồ Văn Hiền

3/24/2009

 

Cháu bé bị phát triển chậm về tâm trí - Mental Retardation

VOA question

Trả lời ông Nguyễn Quang Thật hỏi về cháu bé chậm nói và đi nhón gót, và từng bị một cơn cảm kéo dài.

Trường hợp này do phụ huynh chỉ cung cấp thông tin sơ lược chỉ xin bàn chung mà thôi. Cháu bé bị phát triển chậm về tâm trí , kèm theo dáng đi bất thường, đi nhón gót (toe walking, là một triệu chứng thường gặp ở chứng liệt não/cerebral palsy) và không vững. Theo phụ huynh cháu bị cảm kéo dài trước đây, có thể cơn cảm kéo dài này lien quan đến chứng chậm phát triển của cháu, mà cũng có thể không. Nếu có liên quan, thì ta có thể  nghĩ đến một nhiễm trùng nào đó của hệ thần kinh, làm viêm não (encephalitis) và viêm não gây dư chứng hiện nay. Ở Việt nam, viêm não do virus viêm não Nhật bản (Japanese Encephalitis virus) là một trong những loại nhiễm trùng hệ thần kinh thường gặp nhất, do muỗi cắn truyền qua ở những vùng đồng ruộng. Bịnh này có thuốc chích ngừa được.

Nếu các triệu chứng đã có từ lâu và không phải do nhiễm trùng gần đây thì phải nghĩ đến những nguyên do khác : những yếu tố di truyền, những  nhiễm trùng lúc còn trong bụng mẹ, những khó khăn lúc sanh, những bịnh sau khi sanh nhất là bịnh tuyến giáp trạng (thyroid), ngộ độc các kim loại nặng ( như chì/ lead; tôi nhắc tới chì vì ngộ độc chì phổ biến ở Việt nam đang bị ô nhiễm môi sinh nặng và có thể chữa được )  Tuy nhiên cũng có những định bịnh khác mà chỉ có bs trực tiếp khám cháu mới quyết định được.

Cho nên lời khuyên đầu tiên là nên cho cháu bé đi khám bác sĩ nhi khoa nhất là bs chuyên về thần kinh để đánh giá toàn bộ hoàn cảnh nếu có phương tiện. Có như thế chúng ta mới không để sót những trường hợp mà chúng ta coí thể bỏ qua cơ hội cải thiện bịnh tình của cháu, càng sớm càng tốt.

Chứng phát triển chậm về tâm trí, nhất là nếu nặng, cần sự giúp đỡ của nhiều người, Cần cho cháu đến những trung tâm lớn để thẩm định về trình độ phát triển và có những dịch vụ chuyên môn như dạy nói, dạy những hoạt động căn bản trong cuộc sống để giúp trẻ tự lập, hoặc ít ra tự túc trong những sinh hoạt hang ngày nào đó. Tôi đọc internet thấy ở Sàigòn quận 2 có trường can thiệp sớm  (giống như early intervention program ở Mỹ) cho những trẻ chậm phát triển và khiếm thính.

Cháu đã đi chữa nhiều nơi nhưng không khỏi.

Nếu thật sự các bác sĩ nhìn nhận bịnh như thế không chữa được lành, đề nghị phụ huynh nhìn vấn đề qua một khía cạnh khác. Thay vì tìm cách để chữa hết bịnh, mà điều này có lẽ không thục hiện được, thì điều quan trọng nhất là đừng thụ động bỏ bê cháu, nhất là tránh thái độ “tốt khoe, xấu che”, không cho cháu ra ngoài tiếp xúc với xã hội và do đó, vì không được những kích thích về giác quan, tinh thần  và tri thức sẽ càng ngày càng xuống dốc và thụ động. Ta hãy để công sức tìm những cơ hội giáo dục, huấn luyện  cháu để cháu học  ít lắm những kỹ năng đơn giản cần cho đời sống hàng ngày, dù là cần sự giúp đỡ của gia đình hay người ngoài. Gia đình cũng cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài. Thay vì làm ngơ bất lực trước căn bịnh, cha mẹ cần được hướng dẫn

1.      Tìm hiểu căn bịnh cháu, xem có thể làm gì để cải thiện bịnh tình không.

2.      để dành thì giờ dạy dỗ, nói chuyện, sinh hoạt với cháu,

3.      dạy phát âm, nói, hiểu, tham gia trò chơi với anh chị em, gia đình, bạn bè

4.      ngồi ăn uống đàng hoàng, đi phòng vệ sinh một mình ,

5.      thu xếp nơi ăn chốn ở nếu được lúc cháu có khả năng  sống tự lập ,

6.      cho cháu đi khám định kỳ, chủng ngừa tránh bịnh

7.      theo dõi xem có triệu chứng gì mới để đối phó, trường hợp của em đi nhón gót, có thể các cơ ở bắp chân co rút ngắn lại, có thể cần bác sĩ chỉnh hình khám xem có thể cải thiện được không.

8.      cải thiện những khiếm tật như thị giác, thính giác,

9.       tạo nên một môi trường lành mạnh và phong phú, tạo  những kích thích cần thiết cho sự phát triển tốt của bất cứ đứa trẻ nào phát triển bình thường hay không.

BS Hồ Văn Hiền

2/04/09

 

Bướu mạch máu - Angioma in a 2 week old baby.

Bướu mạch máu( angioma) do những tế bào lót các mạch máu mọc quá nhiều tạo thành một cái bướu.Thường lúc mới sanh thì chưa thấy gì, trong mấy tuần đầu thì xuất hiện một vết đỏ hoặc tím, là chúng ta tưởng lầm là vết trầy trụa lúc sanh hoặc vết bầm. Sau đó vết bẩm sinh này lớn dần và  được bác sĩ định bịnh là bướu mạch máu.

http://www.stronghealth.com/services/childrens/craniofacial/images/Withhem.jpg

Trong năm đầu bướu máu tiếp tục tăng trưởng làm cha mẹ lo lắng, nhất là nếu bướu mạch máu mọc ở mặt nhất là gần mắt ảnh hưởng đến thị giác, ở cỗ hoặc vùng bộ phận sinh dục dễ bị lỡ lói, nhiễm trùng hoặc chảy máu.Tuy nhiên thường qua khỏi 6 tháng đầu tiên, chậm lắm là sau 12 tháng tuổi, bướu mạch máu ngưng tăng trưởng trong một thời gian, rồi từ từ biến mất, có lúc khỏang 3 tuổi, có lúc chậm hơn (chừng 10%) đến 8-9 tuổi mới teo lại. Đa số bướu máu biến đi lúc bịnh nhân được 10 tuổi. Bướu có thể biến mất không dấu vết, cũng có khi để lại một cái thẹo mỡ mềm. Bướu máu cần được phân biệt với một loại vết bẩm sinh khác gọi là biến dạng mạch máu (vascular malformation), nghĩa là những mạch máu biến dạng nằm trong da (chứ không phải là u bướu như bướu máu), màu đỏ sẩm, càng lớn tuổi thì càng đậm đen hơn (ví dụ như vết chàm đỏ trên mặt ông Gorbachev gọi là portwine stain; các vascular malformations này tồn tại suốt đời và tự nó không biến mất trừ ra dùng phẩu thuật hoặc laser) .  

Trường hợp em bé lúc phụ huynh hỏi thì mới 2 tuần, đương nhiên trong những tháng tới , lúc khám lại sẽ thấy to hơn trước. Phụ huynh nên hỏi bs lại cho kỹ, vì đây là một hiện tượng bình thường , và như trên đã nói, cho đến 6 tháng-1 năm trở đi sẽ từ từ nhỏ lại mà không cần chữa trị gì cả. Nhất là nếu giải phẩu, coi chừng chảy máu và nhất là nếu  không có lý do chính đáng.

Trường hợp chảy máy, lấy băng gạt đè lên trên 10 phút để cầm máu. Nếu lở lóet, có thể dung kem , pommade trụ sinh săn sóc và băng lại. Trường hợp bướu máu lớn qúa nhanh, đè lên các bộ phận khác như mắt, tai, miệng, khí quản, người ta có thể dung chất corticoid uống, hoặc chích vào bướu mạch máu cho nó teo lại. Trong một số trường hợp hiếm vì lở loét không lành, chảy máu, hoặc muốn đứa trẻ bớt khổ sở lúc tới tuổi đi học mà bướu lớn làm biến dạng ngoại hình của nó bs có thể quyết định can thiệp bằng giải phẩu hoạc tia laser sau khi cân nhắc lợi hại của các thủ thuật này so sánh với phương pháp để tự nó teo lại tự nhiên.

Hien V. Ho, MD

2/04/09

 

Allergic conjunctivitis/ Viêm kết mạc dị ứng

Trả lời trường hợp bé trai 5 tuổi bị chứng viêm kết mạc dị ứng.

Cháu bị bịnh này sáu tháng nay, đã từng đi khám mắt , thử dị ứng không tìm ra một kháng nguyên nào rỏ rệt gây ra bịnh (allergen). Thuốc nhỏ mắt, thuốc uống chỉ bớt một thời gian ra nắng gió, nhìn TV nhiều thì bị triệu chứng lại. Quá khứ tắt lệ đạo (tear duct obstruction) lúc nhỏ, sức khỏe không tốt lắm, truớc đây có bị suyễn.

Bịnh lý:

Kết mạc (conjunctiva) là một màng tế bào trong (transparent cellular membrane) bọc phía trước mắt ở vùng tròng trắng. Lúc gặp một kháng nguyên (antigen) gây dị ứng gọi là allergen, kháng nguyên này làm các kháng thể IgE kết hợp lại, kích thích các tế bào gọi là mast cell (mast cell degranulation) làm cho  mast cell tiết ra những chất (trong đó có histamin, leukotrienes, protaglandin) gây ra hiện tượng viêm ở mắt. Chúng ta sẽ nhắc đến các mast cell này lúc bàn về thuốc trị viêm mắt dị ứng. Có những người chỉ bị dị ứng theo mùa (SAC, seasonal allergic conjunctivitis) và một số khác bị dị ứng quanh năm (PAC, perennial allergic conjunctivitis), em bé ở đây mới bị chừng 6 tháng, nhưng có lẽ thuộc loại PAC.

Triệu chứng gồm:

·                     đỏ mắt

·                     ngứa mắt

·                     rát mắt (burning)

·                     mờ mắt

·                     ghèn mắt

 

Cách chữa trị gồm có những yết tố chính:

·                     tránh các allergen: vd nếu dị ứng với phấn bông thì không nên đến gần các cây loại đó,

·                     giảm thiểu các allergen (chất gây dị ứng)  trong môi trường sống (allergen load): bớt các đồ lỉnh kỉnh không cần thiết trong phòng có thể thu hút bụi bặm, dùng những loại bao plastic đặt biệt bao gối và nệm lại để các allergen từ gối và nệm không   lọt ra ngoài (hơi đắt tiền, có thể ít hiệu nghiệm); lau chùi, hút bụi kỹ lưỡng, bớt dùng thảm là nơi các con mite là một loại côn trùng li ti hay nẩy nở..

·                     giảm thiểu lông, nước miếng, phân.. do các thú nuôi trong nhà (pet, animal  dander= các vảy li ti của da , lông chim)

·                     ngăn chặn allergen vào nhà, vào xe : đóng cửa kính lại nếu không tránh được, dùng máy lọc không khí (air filters), tùy trường hợp máy điều hòa không khí..

·                     tránh đừng để nhà ẩm ướt, dễ mọc những nấm (fungus) gây dị ứng.

 

Những biện pháp thông thường:

đắp nuớc lạnh trên mắt cho dễ chịu, bớt sưng

dùng nước mắt nhân tạo (artificial tears) để mắt bớt khô, và đồng thời cuốn đi rửa sạch những allergen ra khỏi mắt.  

Những thuốc nhỏ mắt thông thường để ngăn chặn một khâu nào đó của chứng dị ứng. Thuốc không được hấp thụ đáng kể vào cơ thể nên không có phản ứng phụ đáng kể trên toàn cơ thể (systemic side effects)  

Mast cells stabilizers: giúp cho các mast cells được toàn vẹn mặc dù tác dụng của các allergen và IgE. Các thuốc này có khả năng ngăn chặn phản ứng dị ứng trước khi mắt tiếp xúc với allergen, có nghĩa là chúng hiệu nghiệm lúc mình xài thuốc trước khi tiếp xúc với chất gây dị ứng, nghĩa là phải xài đều đặn , không nên đợi có triệu chứng mới dùng thuốc vài hôm rồi ngưng, đợi có triệu chứng lại xài.

Thuốc nhỏ mắt:

Nedocromil (Alocril)

Ketotifen (Zaditor)

Olopatadine (Patanol)

Các thuốc kháng histamin (H1 antagonist)

Azelastine (Optivar)

Epinastine (Elestat) (antihistaminic)

Thuốc kháng viêm mà không phải steroid (ANSAID);

(cho bịnh nhân trên 12 tuổi) để giảm các hiện tượng viêm.

Ketorolac tromethamine (Acular)

1 giọt 4 lần/ ngày.

 

Nếu bịnh nặng, bác sĩ có thể xài những thuốc loại corticoid , tác dụng mạnh hơn, có tác dụng ngăn chặn các nhiện tượng viêm:

Loteprednol  0.02% (Alrex) (tương đối ít tác dụng phụ hơn các corticoid khác)

Loteprednol 0.05% (Lotemax)
Prednisolone (AK-Pred)

Rimexolone (Vexol)

Medrysone (HMS)

Fluorometholone (FML, FML Forte, FML Liquifilm)

Những thuốc này thường bs nhãn khoa mới dùng lúc thấy cần thiết mà thôi, nhất là ở trẻ em , vì phải cẩn thận có thể gây những biến chứng về mắt  nếu dùng lâu dài, như cườm mắt (cataract, tắng nhãn áp (glaucoma) là gây áp suất trong tròng mắt cao lên).

Một số trường hợp, bác sĩ chuyên về dị ứng thử da (skin test) xem những allergen đáng nghi là những chất nào, sau đó người ta chích liều rất nhỏ các allergen đó vào da người bịnh cho cơ thể người đó đần dần quen đi, bớt dị ứng lại.Trường hợp em bé ở đây đã đi khám bs allergy rồi nhưng không phát hiện ra một chất allergen nào có thể là thủ phạm của dị ứng của em nên bs đã không dùng allergy shots cho em được.

 

Tóm lại, bịnh nhân đã khám và định bịnh do nhiều nơi nhiều bs nhiều chuyên khoa khác nhau, xin có những gợi ý sau:

·                     Bịnh dị ứng mắt thường nhẹ, không nguy hiểm, thường có khuynh hướng giảm sau khi đạt cao điểm ở tuổi dây thì.

·                     Nên áp dụng những biện pháp đơn giản để giảm thiểu các allergen trong môi trường như bàn ở trên.

·                     Có thể dùng những thuốc chống allergy thường như loratidin (claritin) 1 muỗng càfê=5cc hoặc zyrtec (2.5 cc) mỗi ngày để bớt các triệu chứng allergy.

Nên biết những thuốc nhỏ mắt bs cho là thuộc loại gì, tác dụng phụ như thế nào, có dùng hàng ngày để ngăn chăn triệu chứng (như loại mast cell stabilizer Patanol, Zaditor) hay chỉ dùng lúc cấp tính (như corticoid) và chỉ dùng ngắn hạn.Nên tránh những yếu tố làm cho em khó chiu mắt như xem truyền hình nhiều, nắng gió, làm chói khô mắt.. Nên tham khảo bs nếu có những triệu chứng đáng lo ngại, hoặc có khả năng nhiễm trùng cầ điều trị thích hợp.

Bs Hồ văn Hiền

12-13-2008

 

Trả lời  trường hợp bé trai 3 tuổi chậm nói và phát âm sai (speech delay and mispronunciations in a 3 year old boy).

Theo phụ huynh thì chúng ta biết sơ lược bé 3 tuổi mạnh khỏe về thể chất, chỉ có chậm nói, thay phụ âm "mờ'  bằng phụ âm "tờ, chờ", và hay phá. Bác sĩ nói em vì lưỡi ngắn nên nói chậm.

Tính theo phát triển trung bình ở Mỹ, trẻ em 3 tuổi thì có ngữ vựng chừng 500 từ trở lên, có khả năng dùng 3-4 từ trong một câu. Trong tiếng Mỹ, thì các cháu biết phân biệt số nhiều số ít (plural), ví dụ 'cat"  và "cats", thi hiện tại với thì quá khứ (present and past tenses) và biết phân biệt "I, me và you" (tôi và anh, con và mẹ). Tiếng Việt thì hơi khác vì chúng ta không phân biệt số ít hay nhiều, không  chia các động từ, ví dụ chúng ta nói: "hôm qua con đi chơi, hôm nay con đi chơi, mai mình đi chơi " cũng giống nhau, ngôi thứ thì phức tạp hơn: đứa bé có thể xưng là "con, cháu", xưng bằng tên (thay vì chỉ “I, me”) và người đối thoại có thể là 'ba', mẹ, cô cậu,..cho nên có thể đòi hỏi khả năng phân biệt nhiều hơn để gọi đúng ngôi thứ. Cha mẹ người Vn rất để ý đến vấn đề xưng hô cho đúng ngôi thứ này nên thường dạy dỗ rất kỹ nhưng trẻ cũng khó hấp thụ và cha mẹ có thể dễ sốt ruột nếu cháu bé không nắm vững được khả năng này vì quá khó. Trẻ 3 tuổi biết trả lời câu hỏi: Của ai (Whose), vd " Cái xe của ai?", ai (who) (vd: con đi chơi với ai?), tại sao (why) (vd; tại sao con khóc?), bao nhiêu (how many)(mấy ? how many?), vd: con có mấy cái kẹo.
Bé 3 tuổi vẫn còn phát âm trât nhiều âm (mispronunciations), như nói con cọp là "con bọp" ( cờ và bờ), và trong trường hợp này bé đọc phụ âm "mờ' thành 'chờ". 

Thường khả năng phát âm (articulation skill) được phát triển hoàn chỉnh ở khoảng 5 tuổi. Lúc 3 tuổi bé có khả năng nói chuyện , đối thoại đơn giản với người lớn và mặc dù những lỗi về phát âm thường gặp, người nói chuyện không phải là người gia đình có thể hiểu hầu hết những gì bé nói, như người Vn chúng ta cũng có câu "thỏ thẻ như trẻ lên ba", mặc dầu 3 tuổi của chúng ta có thể chỉ là từ 2-3 tuổi tính theo kiểu Mỹ. Đến bốn tuổi bé dùng những câu 4-5 chữ với những câu (sentence ) hoàn chỉnh hơn. Ở Mỹ trên 5 tuổi mà vẫn phát âm sai (mispronunciations), bé được giới thiệu tới chuyên khoa về bịnh lý về phát âm và ngôn ngữ (speech language pathologist) để định bịnh và chữa trị nếu cần.

Trường hợp bé ở đây, bs nói là bé lưỡi ngắn (tongue tie= lưỡi bị cột lại) nên nói chậm. Trước đây ở Mỹ người ta cũng tin tương tự như vậy. Dưới lưỡi có một bộ phận nhỏ gọi là frenulum (là cái phanh, cái thắng) là một sợi gân mõng, lưỡi liềm, giữ cái đầu lưỡi xuống sàn miệng. Người ta tin rằng nếu cái frenulum ngắn, bé nói chậm và nhờ bs cắt cái dây này đi, một thủ thuật khá giản dị. Hiện nay, đa số bs không tin vào chuyện này nữa, và cho rằng sự phát triển về ngôn ngữ tùy thuộc về mức phát triển về thần kinh và về sự vận đông phối hợp của các bắp thịt (cơ/muscle liên hệ). Tuy nhiên một số bs ở Nam Triều tiên vẫn còn cắt cái frenulum này hy vọng để trẻ em Triều Tiên lỏng lưỡi, nói tiếng Mỹ cho đúng giọng (!). Nói chung, nếu em bé lè lưỡi ra mà đầu lưỡi đi ra quá răng cửa thì không cần can thiệp. Về trường hợp em bé ở đây, nếu trở ngại chính là em phát âm "mờ" không đúng, thì đây là một phụ âm môi (labial consonant), lưỡi không phải là yếu tố chính. Nếu muốn tập cho em phát âm "Mẹ" thì có thể tập cho em bằng cách cho em quan sát cách mình ngậm môi lại lúc nói "mờ", lấy tay đẩy nhẹ hàm dưới , tay kia vuốt hai má ra phía trước, để miệng em khép lại lúc phát âm "mờ'.

Tóm lại, nếi so với những tiêu chuẩn phát triển nói trên, em không lọt ra xa ngoài múc bình thường,thì vài lỗi phát âm cũng có thể chấp nhận được không có gì đáng lo. Nếu có thể, nên em đến bác sĩ răng hàm mặt hoặc nha sĩ xem có gì bất thường không. Ở Mỹ, những trẻ gặp vấn đề về phát triển (developmental disorders) được giới thiệu đến những chương trình gọi là EI (early intervention program) và được khảo sát , định bịnh và dạy phát âm miễn phí.Ở Việt nam, phụ huynh, cô giáo có thể bỏ thì giờ tập cho em phát âm đúng hơn. Nếu vẫn thấy lo ngại, nhất là nếu có những phát âm sai sau 5 tuổi, nên tham khảo những chuyên viên trị liệu về phát âm tiếng nói (speech therapist) ở những trung tâm lớn về nhi khoa nếu có thể được.
Chúc embé và gia đình may mắn.

BS Hồ văn Hiền
Hien V. Ho, MD

12-11-08

 

Bedwetting (enuresis)

Trường hợp em bé 6 tuổi đái dầm từ nhỏ (primary enuresis).

Theo như phụ huynh thì ngoài bịnh đái dầm, em bé mạnh khoẻ và tăng truởng tốt. Có lẽ chứng đái dầm không có nguyên do bịnh lý rõ rệt, cho nên bác sĩ được tham khảo chỉ cười rồi cho về. Thống kê cho biết 23% trẻ em 5 tuổi vẫn đái dầm, đến 7 tuổi 5-10% trẻ em vẫn còn đái dầm đêm, và hình như ở các nước khác nhau, tỷ lệ cũng tương tự.

Bé ở đây 6 tuổi, vẫn còn đái dầm thì cũng chưa đến nỗi nào.

Nguyên do chưa rõ lắm, nhưng có thể do một hoặc nhiều yếu tố sau đây:

  1. Yếu tố di truyền (chromosome 22); cha hoặc mẹ cũng đái dầm lúc nhỏ.

  2. Có thể hormon gọi là Anti Diuretic Hormone (ADH) ở mức hơi thấp về đêm so với người bình thường.

  3. Bọng đái (urinary bladder) có thể chưa phát triển thể tích bình thường, hoặc bắp thịt của bọng đái co thắt quá nhiều (muscle spasms).

  4. Bịnh nhân ngủ quá mê (sâu), nên không được thức giậy lúc bọng đái báo hiệu đầy nước tiểu, cần thức dậy đi tiểu.

  5. Nhiễm trùng đường tiểu, bất bình thường trong cơ thể học, sinh lý của bọng đáí, bộ phận sinh dục. Thường người ta phân tích nước tiểu (urinalysis) và cấy nước tiểu xem có vi trùng hay không.

  6. Yếu tố tâm lý: như stress, lo âu, sợ sệt , gia đình ly dị, dọn nhà chỗ khác, nhất là những trẻ dậy thì, thanh thiếu niên (teenagers).

 

Nếu khám và thử nước tiểu (urinalysis) bình thường, có thể thử những biện pháp sau:

  1. Uống nước ít lại trước khi đi ngủ.

  2. Tránh ăn nhiều trước khi đi ngủ, vì ăn nhiều cũng làm cho thận làm việc để bài tiết các chất biến dưỡng solutes, tạo nên nước tiểu.

  3. Tránh cà fê, trà, nước soda, nước ngọt có gas (carbonated beverages), làm đi tiểu nhiều.

  4. “Positive imagery: imagine yourself dry”: tự nhũ, tựởng tượng rằng mình sẽ thức giấc mà không ướt quần, sẽ tự thưởng cho mình một cái gì đó nếu thành công.

  5. ‘Bedwetting alarm”: chuông báo động , hơi phiền toái; bắt bịnh nhân phải thức giậy thật nhanh, nếu không được, cần ngườI khác trong gia đình phụ kêu thức dậy ngay. Lúc sensor cảm nhận giường bị ướt. người bịnh phải tắt máy báo động, đi tiểu tiếp và về ngủ lại, dần dần ngườI bịnh thức đi tiểu trưóc khi bị chuông ren vì giường bị ướt, hoặc nín tiểu tới sáng. Nên dùng máy kiên nhẫn ít lắm là ba tháng, đừng bỏ cuộc sớm

 

Figure 1 : Máy báo động (gắn trên vai) sẽ kêu lên và đánh thức bé dậy lúc sensor (màu vàng ) mang ở quần lót cảm nhận quần lót bị ướt (hiệu Malem, chừng 80 dô la)

[http://www.bedwettingstore.com/Bedwetting_Alarms/malem_bedwetting_alarm.htm?color=red]

 

Dùng thuốc: Nếu bịnh nhân thiếu hormon ADH nói trên , môt thuốc nhân tạo có tác dụng tương tự là desmopressin (DDAVP), có thể giúp bớt triệu chứng nhiều ít trong lúc còn uống thuốc, nhưng không chữa lành bịnh.

DDAVP: dạng viên uống (0.2mg), và dạng thuốc xịt vào mũi (nasal spray). Do vấn đề an toàn, hiện nay DDAVP dạng xịt không nên dùng để trị đái dầm nữa. Desmopressin giữ nước lại ,giảm lượng nước tiểu , nên nếu uống nước nhiều quá lúc đang dùng thuốc có thể gây ra ngộ độc nước (water intoxication), hạ muối natri trong máu (hyponatremia), bịnh nhân có thể co giật, đôi khi gây chết người. Bịnh nhân cần giới hạn nước uống (một ly) lúc cơm chiều và lúc ban tối, hai giờ trước khi đi ngủ thì không uống nước nữa. Cho nên, chỉ dùng trong những trường hợp thấy rất cần thiết và cần bs theo dõi, dặn dò. Chỉ dùng cho trẻ trên 6 tuổi. Liều sơ khởi là 0.2 mg buổi tối.

Tóm lại, đối với bé 6 tuổi, không nên la mắng, làm em xấu hổ; nên khuyến khích, kiên nhẫn, áp dụng thử một số phương pháp nói trên thay đổi thói quen (behaviorial approaches) , thay đổi ăn uống nhất là lúc chiều tối, giải quyết các xung đột gia đình,  tình cảm, các hoàn cảnh gây stress, làm như vậy có thể có ích, ngoài ra thì thời gian sẽ là liều thuốc tốt nhất, vì cứ mỗi năm số bé đái dầm giảm chừng 15%.

Nếu sau này,vẫn là một vấn đề quá phiền toái, có thể hỏi bs về cách dùng thuốc chữa trị.

 

BS Hồ Văn Hiền

6-14-2008

 

Jaundice in 2 months old

Vàng da ở trẻ em 2 tháng tuổi, nước tiểu vàng đậm.

Máu của bé cũng như máu chúng ta gốm những hồng cầu (red blood cells), và các hồng cầu này sống được chừng vài tháng (trung bình 120 ngày), phải phá hủy đi và thay thế bằng hồng cầu mới do tủy xương sản xuất. Các hồng cầu cũ này bị phá hủy (hemolysis) thải ra một chất gọi là bilirubin, màu vàng, cần được biến dưỡng qua lá gan (liver). Từ bilirubin ban đầu gọi là unconjugated bilirubin (chưa tiếp hợp) còn gọi là indirect bilirubin (bilirubin gián tiếp), lá gan biến thành bilirubin tiếp hợp (conjugated bilirubin) hoặc bilirubin trực tiếp (direct bilirubin) thi cơ thể mới thải bilirubin trong các ống dẫn mật, theo mật vào túi mật, ra đường tiêu hóa (ruột) và thải ra ngoài được.

Figure 1: Trong Gan (liver), bilirubin đưọc thải ra trong mật. Mật (bile) được dẫn đi từ tế bào gan qua các ống nhỏ, các ống này hợp lại thành ống [dẫn mật] chính của gan (common hepatic duct), ống này đổ vào ống túi mật (cystic duct), đi từ túi mật (gall bladder) để hợp thành ống dẫn mật chung (common bile duct) chảy vào ruột tá tràng (duodenum). Pancreas: Tùy tạng. (hình của Wikipedia)

 

Figure 2 :

Hồng cầu cũ bị phá hủy (hemolysis), sinh ra bilirubin không kết hợp (unconjugated bilirubin), gan biến thành bilirubin kết hợp (conjugated bilirubin) và thải ra hệ thống mật

(biliary system), xong được chuyển qua ruột (small intestine ), theo phân (feces) ra ngoài.

[http://diaglab.vet.cornell.edu/clinpath/modules/chem/images/bilirubin%20metabolism.jpg]

 

Nếu bilirubin gián tiếp (indirect/unconjugated bilirubin) lên quá cao trong máu của em bé, có thể gây tổn hại cho não (hệ thần kinh) của bé (brain damage). Phototherapy, là dùng ánh sáng trị liệu, là cho các photon của ánh sáng tác động lên bilirubin gián tiếp (indirect bilirubin) làm cho nó biến thành một chất isomer (chất đồng phân) gọi là lumirubin, lumirubin có thể thải ra ngoài qua mật và nước tiểu mà không cần gan biến dưỡng thành birirubin trực tiếp.

Nếu

  1. bilirubin được sản xuất ra nhiều quá

  2. bilirubin không được kết hợp (conjugated) đúng mức vì gan yếu hoặc bịnh

  3. nếu các ống dẫn mật bị nghẽn

thì bilirubin sẽ bị ứ đọng trong máu, nồng độ tăng cao, máu lưu thông dưới da, bình thường thì làm da có màu hồng, bilirubin trong máu làm cho da có màu vàng, gọi là bịnh vàng da (jaundice), trước đây tiếng Việt gọi là hoàng đãn.

Ở trẻ sơ sinh các hồng cầu này tương đối có lượng lớn hơn (căn cứ trên cân nặng), cần được thay thế nhanh chóng bằng những hồng cầu mới thích hợp với cuộc sống mới ngoài bụng mẹ, nên bilirubin được sản xuất rất nhiều, gan phải làm việc nhiều trong lúc gan còn non nớt.

 

Sau khi bé chào đời, nếu bị vàng da, có thể có một hoặc nhiều trong số bốn nguyên nhân sau đây:

1)      vàng da sinh lý (physiologic jaundice). Trẻ bị vàng da sau khi sanh được một hai ngày và mức vàng nhất lúc 3-5 ngày. Nguyên do là máu bé thay đổi sau khi chào đời và như trên đã giải thích, lá gan thanh toán lượng bilirubin không kịp thời, bilirubin gián tiếp (indirect bilirubin) tăng trong máu làm vàng da. Trẻ  Á đông (như VN, Trung Hoa), trẻ sinh thiếu tháng, dễ bị vàng da hơn các trẻ khác.

2)      vàng da bịnh lý (pathologic jaundice) thường xảy ra nội trong 24-48 giờ sau khi sanh. Lý do thường gặp nhất là do không tương hợp (incompatibility) giữa máu mẹ và máu con. Ví dụ người mẹ nhóm máu O, nếu người con máu A hoặc B, các kháng thể chống A hoặc B từ máu người mẹ có thể phá hủy một số hồng cầu (hemolysis) của người con, tạo ra một lượng bilirubin lớn trong máu , làm đứa bé vàng da. Một nhóm máu khác là nhóm Rhesus, nếu người mẹ không có kháng nguyên nhóm này (mẹ Rh negative) và có bầu em bé mang kháng nguyên Rh (antigen Rh positive), cơ thể mẹ sẽ sinh ra kháng thể  chống Rh (Rh antibodies). Đến kỳ có thai lần kế tiếp, nếu em bé Rh dương, kháng thể Rh của người mẹ sẽ tấn công các hồng cầu em bé này, và gây bịnh rất trầm trọng, có thể chết được. Bịnh Rh bất tương hợp (Rh incompatibility) giữa mẹ và con may thay, phần đông xảy ra ở người da trắng, hiếm khi thấy ở người Vn. Bịnh này có thể ngừa được.

3)      Vàng da cho bú mẹ; (breastfeeding jaundice), lúc bé chừng 7-10 ngày. Do sữa mẹ không đủ khối lượng, bilirubin đã được chế biến qua gan không được bài tiết qua đường ruột kịp thời nên bé vàng da. Khi lượng sữa mẹ tăng lên, bé sẽ bớt vàng.

4)      Phân biệt với vàng da do sữa mẹ (breast milk jaundice, BMJ), thường xảy đến chậm hơn, cho những trẻ bú sữa mẹ, và có thể kéo dài hàng tháng. Nguyên do chưa hiểu rõ lắm, có lẽ sữa mẹ có chất  là chậm lại sự biến dưỡng của bilirubin. Thường, rất hiếm khi thấy loại vàng da do sữa mẹ (BMJ) có tác dụng xấu nào trên sức khỏe đứa bé.

Ngoài ra, trong những trường hợp rất hiếm, bé có thể vàng da kéo dài do tắc nghẽn, tịt những ống dẫn mật trong gan (biliary atresia), bilirubin vẫn được tiếp hợp (conjugated) thành direct bilirubin, nhưng vì ống dẫn mật (biliary ducts) bị nghẹt, tắc,  muối mật không đi đến túi mật (gall bladder) không thải được ra đường ruột ra phân được. Do đó mức bilirubin trực tiếp lên cao trong máu, làm da vàng, thận cố gắng thải bilirubin ra ngoài, nước tiểu cũng vàng đậm nhưng phân thường lại trắng vì không có mật trong ruột (acholic stools, clay-colored stools) .

 

 

Figure 1 : Anatomical types of biliary atresia

Type 1 (3%): Atresia limited to common bile duct

Type 2 (6%): Cyst in the liver hilum communicating with "hairy" intrahepatic bile ducts

Type 3 (19%): Gallbladder, cystic duct and common bile duct patent

Type 4 (72%): Complete extrahepatic biliary atresia

[http://www.md.ucl.ac.be/pedihepa/BILIARYATRESIA.htm]

 

Trong trường hợp em bé đang bàn ở đây, vì rất ít dữ kiện nhưng chúng ta biết em đã hai tháng mà:

·         Vẫn vàng da sau hai tháng

·         bú kém

·         không có vẻ mạnh khỏe

·         nước tiểu vàng

1)      nên chúng ta phải rất dè dặt, phụ huynh nên đem em đến một bác sĩ nhi khoa càng sớm càng tốt. Nếu lạc quan nhất thì chúng ta có thể nghi là em bị vàng da do sữa mẹ (BMJ) và nếu đúng như vậy dự hậu tốt. Nếu muốn, mẹ em có thể ngưng cho bú sữa mẹ  một hai ngày, và sau đó cho bú sữa mẹ lại, xem có đỡ không.

2)      Tuy nhiên điều đáng quan tâm ở đây là em bé không khoẻ, và nước tiểu rất vàng. Bác sĩ cần nghiên cứu khả năng em có dấu hiệu của biliary atresia không, tuy đây là một bịnh khá hiếm.

3)      và em có bị viêm gan (hepatitis) hay không.

 

Hai trường hợp này đều cần điều trị gấp và theo dõi kỹ lưỡng. Một bước đầu là xem phân em màu gì, nếu phân trắng như đất sét, phải nghĩ đến biliary atresia (tịt , nghẽn ống mật), khám xem gan có lớn không,  thử máu em bé xem bilirubin của em thuộc loại nào, bao nhiêu phần trăm là bilirubin trực tiếp (direct bilirubin), nếu bilirubin trực tiếp cao (trên 20%) tổng số bilirubin, phải nghĩ đến tịt ống mật.Bịnh này cần giải phẩu mới trị được. Người ta dùng một khúc ruột để dẫn mật từ gan qua ruột ( Kasai procedure). Nếu, bị nghẽn ngay trong gan, thì không chữa được theo lối này. Một số phải ghép gan (liver transplant). Nói chung phải chữa sớm trong vòng 2-3 tháng đầu, để lâu, mật ứ trong gan làm xơ (cirrhosis), hư hại gan.

Mong cha mẹ em  cho em đi khám gấp và chúc mọi người may mắn.

 

BS Hồ Văn Hiền

14 tháng 6 năm 2008

 

Absence epilepsy (petit mal)

Trả lời bà Trần Thu Hà, ở Thái Bình.

Cảm on bà Hà đã cho những chi tiết rõ ràng về định bịnh cũng như thuốc men. Tôi đoán con trai 9 tuổi của bà đã được bác sĩ thần kinh khám và điều trị cẩn thận.

Tôi chỉ xin trình bày một ít kiến thức căn bản về bịnh này để chúng ta cùng học hỏi thêm và sau đó có vài điểm gợi ý cho trường hợp con bà Hà.

Động kinh cơn vằng, dịch từ  Absence seizures, hoặc absence epilepsy , trước đây thường gọi là “petit mal” (nghĩa đen là cơn bịnh nhỏ). Trong bịnh này, người bịnh thường là trẻ em từ 4 đến 12 tuổi (ít khi trẹn 20 tuổi), cơn động kinh , mặc dù có chữ động, khá đơn giản, người bịnh mất ý thức (impaired consciuousness) trong một khoảng thời gian ngắn, thường là vài giây đồng hồ như trường hợp đang bàn ở đây. Dù là đang ngồi học, hoặc đang đứng chơi, cháu bé bổng nhiên nhìn trống vắng vào không trung (stares vacantly), không nói ra tiếng, có vẽ như không nghe người khác nói gì cả . Rồi đột nhiên cháu tỉnh trở lại, làm tiếp việc mình đang làm, như viết, chơi, có lúc cháu vẫn tiếp tục chạy ngay lúc cơn trống vắng xảy ra. Tuy nhiên trong ý thức của cháu , đã có một sự gián đoạn, tức la 2cháu đã mất một phàn nào ý thức về thế giới bao quanh trong một khoản thời gian dù ngắn, mặc dù là nhìn từ bên ngoài do một cơ chế tự động (automatism) có vẽ như không có gì xảy ra. Bịnh nhân có thể bị những cơn này 50-100 lần một ngày mà người ngoài không thấy, nhiều khi lầm tưởng là cháu mắc chứng thiếu chú ý (attention deficit disorder), hay mơ mộng, hoặc buồng ngủ, lười biếng, nên la rầy, hoặc định bịnh sai.

Nói tóm lại, ngoài những cơn vắng này đôi khi khó nhận ra, chỉ không tới 50% là kèm theo  chứng động kinh co giật thật sự (tonic clonic seizures).

Não điện đồ cho thấy những thay đổi đặc trưng của bịnh này: sóng não chậm với những mũi nhọn (spikes, dáng như tháp chuông nhà thờ, đồng nhịp với nhau, đối xứng , và có ba (3) mũi nhọn trong một giâ đồng hồ (synchronous, symmetrical 3 Hertz spikes and slow wave pattern) .

Figure 1 (http://professionals.epilepsy.com/img/absence_eeg2_s.jpg)

 

Trong câu hỏi, chúng ta không nghe nói điện não đồ bịnh nhân như thế nào. Điểm này quan trọng vì đây là yếu tố tất yếu trong định bịnh động kinh cơn vắng, nếu đọc não điện đồ không chính xác thì có thể định bịnh không đúng. Ở Mỹ thường những trường hợp khó trị như thế này được gởi đến những bác sĩ chuyên về thần kinh trẻ em, có kinh nghiệm thêm về lãnh vực các chứng động kinh (epileptologist), thường ở những trung tâm y khoa lớn.

Vậy chúng ta có thể làm gì cho em ở đây. Đề nghị phụ huynh tìm hiểu thêm về bịnh này , nên trình bày vấn đề cho bác sĩ thần kinh của em , hỏi xem có thể giới thiệu đến bác sĩ nào chuyên về thần kinh trẻ em (pediatric neurologist), nếu là người chú tâm nhiều đến các chúng đông kinh thì càng tốt. Nên nhờ bs đó khám em lại, nếu có thu video được những cơn vắng của em thì rất tốt, đưa cho bác sĩ xem. Những vấn đề này cầ được để ý tới:

-định bịnh có đúng hay không, ngoài cơn vắng có bịnh gì khác không.

-có cần tăng liều thuốc hay không, có cần thử máu để đo mức thuốc trong máu hay không

-thuốc đang dùng có chất lượng tốt hay không, có phải thuốc giả hay thuốc quá củ không?

-thuốc có uống đều đặn hay không? ai cho bé uống thuốc.

-trong các thuốc đang dùng, Depaken (valproic acid) thường hiệu nghiệm cho chứng động kinh cơn vắng, nhưng liều lượng thế nào cần người chuyên môn theo dõi. Những thuốc kia nên xem lại có thật cần thiết hay không, vì nếu không cần thiết, có thể làm bịnh nặng thêm, thuốc càng nhiều thì càng nhiều biến chứng.

Một thuốc đặc trị hàng đầu cho bịnh absence là  Ethosuxamide (ETX, tên thương mãi là Zarontin), không nghe mẹ cháu nhắc tới, có the nên hỏi BS xem có dùng chưa và BS thấy cần không.

Nói chung bịnh này ít có gì nguy hiểm, phụ huynh cần cẩn thận bảo vệ em , tránh những hoàn cảnh nguy hiểm, dễ gây tai nạn (như bơi lội nơi vắng vẻ). Đa số bịnh nhân khỏi bịnh vào tuổi dậy thì trở đi.

Chúc bịnh nhân và gia đình may mắn.

BS Hồ văn Hiền

May 16th, 2008

 


Hoán chuyển động mạch lớn của tim(Transposition of the great arteries)

Date: Fri, 15 Aug 2008 18:03:23 -0700


Ông Tran Quang Hoc hỏi về bé 5 tuổi, bị tật tim bẩm sinh (chuyễn vị đại động mạch) định bịnh từ lúc còn trong lòng mẹ, từng bị viêm nội mạc tim (endocarditis) do nhiễm trùng rất nặng nhưng cứu được. Ông hỏi có thể gởi kết quả chẩn đoán ở Vn để bs bên Mỹ nghĩ đến cách giải phẩu cho cháu được không.

Bình thường , máu châu thân (peripheral)(màu xanh)  được đem về tim phải, đi vào tâm thất phải (Right Ventricle), rồi bơm vào động mạch phổi (pulmonary artery), đi vào phổi, máu được thêm oxy từ không khí phổi hít vào (làm máu đỏ tươi), CO2 được thải ra, và máu nay đã giàu oxy chạy về tim trái, được  tâm thất trái (left ventricle) bơm ra châu thânđể đáp ứng nhu cầu của các bộ phận khác nhau (như bắp cơ, gan, phổi, tim, vân vân). (xem hình của wikipedia)

 

Figure 1 : Tim bình thường: màu xanh máu có mức oxy thấp, màu đỏ máu giàu oxy nhờ lấy thêm oxy  ở phổi

Trong trường hợp hoán chuyển động mạch, động mạch phổi phát xuất từ tâm thất trái và động mạch chủ lại phát xuất từ tâm thất phải. Do đó tuần hoàn phổi (pulmonary circuit) và  tuần hoàn chu thân (systemic circulation) bị tách rời nhau, thay vì kế tiếp nhau. Người bịnh chỉ sống sót được nếu có những ngã thông thương với nhau giữa hai hệ tuàn hoàn trên (như thông liên thất, giữa hai tâm thất).

 

Figure 2 : Chuyển vị các đại động mạch


Ở Mỹ, trường hợp tương tự cần sự cộng tác của bác sĩ nhi khoa (pediatrician) là người theo dõi em đều đặn và hiểu em và gia đình, hoàn cảnh xã hội của em hơn cả, bác sĩ tim nhi khoa (pediatric cardiologist) là người chú tâm vào khía cạnh định bịnh và điều trị vấn đề tim mạch, bác sĩ giải phẩu tim mạch là người nghiên cứu xem em có cần can thiệp giải phẩu (surgical intervention) hay không, có nên giải phẩu hay không, và nếu can thiệp thì làm thủ thuật (procedure) nào.

Theo tôi nghĩ, ông nên liên lạc trưc tiếp với các nơi sau đây:

1. Bác sĩ định bịnh cho em trước khi sanh
2. Bác sĩ gia đình hay bs nhi khoa săn sóc cho em
3. Bác sĩ tim (cardiologist) từng định bịnh cho em
4. Bác sĩ bịnh viện từng chữa em lúc bị viêm nội mạc tim

và yêu cầu các bs hoặc bịnh viện cho bản sao các kết quả thử nghiệm (kể cả nguyên bản số digital của CT, sono, thông tim nếu được) , bản báo cáo (report) về trường hợp của em (trong đó có bịnh sử, chẩn đoán, quá trình điều trị và đề án điều trị kế tiếp). Trong trường hợp bịnh chuyển vị đại động mạch (transposition of the great arteries), arterial switch, tức là đem các động mạch về đúng vị trí của chúng chỉ được thực hiện trong vòng 4 tuần sau khi sanh, sau đó có thể mổ được mà cũng có thể không, tùy trường hợp, vậy bs tim cần cho biết ý kiến về việc này (ví dụ Rastelli operation, tôi có trích dẫn về chuyên môn dưới đây(1)  để cha mẹ bịnh nhân và bs tham khảo)

Đề nghị xin các bác sĩ dùng trực tiếp từ Anh ngữ, vì từ tiếng Việt ở ngoại quốc rất khó tìm người dịch cho chích xác, đa số các tự điển về danh từ y học mà tôi có được không có ích lắm cho giới chuyên môn vì cách dịch rất tùy tiện và không thống nhất, dễ gây hiểu lầm.

Tôi đoán các bs nhi hoặc tim ở Sài gòn, nhất lả ở bv lớn như Nhi đồng Chợ Rẫy là những người thành thạo nhất về các thủ liên lạc với các bs cùng chuyên khoa nước ngoài cho một trường hợp bịnh lý nào đó, vì mỗi bịnh có những nhu cầu riêng của nó, nhứt là những bịnh hiếm có, có những chuyên gia giỏi về bịnh đó mà người trong nghề mới biết tường tận. Ngoài ra, người ngoài giới y khoa rất khó biết nơi liên lạc để có câu trả lời thoả đáng cho nhu cầu mình.

Về việc kiếm người/cơ quan giúp đở, gần đây có một em bé VN ở Huế được mổ lấy bướu 7 kg ra khỏi mặt trong một cuộc giải phẩu kéo dài 12 tiếng đồng hồ ở Florida, do hội International Kids Fund tài trợ. Ông có thể vào trang web http://www.internationalkidsfund.org  để tìm hiểu.

Địa chỉ và DT:
International Kids Fund
Jackson Memorial Foundation

Park Plaza East
901 NW 17th St. Suite G
Miami, FL 33136

305 585 5888
or
1 877 IKF KIDS


Chúc gia đình bé may mắn.


BS Hồ văn Hiền
5-17-08

(1) http://www.emedicine.com/ped/topic2548.htm 

 

Health effects of cell phone stations

Vấn đề nguy cơ cho sức khỏe do trạm điện thoại gây ra:
Trả lời Ông Đào Ngọc Cẩn ở Pleiku:
 
Trường hợp óí mữa, nhức đầu , mất ngủ lúc ở gần đài điện thoại không dây (wireless telephone).
Ông hay bị ói mữa, chóng mặt, mất ngủ, ba tháng nay, từ khi có cột phát sóng điện thoại di động gần nhà ông. Ông Cẩn hỏi về vai trò gây bịnh của các cột phát sóng điện thoại ( wireless phone station).

Năng luợng điện từ (electromagnetic energy) hoặc bức xạ điện từ (electromagnetic radiation) gồm những sóng năng lượng từ  (magnetic) và điện (electric) cùng di chuyễn trong không gian. Vùng các sóng này di chuyển được gọi là điện từ trường. Trong kỹ thuật điện thoại di động, các trạm anten điện thoại (cellular base stations, cell stations) được sắp xếp thành những ‘cell’ (tế bào) nối liền với nhau, phủ các sóng điện từ lên trên một vùng nào đó. các anten này được đặt trên các điểm cao, như tháp (tower). cột cao, mái nhà hoặc các tháp nước. Anten có hai loại, một loại phát đi khắp hướng (omni –directional antenna ) và loại hình như cái pa nô , hướng về một phía nào đó. lớn khoảng 1x4 feet (3 tấc x1,2m) (panel or sector antenna ). đường của sóng phát ra đi một lộ trình hẹp nào đó. Sức mạnh của điện từ trường chung quanh anten tùy thuộc khoảng cách xa gần đối với nơi phát sóng, độ cao của máy phát sóng , hướng của sóng , sức mạnh của từng maý phát sóng (transmitters) làm việc trên an ten đó, và số máy phát sóng của đài đang phát cùng một lúc. Cho nên đối vơi người ở đưới mặt đầt thì bị ảnh hưởng của điện từ trường yếu gấp nhiều ngàn lần từ trường đo được ở trên cao ngang tầm anten phát sóng, và càng ra xa thì ảnh hưởng càng yếu đi rất nhanh. Nói một cách khác, theo FDA là cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc men của Mỹ, mức bức xạ điện từ trường đối với người ơ chung quanh các đài phát sóng điện thoại di động nhỏ hơn hàng ngàn lần mức bức xạ các cơ quan chuyên môn xem như là an toàn cho sức khỏe (In fact, ground-level exposure from such antennas is typically thousands of times less than the exposure levels recommended as safe by expert organizations). Ở Mỹ có những cơ quan kiểm soát và bảo đảm các hãng điện thoại giữ mức bức xạ ở mức qui định.Luật lệ ở VN có thể khác.
Cho đến nay, có nhiều khảo cứu về những vấn đề sức khỏe có thể gây ra do điện thoạI di động và những đài phát song điện thoại. Tuy nhiên theo FDA thì chưa có nguy hiểm nào gắn liền với điện thoại di động được chứng minh dứt khoát. Ngược lạiI, chưa chứng minh được dứt khoát là kỹ thuật này hoàn toàn an toàn cho ngườI dùng. Do đó, một số chính phủ như chính phủ nước Anh có những khuyến cáo giới hạn việc cho trẻ dùng điện thoạI wireless vì sợ những biến chứng về lâu dài, dù hiện nay chưa dứt khoát chứng minh được, nhưng có thể, sau một thời gian dài (hàng chục năm), có thể lộ diện.

Trường hợp ông Cẩn, nên xét những yếu tố sau:

Ngoài cột anten, có yếu tố môi trường nào thay đổ gần đây (như nước uống, nhà máy thải chất độc ngoài khí quyển trong, nuớc uống, đất gần nhà ông)

Có những thức ăn, thuốc uống nào mà lúc xa nhà ông không uống nữa, nên không bị ói mữa?
Có yếu tố tâm lý tình cảm nào làm cho ông thấy thoải mái hơn lúc ông ra khỏi nhà mình?

Dù sao ông đã 70 tuổi, nếu ông vẫn bị ói mữa , nhức đầu, nên đến bs nhất là bs chuyên về tiêu hóa khảo sát cho kỹ (chụp quan tuyến, nội soi nếu cần), để khỏi định bịnh sót những bịnh nguy hiểm như viêm ruột, viêm gan, u bướu gan ruột…

Nếu chắc chắn không bị những vấn đề kể trên, mới nên nghĩ đến việc dời đi nơi khác nếu ông thật sự thuyết phục là nguồn gốc của triệu chứng của ông do đài điện thoạI gây ra.


BS Hồ Văn Hiền
8/16/08

 

Dị ứng mũi, vẹo sụn vách mũi và hen suyễn.

(A case of allergic rhinitis, septal deviation, and asthma)

 

Trả lời trường hợp bé 6 tuổi ở Lâm Đồng bị dị ứng mũi, vẹo vách sụn mũi, nghẹt mũi cấp tính, hen và amiđan lớn.

Dị ứng mũi:

Trước hết nói về dị ứng mũi. Những chất sinh kháng thể (antigen) gây ra phản ứng  có thể là  phấn bông, mốc meo (mold spores), chất bài tiết của các con rận li ti ( các con dust  mites trong mền chiếu mà ta chỉ có thể thấy bằng kính hiển vi, chất bài tiết của chúng gây allergy), các vảy li ti của da, lông  (animal danders) các thú nuôi trong nhà như chó mèo  .

Tiếp xúc với niêm mạc mũi của những người nhạy cảm (atopic individual) , làm cơ thể sản xuất các IgE là những kháng thể phụ trách dị ứng, huy động  các tế bào mast cells của mũi, tiết ra chất histamine va leukotriene, làm mũi  sản xuất ra chất nhớt (mucus), (chảy mũi), sưng (làm nghẹt mũi và ngứa. Nên để ý đến chất histamine này vì những thuốc chống dị ứng sẽ bàn sau có tác dụng chống histamine (antihiastaminic drugs).

Figure 1

Dị ứng có thể làm mắt đỏ, ngứa , mũi hay hắt hơi, ghẹt, sổ mũi, họng đau, ngứa, nhớt chảy sau họng gây ho.

Biến chứng:

Những phản ứng này có thể làm tắt nghẻn các đường thoát chất nhớt của các xoang mũi làm người bịnh dễ bị viêm xoang mũi (xem hình mũi).

adenoids

Figure 2 : Palate: Vòm miệng.

Adenoids nằm phiá sau và trên họng có thể sưng lên, lảm trở ngại lưu thông không khí lúc thở bằng mũi.

Tonsils: Amiđan, thường gọi là “thịt dư’.

Ngoài ra , những trẻ dị ứng thường có hai amaiđan (tonsils) rất lớn như bịnh nhân ở đây, phiá sau họng các adenoids cũng có thể sưng lớn làm chặn đường hô hấp trên , làm các em ngáy lớn, khó thở về đêm, ngủ không yên, giấc ngủ gián đoạn bởi những lần thức giấc liên tục vì nghẹt thở ( sleep apnea) làm em luôn luôn ngái ngủ ban ngày, thiếu chú ý , mệt mỏi, học hành kém hiệu quả. Trường hợp ở đây, bé có amidan lớn, không biết bs đã có ý kiến gì chưa. Có những khảo cứu cho thấy dùng thuốc trụ sinh Augmentin trong 2 tuần liên tiếp có thể là amidan teo lại và giảm triệu chứng nghẹt thở ban đêm lúc ngủ. Nếu thấy cần bs có thể quyết định cắt amiđan và nếu cần nạo adenoid của bé. Về vách sụn mũi của cháu bị vẹo (deviation of nasal septum[1]), một khảo cứu ở Balan ( Poland ) cho thấy ở trẻ con bình thường hết một phần ba là có vẹo sụn vách mũi. Nếu trước đây cháu bị chấn thương mũi, thì có thể vẹo vách mũi do chấn thương gây ra , nên nhờ BS Tai Mũi Họng xác nhận lại, còn không có thể đây không phải là yếu tố quan trọng cần phải chữa.

Tác dụng trên tai:

Trong tai của chúng ta có một khoảng trống gọi là tai giữa (middle ear) nằm giữa màng nhỉ (tympanic membrane ) và tai trong. Có một cái ống  nối miệng với hai tai giữa, đem không khí vào tai giữa, giữ cho thoáng (ventilation). Người bị dị ứng mũi, hai các ống này có thể bị nghẹt lại. Áp suất trong tai giữa giảm xuống làm người bịnh thấy lùng bùng tai. Hoặc trẻ con có thể dễ bị nhiễm trùng tai giữa vì dị ứng mũi cọng thêm các chứng đi kèm như adenoid hoặc hạnh hạnh nhân quá lớn.(xem hình otitis media).

Thuốc men:

Kháng histamin:

Những thuốc trị  dị ứng mũi  gồm những thuốc chống histamine (antihistaminic)  như Benadryl (diphenhydramine) . Benadryl tốt, rẻ tiền và an toàn cho trẻ con nhưng có thể gây buồn ngủ và phải uống nhiều lần trong ngày. Tính cách gây buồng ngủ, làm người bịnh lờ đờ, kém tỉnh táo (sedation) có thể trở ngại cho việc học hành và nguy hiểm đối với những người lái xe hơi hoặc nếu ở Vn những trẻ đi xe đạp xe gắn máy. Một số thuốc mới hơn nhưng đắt tiền hơn, ít buồn ngủ hơn, hoặc không làm buồn ngủ: Claritin (loratidin), Allegra, Zyrtec,  (Zyrtec hơi buồn ngủ) có thể chỉ cần  uống một hai lần mỗi ngày, và trẻ con dùng được . Loratidin (hiệu là Claritin) ở dạng xy rô (5 mg trong 5cc), viên tan trên lưỡi, viên tác dụng 24 giờ, bán tự do ở Mỹ. Tôi đoán là các thuốc này lại càng dễ mua hơn nữa tại Việt nam, tuy nhiên tên thương mại có thể khác.  

Thuốc làm co niêm mạc (decongestants)

Một số thuốc giúp bớt nghẹt mũi (decongestant) như pseudoephedrine và phenylpropalamine có thể được dùng thêm lúc cần thiết để  cho bịnh nhân bớt khó chịu và dễ thở hơn. Có thể dùng riêng như syrup hoặc viên nhai Sudafed, hoặc kết hợp với các chất kháng histamine như trong  Dimetapp, Claritine D ( vi ên thuốc , Allegra D (D là viết tắt của decongestant).

Một số thuốc nhõ mũi để bớt nghẹt nhanh chóng  như Afrin, Dristan, Neosynephrine chỉ nên dùng ngắn hạn (lúc thật cần thiết ví dụ bịnh nhân khó ngủ lúc nghẹt mũi ban đêm vì bị cảm sốt, chỉ dùng vài ngày thôi) vì dùng lâu dài sẽ làm mũi nghẹt nặng hơn nữa vì các mạch máu nở lớn thêm (rebound vasodilation).

Thuốc xịt mũi chống dị ứng:

Môt loại thuốc nhõ mũi an toàn là Cromolyn nasal solution (4%) (Nasalcrom) có thể dùng để ngăn ngừa các triêu chứng, xịt mỗi bên mũi một hai  cái, 3-6 lần một ngày, nhiều lần nên cũng khá bất tiện.

Hiện nay thuốc hiệu nghiệm nhất là các corticosteroid (corticoit, tiếng Anh gọi tắt là steroid)) dưới dạng xịt mũi. Tên thương mại ở Mỹ là Nasonex (mometasone), Flonase (fluticasone nasal, hiện nay có dạng generic, không mang thương hiệu nên rẻ tiền hơn Flonase nhiều và ở Mỹ được nhiều hãng bảo hiểm cho phép mua), Rhinocort, Nasacort AQ. Thường lúc sơ khởi xịt một hoặc hai cái vào mỗi bên mũi, hai ba lần mỗi ngày. Ba bốn ngày sau, khi triệu chứng đã giảm, bớt lại liều thuốc còn xịt một cái mỗi bên, một lần mỗi ngày. Nên hướng đầu chai thuốc về phía cánh mũi , để thuốc đừng chạy thẳng về phiúa sau và xuống miệng  . Vì corticoit là một loại thuốc mạnh và có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng chiều cao của các em bé cũng như giảm sức đề kháng (miễn nhiểm/ immunity), chúng ta nên tránh dùng ở trẻ em quá nhỏ, cẩn thận liều lượng và đừng dùng quá nhiều vì sốt ruột. Nên cẩn thận nếu bịnh nhân mắc bịnh hoặc tiếp xúc với người bịnh bị trái rạ (chickenpox), các bịnh do herpes (làm lở môi, lỏ miệng, lở bộ phận sinh dục).Tuy nhiên theo kiến thức hiện nay, thuốc xịt vào mũi không hấp thụ vào máu ở mức đáng kể và có vẻ an toàn trong đa số trường hợp.

Thuốc chống leukotriene:

Một thuốc tương đối mới kháng chất leukotriene trong phản ứng của cơ chế dị ứng là Singulair (monteleukast), được FDA chấp thuận dùng để ngăn ngừa allergy cho trẻ em trên 6 tháng tuổi (suyễn, dị ứng chất allergen trong nhà/perennial allergic rhinitis; và trên 2 tuổi nếu allergens ngoài trời/nghĩa là seasonal allergic rhinitis). Ở Mỹ thuốc này rất đắt tiền.

Bệnh suyễn (Asthma)

[Bệnh suyễn có nhiều nguyên nhân gây ra và cùng một bệnh nhân  có thể có nhiều yếu tố khác nhau góp lại để gây bệnh suyễn, tưởng nên nhắc lại những số khái niệm về cơ cấu của hệ hô hấp. Khi chúng ta thở vào, không khí đi vào mũi hoặc miệng, qua ống khí quản (trachea) là cái ống cưng cứng, nằm chính giữa cổ, mà ta có thể sờ được một cách dễ dàng, sau đó không khí được phân phối khắp các vùng trong phổi nhờ những nhánh ống càng ngày càng nhỏ hơn, tủa ra như  hình những rễ cây. Những ống này gọi là phế quản (bronchi) đem không khí đến những túi nhỏ ở tận cùng gọi là phế nan (alveoli). Khi ta thở ra, không khí được đẩy ngược trở ra từ các phế nan và thoát ra ngoài ở miệng hoặc mũi. Ðường kính của những phế quản nói trên được điều chỉnh ở mức tối hảo để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Nói một cách giản dị, các phế quản phải được mở rộng vừa đủ để không khí đi ra đi vào. Yếu tố này tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố kiểm soát, một số yếu tố làm nở cuống phổi, yếu tố khác ngược lại có khuynh hướng làm co cuốn phổi lại. Ví dụ khi ta sợ sệt trước một tai họa nào đó khiến ta phải "tranh đấu hoặc trốn chạy", tuyến thượng thận tiết ra chất adrenaline nhiều trong máu để giúp ta đối phó với các "stress" đó (fight or flight), một trong những tác dụng của chất adrenaline là làm cho cuống phổi nở ra để chúng ta lấy hơi.

Trong trường hợp người bị suyễn, cuống phổi nhạy cảm một cách bất bình thường và dễ co thắt lại (hyperreactive airways). Nếu cháu bé ngửi phải một chất làm cuống phổi khó chịu, hoặc bị một bệnh siêu vi trùng (virus) nào đó hoặc ra không khí lạnh làm nhiệt độ trong cuống phổi thay đổi đột ngột, các cuống phổi sẽ thắt lại. Cộng thêm vào đó, những chất nhờn được tiết ra nhiều và niêm mạc trong lồng cuống phổi sưng lên. Các biến cố này làm cho lòng cuống phổi nhỏ lại rất nhiều và không khí đi qua một cách khó khăn tạo nên một tiếng vi vu như tiếng sáo diều nếu áp tai vào ngực bệnh nhân để nghe. Nếu suyễn nặng ta có thể nghe được mà không cần dùng ống nghe, đó là tiếng khò khè mô tả ở trên (tiếng Anh gọi là "wheezing").

Nếu cha mẹ bệnh nhân hiểu được những nguyên tắc căn bản trên, sự quan sát bệnh nhân sẽ dễ dàng hơn và người cha mẹ vì hiểu được tình hình có thể tường trình với bác sĩ một cách trung thực hơn về hiện trạng con mình (nhất là lúc liên lạc điện thoại) và hiểu được những nguyên tắc điều trị thuốc men cho cơn suyễn.]

 

Chữa bệnh suyễn

Nói chung nguyên tắc điều trị bệnh suyễn là làm sao cho các phế quản (bronchi) đừng hoặc bớt thắt lại và làm giảm bớt các chất nhớt làm nghẹt cuống phổi..

Một số thuốc  có tác dụng làm nở cuống phổi như Albuterol (Ventolin, còn có tên là Proventil). Nếu con bạn dùng các thuốc suyễn này bạn nên theo đúng liều lượng được bác sĩ quy định rất chặt chẽ. Nếu bạn cho không đều đặn, sẽ có những lúc cơ thể cháu không đủ thuốc và cháu có thể khò khè trở lại; nếu bạn cho không đúng liều (như xài muỗng quá nhỏ) bệnh có thể không bớt. Nếu xài quá liều có thể rất nguy hiểm vì nói chung những thuốc suyễn hay gây ói mửa hoặc kích thích đứa trẻ quá độ. Một số thuốc được xài dưới dạng xịt (dùng metered dose inhaler viết tắc là MDI). MDI gắn vào một cái ống plastic gọi là spacer, dạng như caí ống thổi lửa gọi là Aerochamber. Bịnh nhân ngậm một đầu ống, hoặc nếu bịnh nhân còn nhỏ, dùng mask ( mặt nạ) chụp lên miệng và mũi em bé, bơm thuốc vào đầu kia của ống  để lúc bịnh nhân hít vào thuốc vào phổi tốt hơn, hoặc có thể xài mái bơm chạy bằng điện (gọi là nebulizer). Hai phương pháp này  đem thuốc trực tiếp tới đường hô hấp của bệnh nhân nên tác dụng nhanh và ít gây tác dụng phụ càng ngày càng trở nên thịnh hành, tuy nhiên một lần nữa phải cẩn thận dùng đúng cách, dùng quá mức có thể nguy hiểm (vì đây vẫn là thuốc có dược tính không phải không khí thường).

AeroChamber Plus® VHC with mouthpiece AeroChamber MAX® VHC with mouthpiece

Figure 3

Bịnh nhân hít thuốc suyễn  từ trong ống Aerochamber

Figure 4

Ống Aerochamber giúp đem thuốc suyễn vào phổi tốt hơn

(Hình của Monaghan Medical Corp)

Figure 5

Dùng mask để cho thuốc suyễn vào phổi bé. Phải để bé hít vào chừng năm lần trước khi lấy ra.

(Hình của CPAP&more)

 

Nói chung nếu bệnh không thuyên giảm nên dùng điện thoại cho bác sĩ biết sớm để tính toán lại liều lượng, hoặc đổi thuốc khác, hoặc đổi "chiến thuật" trị liệu. Nếu bịnh nhân cứ bị triệu chứng dai dẵng, phải dùng albuteron nhiều lần trong tuần, bác sĩ có thể dùng những chất corticoid hít (Metered dose inhaler cho bịnh nhân hít vào hàng ngày, dù có triệu chứng hay không cũng phải dùng đều ( như Flovent/fluticasolne)) hoặc bơm bằng máy điện (như thuốc corticoid Pulmicort) . Những thuốc này cần phải được bác sĩ theo dõi kỹ lưỡng lúc xài và cha mẹ chỉ nên dùng đúng theo lời chỉ dẫn, đừng bao giờ tự tiện xài theo thói quen.

Một ống thuốc hít hình như cái dĩa,  tên là Advair Discus (Seretide ở England), kết hợp chất salmeterol (long acting beta 2 agonist) làm nở cuống phổi tương tự như albuterol nhưng tác dụng kéo dài hơn), và chất corticoid fluticason làm giảm viêm. Advair có ích trong những trường hợp hen suyễn khó trị bằng albuterol dùng một mình. Nên nhớ FDA cảnh báo (warning) là thuốc salmeterol  có thể tăng tử vong liên hệ đến bịnh suyễn (asthma  related death).

Cha mẹ nên yêu cầu bác sĩ cho biết những bước tuần tự phải làm như cho uống thuốc gì, xịt thuốc gì, bao lâu một lần nếu cháu đột ngột lên cơn suyễn.

 

Những ý niệm trên hy vọng có thể giúp thính giả hiểu những nguyên tắc chung mà BS dùng lúc chữa bịnh dị ứng mũi bằng thuốc men, và do đó có thể hỏi BS về những điều mình muốn biết.

Ngoài ra cũng nên để ý tới môi trường sống và tránh những yếu tố gây dị ứng mũi như:

·         vệ sinh nơi nhà ở , phòng ngủ:

·         thú nuôi trong nhà :chó, mèo, chim (pets).

·         giường chiếu bụi bặm, đăc biệt chú ý tới gián (cockroach) hay gây dị ứng hô hấp.

·         cây kiểng ,

·         chỗ ẩm thấp có thể dễ mốc meo

·         các chất hóa học , phân bón, xăng nhớt, đồ xịt chùi bàn ghế , thuốc sát trùng

·         nấu nướng nhiều trong nhà gây khói, các hơi từ chất đốt,

·         rất quan trọng: người lớn hút thuốc lá

·         garage, xe gắn máy nổ thong với nhà chính

Những yếu tố môi trường này rất quan trọng trong việc gây ra bịnh hoặc làm bịnh nặng hơn, từ dị ứng mũi cho đến những bịnh đi kèm như hen suyễn (asthma), viêm phế quản, sưng tai giữa (otitis media).

Khí hậu có thể là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến các bịnh này. Thường những người suyễn sẽ dễ khò khè lúc hít không khí lạnh vào vì các đường hô hấp nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ một cách đột ngột. Ta có thể giảm thiểu tác dụng này bằng các mặc áo quần đủ ấm, nhất là dùng khăn quàng cỗ dày, quấn luôn chung quang vùng miệng mũi để không khí hít vào ấm hơn. Hoặc có thể dùng khẩu trang (mask) để giữ hơi ấm chung quanh vùng mũi và miệng). Nói chung, ở Mỹ, ít khi bác sĩ khuyên bịnh nhân dời đi vùng khác ở vì khí hậu vùng đó gây khó khăn cho bịnh dị ứng mũi của bịnh nhân. Những vùng ấm hơn của Việt nam như Sàigòn, các thành phố  gần biển đi nữa cũng có thể có mức ô nhiễm rất cao, còn tệ hại cho bịnh hhân hơn nữa. Đó là chưa kể những tác động do thay đổi lối sống, công ăn việc làm, tâm lý trẻ em bị xáo trộn...Thường thì, dù dọn đi nơi khác, sau một thời gian vài tháng vài năm, bịnh nhân cũng bắt đầu dị ứng với những allergen nơi mới đến.  

Ước mong buổi nói chuyện này làm sang tỏ một số ưu tư của quí phụ huynh . 

 

Great Falls , Virginia

BS Hồ Văn Hiền

Ngày 2 tháng 3 năm 2008



[1] http://www.journals.elsevierhealth.com/periodicals/pedot/article/PIIS0165587605006087/abstract

 

Tai chảy mủ kinh niên (mạn tính):

Chronic suppurative ear disease:

Trả lời trường hợp cô NTHT:

Bịnh nhân 27 tuổi , chảy mủ tai lúc hai tuổi, sau khi té từ bàn xuống, từng trị thuốc nam. Nay nghe không rõ, lúc cảm thì chảy mủ tai. Nhiều bác sĩ được tham khảo có những lời khuyên

khác nhau về mổ hay không mổ.

Trả lời: Theo tôi nghĩ, bịnh nhân hiện nay mắc chứng viêm tai kinh niên (hoặc mãn tính), có lẽ cả hai bên. Chuyện BN té lúc hai tuổi có thể không liên hệ đến chứng nhiễm trùng tai giữa. Nói một cách vắn tắt, âm thanh vào tai, đi đến trong đáy ống tai ngoài thì gặp màng nhĩ (tympanic membrane). Sau màng nhĩ có một ngăn (căn phòng nhỏ) gọi là tai giữa (middle ear), chứa 3 cái xương nhỏ li ti, hình búa, hình đe và hình stirup (ossicles: malleus, incus, stapes)), bắt cầu đi từ màng nhĩ vào đến một cửa sổ ở vách phía trong. Âm thanh được chuyền qua các xương nhỏ này.  Phía sau cái cửa sổ là tai trong (inner ear), là bộ phận phụ trách ghi nhận các tín hiệu cơ học (các sóng rung của âm thanh) từ ngoài vào và biến thành tín hiệu thần kinh (nerve impulses) truyền lên óc, nhờ đó ta ghi nhận được những tiếng động , âm thanh..

Hình ( 1 ): Cơ thể học tai: 1) Màng nhĩ 2) Xương hình búa 3) Xương hình đe 4) Xương hình bàn đạp để leo lên ngựa 5) các ống nửa vòng của tai trong 6) thần kinh thính giác 7) Thần kinh mặt 8) thần kinh  tiền đình, phụ trách về thăng bằng 9) bộ phận hình ốc sên 10) Ống Eustache thông hơi giữa tai và miệng.

 

Hình 2;  Màng nhĩ bị lủng

Tùy theo trường hợp, một hoặc nhiều bộ phận kể trên bị hư hại trong bịnh viêm mãn tính tai giữa:

  1. màng nhĩ có thể bị lủng, ,

  2. các vi trùng (vi khuẩn ) từ tai ngoài có thể tràn vào tai giữa và làm hư hại niêm mạc lót tai giữa, gây ra những mô hạt (granulomatous tissues) bít tai giữa và làm chảy mủ kinh niên,

  3. tế bào da từ tai ngoài có thể lan vào tai giữa và mọc nên một khối u gọi là cholesteatoma, có thể làm hư hại các vùng chung quanh và chảy mủ kinh niên, thường có mùi thối,

  4. các xương nhỏ (ossicles) có thể hư hại hoặc không còn nữa,

  5. các bộ phận tai trong (inner ear) phụ trách về phần thần kinh thính giác và thăng bằng cũng có thể bị hư hại.

  6. xương mastoid (mấu hình nhũ) sau tai có thể bị viêm và hư hại.

 

Mục đích trình bày những chi tiết trên là để thính giả hiểu bác sĩ cần ước định những thương tổn  trên nhiều thành phần khác nhau của tai bịnh nhân lúc quyế định trị liệu như thế nào.

Trường hợp thông thường bác sĩ cho toa thuốc nhỏ vào tai (ear drops) có chứa một trụ sinh mạnh thích hợp với những vi khuẩn thường gặp trong trường hợp viêm tai mủ mãn tính (chronic suppurative otitis media). Những thứ trụ sinh thường dùng trước đây là

  1. Polymixin B,(có thể độc cho thần kinh tai)

  2. Gentamycin , (có thể độc thần kinh tai)

  3. và Tobramycin (tobramycin ít có tác dụng độc hơn hai thứ kia đối với thần kinh tai trong/less inner ear neurotoxicity).

  4. Ở Mỹ, hiện nay có khuynh hướng dùng những trụ sinh loại fluoroquinolone không độc cho tai trong nhưng đắt tiền (hàng chục đô la Mỹ).

  5. Thuốc thường dùng là Floxin Otic , người lớn, nhỏ vào tai mười giọt  vào tai bị bịnh, hai lần một ngày trong 14 ngày. Có thuốc kết hợp trụ sinh với một chất corticoid để giảm viêm , như Cipro HC, Ciprodex.

Nên lưu ý điểm quan trọng: lúc tai đang chảy mủ, cần phải làm sạch ống tai bằng cách nhờ BS Tai lấy mủ và các chất bẩn (debris) ra , hoặc BS hướng dẫn bịnh nhân tự rửa tai( bằng một dung dịch sát trùng nhẹ thích hợp như hydrogen peroxide pha với nước 50%):Lúc nhỏ thuốc, bịnh nhân phải nằm nghiêng qua một bên, người lớ thì kéo vành tai về sau và lên trên cho thẳng ống tai, nhỏ 10 giọt thuốc xong thì dùng ngón taý ân vào tragus trước tai 4 lần để bơm thuốc ngấm vào sâu trong tai..

Bịnh nhân cần cẩn thận lúc tắm, lội đừng cho nước vào tai (như dùng cục bông gòn bội vaseline bít lỗ tai lại), đừng dùng vật không sạch móc tai, nhỏ thuốc dân tộc, thuốc gia truyền không rõ xuất xứ và dược tính vào tai (có thể làm hại giây thần kinh thính giác )

Nếu chữa thuốc không có kết quả, cần  khám chuyên khoa tai. Bác sĩ chuyên khoa tai sẽ khám chi tiết hơn, có khi cho làm CT các bộ phận tai, thử vi khuẩn của mủ tai ... trước khi quyết dịnh chữa như thế nào, dùng trụ sinh uống hoặc chích tĩnh mạch (intravenous antibiotic dài hạn) , mổ hay không, và mổ thì thực hiện những gì, có những nguy cơ (surgical risks) gì, biến chứng gì có thể xảy ra:

  1. vá màng nhĩ (myringoplasty),

  2. hoặc vá màng nhĩ và phục hồi cơ năng  các xương tai giữa (tympanoplasty)

  3. dùng implants thay thế xương nhỏ tai bị hư (ossicles implants),

  4. đục vào xương nhũ (mastoid)(mastoidectomy) để trị nhiễm trùng,

  5. mổ lấy bướu trong tai nếu có ( cholesteatoma)..

Đây là  lãnh vực của chuyên khoa giải phẩu tai, chỉ xin lạm bàn sơ để bịnh nhân có thể nói chuyện với bác sĩ trước khi quyết định.

Tóm lại, nếu bác sĩ thấy không cần mổ, thì theo hướng dẫn trị liệu của BS. Nếu không khỏi hoặc có phương tiện  nên đến một trung tâm lớn ( như trường đại học y) về tai mũi họng, tìm BS nào có khả năng nhất mà mình biết, có thì giờ để xem xét và giải thích trường hợp của mình, và quyết định nên mổ hay không  . Nên đọc sách, internet để  hiểu rỏ hoàn cảnh của bịnh mình và tìm được bịnh viện và bs giải phẩu có khả năng thực hiện tốt những giải phẩu đó nếu cần.

Chúc bịnh nhân may mắn.

BS Hồ Văn Hiền.

5/21/07

 

Rheumatoid arthritis in 28 yo male.

 

Bịnh nhân (Duong, Bac Ninh) bị đau khớp đầu gối, trên mười năm, hình như chân bên đau nhỏ hơn bên kia do teo cơ (muscle atrophy) , đau  không thường xuyên, nhưng có thể đau dữ dội về đêm, lúc trở trời;hiện tự chữa bằng aspirin nhưng vẫn đau. Bịnh nhân chưa đi khám bịnh tại địa phương vì thất vọng với kinh nghiệm chữa trị một lầ trước lúc bị ho mà chữa không khỏi.

Có lẽ bịnh nhân đau chứng thấp khớp thiếu niên (Juvenile rheumatoid arthritis, JRA) nếu bịnh phát ra lúc BN chưa tới 16 tuổi. Tuy nhiên chúng ta không biết đủ chi tiết nhiều để có thể định bịnh chính xác.

 

Xin gợi ý một số điểm sau:

Đề nghị bịnh nhân nên tìm một BS mà mình tin cậy , hoặc ở địa phương, hoặc ở trung ương, để khám và hướng dẫn về bảo vệ sức khỏe nói chung. Lần trước người ta chữa chứng ho không khỏi cũng có thể vì nhiều lý do: như chữa không đủ lâu vì một số chứng bịnh gây ho có thể kéo dài khá lâu mới khỏi, bs chưa có đủ thì giờ theo dỏi bịnh..Không nên mong đợi chỉ khám một đôi lần là phải hết bịnh, nhất là bịnh mãn tính như bịnh thấp khớp. Ngoài ra, cần BS theo dõi vì  bịnh thấp khớp đôi khi có thể gây những biến chứng ở mắt , tim..tuy thưc tế trong dạng chỉ một hai khớp lớn bị liên hệ (pauciarticular juvenile rheumatoid arthrits) này, khả năng các biến chứng thấp hơn dạng liên hệ toàn cơ thể (systemic JRA.)  

Dù bịnh nhân  vẫn không đi khám BS được thì nên để ý những điểm sau:

Hiện nay người ta không khuyến khích dùng aspirin để chữa thấp khớp vì aspirin dễ gây biến chứng tiêu hóa như chảy máu bao tử, loét bao tử , biến chứng độc gan (hepatotoxicity). Nếu có thể dùng những thuốc trong nhóm NSAID (non steroid antìnflammatory drugs =thuốc chống viêm không phải corticoid) , như những thuốc kể sau:

Naproxen (Aleve 220 mg không cần toa ở Mỹ, Naprosyn, cần toa  viên 250mg, 350 mg, và  500mg). Người lớn thường uống từ 500mg (nghiã là 250mg sáng và 250mg chiều tối)

Ibuprofen (Motrin, Ibuprin) (viên 200 không cần toa, những viên sau đây cần toa mới mua được ở Mỹ 400, 600 và 800mg). Lượng thuốc mỗi ngày /24 giờ chia làm 3-4 liều trong ngày, và tổng cọng không được quá 1,2gram nếu không có BS giám sát ;nghĩa là nếu uống viên 200mg là viên mua không cần toa ở Mỹ,không nên dùng quá 6 viên một ngày và trên mười ngày mà không có BS giám sát.

Những thuốc này cũng có thể gây biến chứng đường tiêu hóa (loét, chảy máu bao tử, độc gan , độc thận , không được dùng nếu loét bao tử, chảy máu bao tử, suy thận và dễ chảy máu/bleeding disorder).

Tôi chỉ nêu ra đây những thuốc đang bán không cần toa ở Mỹ để giúp thông tin cho thính giả, không phải để bịnh nhân tự mình chữa, nhất là thính giả tại Mỹ. Những chữa trị phức tạp hơn nhưng chúng ta sẽ không bàn tới ở đây.

Chúc bịnh nhân tìm được nơi đáng tin cậy để được săn sóc và theo dõi bịnh tốt hơn.

BS Hồ Văn Hiền

20 tháng 5 năm 2007

 

Hydronephrosis in 11yo boy.

Thận ứ nước ở bịnh nhân nam 11 tuổi.

 

Trả lời em Đinh Quang Bằng.

Trường hợp em đã từng khám ở những bịnh viện chuyên môn như Nhi đồng, Chợ Rẫy và Nhi bịnh viện địa phương, tuy nhiên có những điểm không rõ ràng, vậy tôi xin góp  ý vài điểm sau, có thể không hệ thống lắm:

Em đau ở sườn trái, theo tôi đoán, có lẽ em đau nhiều, đáng kể lắm mới được đem lên đến BV Nhi đồng trung ương. Ở BV Nhi đồng, chẩn đoán siêu âm là thận ứ nước độ  1 , được chữ trị một thời gian và sau đó thấy thận ứ nước độ 2.

Tôi xin giải thích sơ về cơ thể học của hế thống tiết niệu, tức hệ thống sản xuất ra nước tiểu. Thận (kidney) là hai bộ phận nằm trong bụng, hai bên xương sống, hình như hai hạt đậu hòa lan, phần eo lỏm vào đối diện với nhau. Nước tiểu mỗi trái thận được dẫn đến các đài thận (calyces), xong vào môt cơ cấu hình như cái phểu (funnel shaped) , gọi là bồn thận (pyelos, kidney pelvis). Ở phía miệng, phía rộng của hình phểu , bồn thận hứng toàn bộ nước tiểu từ các đài thận, phần đáy của bồn thận nối với ống gọi là niệu quản (ureter), niệu quản nước tiểu xuống bọng đái (urinary bladder), từ bọng đái, nước tiểu được đi ra ngoài bằng niệu đạo, là urethra.

Nếu trong quá trình đi từ đài thận xuống niệu đạo có trở ngại nào đó cho dòng nước tiểu (urinary flow), nước tiểu có thể bị ứ ngược lại, dồn về phía trên (thượng lưu) làm các bộ phận sau đây, theo thứ tự, nở ra, căng lên, to hơn bình thường: niệu quản căng to gọi là megaureter. bồn thận nở to ra gọi là hydronephrosis, là thận ứ nước.

Thận bên trái của người bịnh bị ứ nước (Left hydronephrosis).

 

Nguyên do thường gặp của thận ứ nước  là :

-vesiculoureteral reflux (VUR) , trường hợp này nước tiểu đã xuống bọng đái chảy ngược trở lên niệu quản, dễ gây nhiễm trùng , làm hư thận, làm giảm cơ năng bài tiết của thận

-những cản trở về cơ học làm nước tiểu không lưu thông bình thường, thường là những tật bẩm sinh (vd: chỗ nối niệu quản với bọng đái bị tắt nghẻn, hẹp lại), đường thoát nước tiểủ ra khỏi bọng đái bị một cái valve bất bình thường cản lại (urethral valve)..

Thường muốn định bịnh các chứng này, khi khám phá triệu chừng thận ứ nước ở trẻ em, thường bác sĩ cho làm voiding cystourethrogram(VCU), nghĩa là sau khi bơm một chất cản quang vào bọng đái bịnh nhân, người ta chụp quang tuyến vùng bọng đái, xem chất cản quang có đi ngược lên niệu quản (reflux) hay không, và xem trong niệu đạo đi từ bọng đái ra  có bị van bất thường làm nghẹt không.

   

Niệu quản bên trái của người bịnh bị nở to ra (megaureter).

 

Trường hợp của em, thận ứ nước có nghĩa là dòng nước tiểu đi từ thận xuống bọng đái bị chảy ngược dòng (reflux) hoặc  trở ngại ở một nơi nào đó. Thường thuốc uống không chữa được những chứng này. Chỉ có bác sĩ niệu khoa (urologist) mới có khả năng điều trị những trường hợp này .Riêng em Bằng, khi xạ hình (renal scan?) thì bình thường có nghĩa cơ năng thận bình thường, dòng nước tiểu không tắc nghẽn, lần chót làm siêu âm cũng bình thường, tôi nghi em có thể bị một hội chứng rất hiếm có tên là Hội chứng Dietl, là Intermittent Ureteropelvic Junction Obstruction, là đoạn nối bồn thận và niệu quản của em bị tắc nghẽn từng hồi, khi có khi không. Trong cơn tắc nghẽn thì bịnh nhân đau bụng , buồn nôn, đôi khi bs sờ bụng thấy thận sưng to lên, làm sono thì thấy thận ứ nước , vài hôm sau tự nhiên khỏi, hết đau, sono bình thường. Một thời gian, vài tháng thì bị một cơn khác. Đề nghị em hỏi BS niệu khoa về khả năng này, và xin y lệnh (order) sẳn, lúc nào đau bên hông , nhất là kèm theo buồn nôn, thì đi làm sono lại ngay. Thường những lúc uống nước nhiều, vận động cơ thể nhiều là những lúc cơn đau dễ xảy ra. nếu đúng la hội chứng Dietl, ta sẽ ”bắt quả tang” thận ứ nước lúc đó, và có những trị liêu cần thiết để bảo vệ sức khỏe trái thận. Cũng nên nhắc nhở, nên chữa bịnh một cách liên tục, nghĩa là đừng thay đổi BS hoài, thay đổi BV. Nếu bắt buộc, phải có hồ sơ đầy đủ cho BS sau biết rõ những kết quả và trị liệu những lần đi BS trước..

Em hỏi làm sao biêt mình có bịnh thận.

Nói chung bác sĩ khám tổng quát (như đo huyết áp, xem tình hình tăng trưởng)) rồi thử

- nước tiểu (như xem trong nước tiểu có máu không, có bạch cầu [white blood cells]  không, có chất đạm [protein] không..) 

-          và máu bịnh nhân (như đo chất urea và creatinin trong máu ) để xem thận bịnh nhân làm việc có tốt không, thận có bị nhiễm trùng không.

Những thử nghiệm khác chuyên hơn về niệu khoa thì đã bàn ở trên.  

Về da bao qui đầu hẹp (phimosis), trừ những trường hợp hiếm có, thường không phải là nguyên do của chứng thận ứ nước. Tuy nhiên,nếu  da bao qui đầu quá chặt, có thễ nhiễm trùng hơn, và trở ngại cho dòng nước tiểu. Gần đây, người ta thấy người cắt da bao qui đầu (circumcision) ít bị lây HIV hơn người không cắt. Em nên hỏi bác sĩ của em về vấn đề này.

BS Hồ Văn Hiền.

Ngày 5 tháng 3 năm 2007

 

 

Trả lời trường hợp bạch biến (vitiligo).

Bịnh bạch biến làm cho một số vùng da mất màu tự nhiên thành những mảng trắng, lốm đốm, từng vùng hoặc có thể lan gần hết cơ thể.


Thường xuất hiện lúc tuổi 10-30. Nguyên nhân là các tế bào melanocyte phụ trách sinh ra sắc tố melanin bị hủy hoại, có thể do cơ chế tự miễn nhiễm (autoimmune), tức là hệ thống phòng thủ của cơ thể tự chống lại tế bào của mình. Do đó bịnh nhân còn có thể bị những bịnh khác đi kèm, như

* bịnh tuyến giáp trạng (thyroid),
* bịnh tiểu đường (diabetes),
* bịnh thiếu máu (pernicious anemia),
* bịnh tuyến thượng thận suy (adrenal insufficiency),

cần được bác sĩ nhi khoa để ý tới và theo dõi.

Chữa trị: kết quả của mỗi phương pháp thay đổi từng bịnh nhân.

Các thuốc dùng đều có thể gây phản ứng phụ quan trọng. Thường BS chuyên về bịnh da (dermatologist) phụ trách vấn đề này. Những điểm sau đây chỉ có tính cách thong tin để thính giả cọng tác với BS của mình dễ dàng hơn.

1. Trị liệu bằng ánh sáng: (phototherapy) làm da có màu trở lại9 (repigmentation ) trong 70% trường hợp , tuy phải mất nhiều tháng, làm 2-3 lần mỗi tuần. Kết hợp tia cực tím (Ultra Violet A/UVA ) hoặc ánh nắng với thuốc psoralen (8-methoxypsoralen, 5-methoxypsoralen, hoặc trimethylpsoralen) thoa (Cream and solution of 8-methoxypsoralen (0.1-0.3% concentration) , hoặc uống.

2. Mới đây Narrow Band UV-B, dùng tia cực tím B trong một quang phổ (emission spectrum) hẹp và nhất định, có kết quả tốt hơn, có thể dùng trẻ con và người có thai. Một kỷ thuật khác dùng các fiber optic system để dẫn UV-B 
vào một diện tích nhỏ (microphototherapy) hoặc dùng tia laser có thể hiệu quả hơn đối với những trường hợp diện tích giới hạn và ở những vị trí khó trị. Những phưong pháp này đắt tiền.

3. Các chất corticoid (corticosteroid) như Prednisone , uống hoặc thoa kem trong trường hợp diện tích giới hạn.

4. Tacrolimus ointment (0.03% or 0.1%) (tên thương mãi là Protopic) là một loại thuốc calcineurin inhibitor,dùng để trị bịnh lác ngứa (atopic dermatitis), cũng được dùng trị vitiligo. Những thuốc này có nhiều phản ứng phụ, nhất là trên hệ miễn nhiễm (immune system), làm giảm sự phòng thủ chống nhiễm trùng của cơ thể, và cần được bác sĩ chuyên khoa xét chỉ định dùng tùy trường hợp, điều chỉnh liều lượng, bịnh nhân không thể tự chữa lấy một cách an toàn.

Một số nơi trị vitiligo bằng cách ghép da, đem những mảnh da có màu ghép vào nơi bị mất màu (punch graft, minigrafts, ), các melanocytes (là tế bào sinh sắc tố ) sẽ mọc ở chỗ mới và lan rộng ra, làm da có màu như bình thường.

Cuối cùng, giản dị nhất là dùng những mỹ phẩm để che các vết đốm trắng, ở Mỹ có hiệu Covermark, Dermablend.

BS Hồ Văn Hiền

(26 tháng 11,2005)





Bịnh Down có thể chữa bằng trị liệu bằng gien hay không?



Hội chứng Down (Down Syndrome) là rối loạn chromosome thường gặp nhất. Ở Mỹ , với dân số gần 300 triệu người, có chừng 5000 trẻ ra đời mỗi năm với chứng tật này.Trong mỗi tế bào của chúng ta , có 46 nhiễm thể (chromosomes), có thể chia làm 23 cặp nhiễm thể (pair of chromosomes) đánh số từ 1 đến 22 cọng với 2 nhiễm thể tính dục (sex chromosomes) Y và X . Người mắc chứng Down (Down là tên người mô tả hội chứng này trên lâm sàn lần đầu tiên) có dư một nhiễm thể số 21, thay vì có hai nhiễm thể 21, họ có 3 nhiễm thể 21, nghĩa là 47 nhiễm thể trong mỗi tế bào của mình. (đôi khi chỉ có dư một nhiễm thể trong một số tế bào của mình, gọi là tình trạng mosaic).


Đàn bà ở Mỹ, nhất là người khá lớn tuổI, trên 35 tuổi, được screen bằng thử máu lúc có bầu chừng 16 tuần để xem cái cơ may hội chứng Down của thai nhi là bao nhiêu. Nếu cái risk này đáng kể (1/270), bác sĩ sản khoa sẽ đề nghị làm amniocentesis, tức là rút nước ối bào thai (amniotic fluid) bằng kim đâm vào tử cung, thử các tế bào thai nhi trong nước ối này, nếu các tế bào thai nhi này có dư một nhiễm thể số 21, thì hội chứng Down được xác nhận . Lúc đó bác sĩ hướng dẫn người đàn bà có thai quyết định có muốn phá thai hay không, nếu muốn giữ thai tiếp tục thì người mẹ được chuẩn bi tinh thần để đối phó với một trẻ sơ sinh bất bình thường. Gần đây có những test giúp định bịnh Down sớm hơn, ngay trong ba tháng đầu thai kỳ.Số 5000 trẻ có HC Down nói trên là kết quả những trường hợp không định bịnh được trước khi sanh và những đưá bé mà cha mẹ quyết định giữ đến hết thai kỳ mặc dù biết chúng bất bình thường.

Người bị HC Down có nhiều triệu chứng đi chung với nhau; hệ thần kinh bất bình thưiờng làm cho trẻ phát triển chậm về mọi mặt (mental retardation), nét mặt bất bình thường (characteristic facial features) như mắt xêch, mũi xẹp , cổ ngắn (hơi giống nét mặt người Á châu nên trước đây các nước phương tây gọi chứng này là mongolism, nghĩa là  hôi chứng Mông cổ, từ này nay không còn thông dụng nữa.), các chứng tật về tim, mắt, tai , dễ bị nhiễm trùng, dễ bị ung thư. Tuy nhiên tùy trường hợp nặng nhẹ khác nhau, một số trẻ bên ngoài không phân biệt được với trẻ con khác và học tới đại học.


Hiện nay y khoa chưa hiểu rõ hoàn toàn cơ chế làm thế nào mà sự hiện diện của một chromosome dư lại gây ra những vấn đề khác nhau như vậy. Người ta không hy vọng dùng trị liệu bằng di thể (gene therapy) để đảo ngược (reverse) toàn bộ tác dụng của chromosome 21 dư này, như là bật một cái nút làm tắt ngọn đèn được (switch off). Đó là chưa kể, nếu ta “ tắt” tác dụng của nhiễm thể 21, ta sẽ tác động như thế nào đối với các nhiễm thể khác, và ta có làm “tắt” luôn những nhiễm thể 21 bình thừơng hay không?.

Trong những năm gần đây, người ta đã lập được toàn bộ bản đồ (gene mapping)các gien trên nhiễm thể 21 và cũng hiểu được nhiều hơn về cách mỗi cái gene này liên hệ vối từng loại triệu chứng trong hội chứng Down như thế nào. Các nhà khảo cứu ở đại học Stanford (Mỹ) và Geneva (Thụy sĩ) đã tìm được một cái gene liên hệ tới sự chậm phát triển về tâm trí trong bịnh này (a gene on chromosome 21 which plays a role in mental retardation). Trên loài chuột thí nghiệm, sự hiện diện của gene này làm trở ngại trong sự chuyên chở một hóa chất quan trọng đến phần trước của bộ óc (forebrain), và người ta biết là hiện tượng này đi đôi với sự châm phát triển tâm trí (mental retardation). Có nghĩa là phần trước của bộ óc không cần có thêm những tế bào mới thì mới làm việc bình thường. 

Nếu chúng ta tìm được một thứ thuốc nào đó có thể điều tiết (downregulate) cái gene dư thừa này đi, thì hy vọng chúng ta sẽ cải thiện được tình trạng thiểu năng tâm thần (trì trệ tâm trí, mental retardation) của những người mang hội chứng Down. Xin nhắc lại đây chỉ là chiều hướng khảo cứu trong những năm tới thôi, và hiện nay thưốc có thể làm chuyện này chưa được tìm thấy.

Em nhỏ bàn ở đây mới 2 tháng, thời gian trước mặt còn dài. Ước mong những tiến bộ dồn dập của y khoa sẽ mang 
tới kịp thời những cải thiện cho cuộc sống và sự phát triển của em trong những năm tới.


BS Hồ Văn Hiền

11-25-2005

Congenital nasolacrimal duct obstruction (8-25-2005)

Chứng tắc nghẽn ống dẫn nước mắt .

Trường hợp cháu ngoại thính giả, 35 ngày tuổi, sang dậy có ghèn ở mắt.

 

Sinh lý học (hình 1):  

Nứơc mắt  giữ cho con mắt luôn ướt và che chở cho mắt khỏi trầy trụa và kháng thể (antibodies) trong nước mắt  giữ mắt khỏi bị nhiễm trùng. Nuớc mắt do tuyến nước mắt sản xuất , đi vào hai lổ (punti) trên bờ phía trong của mí mắt, nhập vào túi nước mắt (lacrimal sac), từ đó được dẫn vào kênh mũi -nước mắt (nasolacrimal duct), đào thải vào mũi.

Bịnh lý:

Trong 6% em bé sơ sinh, con kênh mũi nước mắt  này chưa thành hình hẳn, không thông, làm nước mắt dồn lại trên mắt, gọi là chứng nghẽn tắc bẩm sinh của ống mũi nước mắt (congenital nasolacrimal duct obstruction) .

Trẻ sơ sinh có thể có triêu chứng ngay sau khi chào đời , tuy nhiên có thể mấy tuần sau, lúc lượng nước mắt được sản xuất tới mức bình thường, mới có những triệu chứng giúp phát hiện bịnh này. Ở trong  mí mắt dưới, bình thường có một lượng nước mắt nhỏ hiện diện, có tên là hồ nước mắt, hoặc hồ lệ (tear lake, lacrimal lake). Ở bịnh nhân bị nghẽn tắc, hồ lệ này nhiều hơn vì lượng nước mắt thoát vào mũi chậm lại hoặc không thoát đi (epiphora).

Nước mắt có thể tràn qua phía mũi hoặc phía má làm da ướt, khó chịu, em bé dụi mắt. Chất nhờn (mucoid material) sản xuất từ trong túi nước mắt trào ra có thể làm ghèn (discharge) đục xuất hiện trong khoé mắt.(hình 2)

 

Trong phần lớn trường hợp, chứng sẽ thuyên giảm hoặc hết hẳn trước lúc bé một tuổi. Cũng nên nhớ là ngoài chứng này, còn có một số bịnh khác hiếm hơn làm mắt bé bị ướt át, như lông mi (nheo) mọc đâm ngược vào mắt thường gặp ở các trẻ em Châu Á (epiblepharon), cườm nước (glaucoma), cho nên nếu có phưong tiện nên khám bác sĩ cẩn thận. 

Chữa trị bằng cách dùng ngón tay (nhớ rửa sạch, cắt móng ngắn ) của mình massage nhẹ ở khoảnh giữa sống mũi và phía dưới khóe mắt trong của bé, là nơi ống dẫn nước mắt đi qua, dưới da. Đầu ngón tay trỏ của mình không được chà lên phần xương cứng của hốc mắt (hình số 3: kỷ thuật sai, cần tránh/improper technique of lacrimal sac massage), mà đầu ngón tay phải ấn về phía trong và lên trên (in and up), sau bờ xương hốc mắt (hình 4: kỹ thuật làm đúng) . Mỗi ngày làm chừng ba lần là đủ. Cho dễ nhớ có thể làm mỗi lần thay tả (diaper change), làm hàng ngày.

hình 3: kỷ thuật sai, cần tránh

hình 4: kỹ thuật làm đúng

Nếu có ghèn nhớt, dùng nước ấm đã đun chin rửa mắt cho bé.

Nếu ghèn ra nhiều, có thể dùng thuốc kháng sinh nhỏ mắt cho bé, theo bác sĩ hướng dẫn. Nếu sau 12 tháng tuổi mà vẫn còn nghẽn, bác sĩ mắt (pediatric ophthalmologist) sẽ dùng ống dò (probe) thông kênh mũi nước mắt (nasolacrimal duct) , đôi khi phải làm lại một hai lần. Trường hợp nặng hơn BS nhãn khoa nhi có khi phải đặt ống thông tại chỗ (placement of tube) hoặc giải phẩu  tái tạo các ống dẫn nước mắt (reconstructive surgery).

Đôi khi, vi trùng xâm nhập có thể gây ra nhiễm trùng nặng hơn, cọng thêm vào các biểu hiện trên (nhiễm trùng ống nước mắt: dacryocystitis), vùng khóe mắt sưng , đỏ lê, bé quấy và có thể sốt. Bịnh có thể  lan ra gây viêm, sưng đỏ lan ra phần mềm quanh mắt , trầm trọng hơn (cellulitis). Những trường hợp này, cần đem đến bác sĩ điều trị gấp, không nên tự chữa lấy.

 

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

(25 tháng 11,năm 2005)  

 

Allergic rhinitis.

Viêm mũi dị ứng.

Ba của cháu không cho biết tuổi, chúng  ta chỉ biết những triệu chứng chính là sổ mũi kéo dài, kèm theo ù tai, viêm tai giữa, viêm xoang mũi, cần dùng nhiều thuốc, nhiều lần và ngưng thuốc thì bị lại. Chúng ta không biết là thuốc gì vì ba bịnh nhân đọc không được chữ bác sĩ..

Tôi nghĩ là cháu bị chứng viêm mũi do dị ứng (allergic rhinitis). Những chất sinh kháng thể (antigen) gây ra phản ứng  có thể là  phấn bông, mốc meo (mold spores), chất bài tiết của các con rận li ti ( các con dust  mites trong mền chiếu mà ta chỉ có thể thấy bằng kính hiển vi, chất bài tiết của chúng gây allergy), các vảy li ti của da, lông  (animal danders) các thú nuôi trong nhà .

Tiếp xúc với niêm mạc mũi của những người nhạy cảm (atopic individual) , làm cơ thể sản xuất các IgE là những kháng thể phụ trách dị ứng, huy động  các tế bào đến mũi, tiết ra chất histamine, làm mũi  sản xuất ra chất nhớt (mucus), (chảy mũi), sưng (làm nghẹt mũi và ngứa. Nên để ý đến chất histamine này vì những thuốc chống dị ứng sẽ bàn sau có tác dụng chống histamine.

Những phản ứng này có thể làm tắt nghẻn các đường thoát chất nhớt của các xoang mũi làm người bịnh dễ bị viêm xoang mũi (xem hình mũi). Trong tai của chúng ta có một khoảng trống gọi là tai giữa (middle ear) nằm giữa màng nhỉ (tympanic membrane ) và tai trong. Có một cái ống  nối miệng với hai tai giữa, đem không khí vào tai giữa, giữ cho thoáng (ventilation). Người bị dị ứng mũi, hai các ống này có thể bị nghẹt lạI,  Áp suất trong tai giữa giảm xuống làm người bịnh thấy lùng bùng tai. Hoặc trẻ con có thể dễ bị nhiễm trùng tai giữa vì dị ứng mũi cọng thêm các chứng đi kèm như adenoid hoặc hạnh hạnh nhân quá lớn.(xem hình otitis media).

Những thuốc trị bịnh này gồm những thuốc chống histamine (antihistaminic)  như Benadryl (diphenhydramine) . Benadryl tốt và an toàn cho trẻ con nhưng có thể gây buồn ngủ và phải uống nhiều lần trong ngày. Một số thuốc mới hơn nhưng đắt tiền hơn , không làm buồn ngủ: Claritin (loratidin), Allegra, Zyrtec,  (hơi buồn ngủ) có thể chỉ cần  uống một hai lần mỗi ngày, và trẻ con dùng được . Loratidin ở dạng xy rô, viên tan trên lưỡI, viên tác dụng 24 giờ, bán tự do ở Mỹ. Tôi đoán là các thuốc này lại càng dễ mua hơn nữa tại Việt nam, tuy nhiên tên thương mại có thể khác.  

Một số thuốc giúp bớt nghẹt mũi (decongestant) như pseudoephedrine và phenylpropalamine có thể được dùng thêm lúc cần thiết để  cho bịnh nhân bớt khó chịu và dễ thở hơn. Có thể dùng riêng như syrup hoặc viên nhai Sudafed, hoặc kết hợp với các chất kháng histamine như trong  Dimetapp, Claritine D, Allegra D (D là viết tắt của decongestant).

Một số thuốc nhõ mũi để bớt nghẹt nhanh chóng  như Neosynephrine chỉ nên dùng ngắn hạn vì dùng lâu dài sẽ làm mũi nghẹt nặng hơn nữa vì các mạch máu nở lớn thêm (rebound vasodilation).

Môt loại thuốc nhõ mũi an toàn là Cromolyn nasal solution (4%)  có thể dùng để ngăn ngừa các triêu chứng, xịt mỗi bên mũi một hai  cái, 3-6 lần một ngày, nhiều lần nên cũng khá bất tiện.

Hiện nay thuốc hiệu nghiệm nhất là các corticosteroid (corticoit) dưới dạng xịt mũi. Tên thương mại ở Mỹ là Nasonex, Flonase, Rhinocort, Nasacort. Thường lúc sơ khởi xịt một hoặc hai cái vào mỗi bên mũi, hai ba lần mỗi ngày. Ba bốn ngày sau, khi triệu chứng đã giảm, bớt lại liều thuốc còn xịt một cái mỗi bên, một lần mỗi ngày. Vì corticoit là một loại thuốc mạnh và có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng của các em bé, chúng ta nên tránh dùng ở trẻ em quá nhỏ, cẩn thận liều lượng và đừng dùng quá nhiều vì sốt ruột. Tuy nhiên theo kiến thức hiện nay, thuốc xịt vào mũi không hấp thụ vào máu ở mức đáng kể và có vẻ an toàn.

Những ý niệm trên hy vọng có thể giúp thính giả hiểu những nguyên tắc chung mà BS dùng lúc chữa bịnh dị ứng mũi bằng thuốc men, và do đó có thể hỏi BS về những điều mình muốn biết.

Theo tôi nghĩ, nếu bác sĩ biên toa mà bạn không đọc được những tên thuốc con bạn uống thì thật đáng tiếc và có vẻ không an toàn. Bạn nên tự tìm hiểu thêm để biết con mình dùng những thuốc loại gì, thứ nào hạp với nó và thứ nào gây những phản ứng không tốy thì mình nên biết để tránh. Có khi nên biết những thứ thuốc nào không nên dùng chung với nhau (drug interaction).

Nếu bạn hiểu được những điều trên và biết là bịnh này thường mạn tính, kéo dài, và thuốc nào an toàn, có thể bạn sẽ không ngần ngại lo sợ “uống thuốc nhiều quá” và cho cháu uống thuốc lúc cần thiết. Thứ nhất cho chất lượng đời sống thoải mái hơn (không  ngứa ngáy , dụi mũi, hít hà liên miên, không há miệng thở lúc ngủ làm ngủ không ngon), và không phải đợi lúc biến chứng như viêm xoang mũi, viêm tai giữa , mất thính giác mới cho uống thuốc.

Ngoài ra cũng nên để ý tới môi trường sống và tránh những yếu tố gây dị ứng mũi như:

Những yếu tố môi trường này rất quan trọng trong việc gây ra bịnh hoặc làm bịnh nặng hơn , từ dị ứng mũi cho đến những bịnh đi kèm như hen suyễn (asthma), viêm phế quản, sưng tai giữa.(otitis media).

Ước mong buổi nói chuyện này làm sang tỏ một số ưu tư của quí phụ huynh .

 

BS Hồ Văn Hiền

31 tháng 8 năm 2005

 

Simple renal cyst

Nang thận đơn giản

Cô em của vị thính giả đau bụng từng cơn, lúc đói và no, thường lúc buổi sáng. Cô tăng trưởng bình thường, sinh hoạt bình thường. Làm sono (siêu âm bụng) thấy nang thận trái 3.1x2.3 cm. Gia đình muốn mổ lấy nang thận ra.  

Trước hết, tôi nghĩ có lẽ cơn đau bụng này do rối loạn tiêu hóa nhẹ, bị sơ qua rồi khỏi, vì đau từng cơn và liên hệ đến các bửa ăn. Nếu còn đau có thể uống những thuốc như ranitidine (Zantac) hoặc famotidin (Pepcid) bên Mỹ bán không cần toa, xem có đỡ không. Nếu không thì phải xem kỹ lại.  

Càng ngày các kỹ thuật sono càng phổ biến, chúng ta sẽ khám phá nhiều những trường hợp như thế này. Nghĩa là có môt bất thường nào đó trong cơ thể mà không có triêu chứng phiền toái gì, có cần đi chữa không? Những khảo cứu ở Mỹ cho thấy trẻ sơ sinh đến lúc 18 tuổi thì cứ 500 trẻ thì có một đứa bị nang thận. Căn cứ trên giải phẩu tử thi, người trên 50 tuổi , đến chừng  50% sẽ được khám phá là có một nang thận , cho nên nang thận như thế này chưa chắc đã là một vấn đề cho chúng ta mất ăn mất ngủ nếu không có triệu chứng nào khác (như đau bụng nhiều, bụng lớn, tiểu ra máu, nhiễm trùng đường tiểu, tiểu khó…). Những triệu chứng này có vẻ không có trong trưởng hợp này. 

 

Trước tiên chúng ta phải nói rõ là chúng ta đang bàn đến nang thận đơn giản mà thôi: nghĩa là chỉ một túi chứa chất lỏng, không có nhiều ngăn, không phải là nang kết thành chum (polycystic kidney). Những đặc điểm này, bác sĩ quang tuyến có nhiệm vụ quan sát và để ý phân biệt, vì nếu định bịnh không đúng trên sono thì suy luận về trị liệu sẽ sai lầm. Ví dụ không phải nang mà là một túi áp xe mủ (abscess), hoặc là một bướu đặt trong đó có một hang rổng cần phải được phân biệt . Một số trường hợp nhiều nang  kết tụ thành chùm gọi là bịnh thận đa nang (polycystic kidney disease) do yếu tố di truyền (cha hoặc mẹ truyền lạI, có nhiều người trong gia đìng có nang thận như vậy) . Những bịnh này có ý nghĩa  khác và nhất là. khó trị

Trở lại trường hợp của chúng ta.

Nếu em 12 tuổi không có triệu chứng gì đáng kể, thử nước tiểu bình thường thì tôi nghĩ chúng ta không cần phải làm gì cả. Nang thận đơn giản không gây ra ung thư.

Tuy nhiên

  1. Nếu trong gia đìng có người khác cũng bị nang thận, nếu nang thận trên sono không phải là một bọc nước đơn giản mà

  2. có nhiều ngăn (complex cyst),

  3. hoặc vách nang không đều (irregularities in the wall of the cyst),

  4. có chất vôi (contains calcium),

  5. hoặc nếu nước tiểu có máu,

  6. hoặc áp huyết bịnh nhân cao hơn bình thường,

 

nên tìm đến một bác sĩ chuyên khoa về thận (pediatric nephrologist) để theo dõi và điều trị nếu cần.

Nói tóm lạI, chưa nên nghĩ đến chuyện mổ lấy nang ra. Nếu lo lắng nên làm sono lại sau một thời gian theo dõi. Nên nhờ một bác sĩ nhi hoặc nội khoa.lập hồ sơ bịnh lý rỏ rang và theo dõi có định kỳ.

Theo tôi nghĩ giải phẩu không phải là bước đầu tiên để đối phó với bịnh này.

 

BS Hồ Văn Hiền

30 tháng 8 năm 2005

 

Bướu giáp nhân (thyroid nodule) thùy phải, cháu gái 15 tuổi.

 

Trả lời Ông Thái Vĩnh Tường (Ninh Thuận) :

Con gái 15 tuổi, bươu giáp nhân (thyroid nodule) thùy phải.

 

Tuyến giáp trạng là tuyến thyroid hình như con bướm, mà hai cánh hai bên là hai cái thùy phải hoặc trái., tuyến nằm trước cổ, trước yết hầu. Trong một số trường hợp , tuyến bị kích thích thái quá do một nguyên nhân nào không rõ,làm nổi lên một cục nodule ; bịnh nhân ở đây nổi lên một nodule bên thùy phải. Bà nội bịnh nhân đã mất từng bị bướu giáp.

Bịnh nhân từng được chữa bằng levothyroxine để giảm bớt sự kích thích tuyến giáp nhưng theo phụ huynh không ảnh hưởng đến tầm cở của bướu.

Theo dỏi bịnh này cần BS Nhi khoa, BS chuyên về tuyến nội tiết trẻ  em (pediatric endocrinologist) cọng tác với  BS giải phẩu.trẻ em (pediatric surgeon) cùng phòng xét nghiệm tốt. Ngay về những thử nghiệm như thử máu, siêu âm, quang tuyến, chất lượng của các kết quả cũng tùy nơi, tùy người phụ trách phòng thí nghiệm có quen thuộc với loại xét nghiệm khá phức tạp này hay không, có chuyên về những đặc điểm của bịnh trẻ em không.

Đề nghị phụ huynh em trực tiếp hỏi ý kiến của BS đang theo dỏi em về bịnh của em cũng như về giới hạn của địa phương của mình..

Theo tôi nghĩ,ngoài cách dùng thuốc và theo dõi định kỳ, nếu phụ huynh chưa yên tâm, và nhất là nếu bướu cổ càng lúc càng to, chúng ta cần tìm cách loại bỏ khả năng bướu độc, có nghĩa là cần định bịnh chính xác xem có phải là ung thư không. Phụ huynh có thể bàn với BS về thủ thuật dùng kim nhỏ chích vào bướu và hút ra để thử thịt (Fine Needle Aspiration Biopsy, FNAB) là thủ thuật nhẹ nhàng nhất, nhưng lại khó làm ở bịnh nhân nhỏ tuổi và ít người có kinh nghiệm về thủ thuật này ỏ bịnh nhân nhi khoa. Nếu cần thì Bs giải phẩu  có thể đề nghị thử thịt ( excisional biopsy) tức là lấy bướu ra ngoài để thử. Nói chung , nên tìm đến những trung tâm có kinh nghiệm về tuyến giáp và có số lưu lượng bịnh nhân lớn vì chữa những trường hợp này tùy thuộc về khả năng và kinh nghiêm rất chuyên môn thường những bịnh viện nhi đồng lớn mới có.

BS Hồ Văn Hiền.

10-05-04

 

 

Wilson’s disease.

Trường hợp Ông Nguyễn văn N. ở Phần lan viết thư hỏi về người con 28 tuổi bị bịnh Wilson.

Ông N. viết một bức thư chi tiết về tình trạng người con trai. Tôi sẽ xin phép Ông N. trích ra đây một số đoạn . Lý do là trường hợp này có thể giúp ích cho nhiều người nhận diện sớm được triệu chứng của bịnh này lúc mới xuất hiện, và nếu mình "đề cao cảnh giác’ , hay như người ta nói trong Anh ngữ, có mức chỉ số nghi ngờ cao (high index of suspicion), có thể gợi ý bác sĩ , giúp định bịnh sớm hơn là trường hợp này và có những biện pháp trị liệu sớm , giúp giảm thiểu các hậu quả của căn bịnh.

Bịnh Wilson là một bịnh di truyền của sự biến dưỡng chất đồng (copper, cuivre). Bình thường cơ thể chúng ta cần những lượng đồng rất nhỏ, tựa như trường hợp cơ thể cần những lượng sinh tố (vitamin) nhỏ, mới hoạt động bình thường được. Nếu nhiều đồng quá trong cơ thể thì lá gan có bổn phận bài tiết đồng vào trong mật (bile) và được thải ra ngoài. Trong trường hợp bịnh Wilson, vì một điểm bất thường trên di thể (chromosome số 13), tế bào gan không bài tiết đồng ra mật được,chất đồng ứ đọng trong gan, làm hư hại tế bào gan , gây gan lớn, gan xơ, vàng da… Sau đó mức đồng càng lên cao nữa thì sẽ tích tụ ở thận, hệ thần kinh và mắt.

Những triệu chứng chính phát xuất từ sự hư hại các bộ phận trên :

1)Gan:

Bịnh gan làm vàng da, hoặc da ngâm đen , gan lớn ,xơ gan (cirrhosis), chảy máu vì gan yếu cơ năng giảm , ói ra máu vì máu khó đông. Theo thư của bà N., "con lón năm nay 28 tuổi, lúc còn ở VN đi học lớp 7 (chừng 12 tuôi), về sức khỏe nó ốm yếu, da ngâm đen vì uống thuốc loại gì đó, bác sĩ nói khoảng 15-16 tuổi thì da nó trở lại bình thường. Sau đó không lâu, (năm 1989) vượt biên qua đảo Bidong, bác sĩ không tìm ra căn bịnh,”mà chỉ nghĩ nó bị suy dinh dưỡng thôi.". Tôi đoán có thể những dấu hiệu thay đổi màu da, suy dinh dưỡng có thể là những dấu hiệu cho biết gan của bé đã bị bịnh từ đó nhưng khó phân biệt vì tình trạng suy dinh dưỡng thật sự trong trại tị nạn đi đôi với triệu chứng của bịnh gan. Trong những điều kiện xã hội bình thường, với nền y tế tốt hơn, nếu đi khám và bác sĩ cảnh giác hơn về bịnh Wilson, có thể phát hiện sớm hơn và chữa trị sớm hơn (tuy nhiên ta cũng thấy đây là một bài toán rất khó, vì ngay sau khi đã đến một nuờc tiên tiến như Phần Lan, ba tháng sau mới tìm ra bịnh).

2) Hệ thần kinh:

Yếu tố chính là các cử động cố ý (voluntary movements ) càng ngày càng khó khăn, các triệu chứng tâm thần (psychiatric symptoms) và thay dổi tính tình. Trường hợp con ông N., ông viết " Nhưng càng ngày (tình trạng cháu) càng xuống dần, lúc đầu xách nước rửa chén tiếp gia đình được , nhưng sau đó làm không được , ăn cơm cầm đủa được, sau đó lại không. Rồi sau đó phải đút giúp cho nó ăn và đi phải dìu đi nếu không thì bị té. Tháng 10/91 đi qua Phần Lan định cư đến phi trường phải đi vào bịnh viện cứu cấp, và ba tháng sau mới tìm ra căn bịnhWilson’s. Nó bị phân nửa co cứng , tay chân cứng (bên trái) không hoạt động bình thường như bên phải".. có thời gian phải đi xe lăn.”

3)Thận:

Thận hư, và có thể suy luôn (renal failure), cần lọc máu hoặc thay thận.

4) Mắt:

Chất đồng tụ chung quanh giác mạc (cornea) và nếu bác sĩ chuyên khoa mắt khám sẽ thấy một vòng tròn màu nâu bọc chung quanh tròng đen gọi là Kayser- Fleisher ring. Đây là một dấu hiệu tương đối dễ tìm thấy, không cần phòng thí nghiệm phức tạp , nếu nghi bịnh này, có thể tham khảo với bác sĩ mắt để giúp định bịnh sớm va chữa trị sớm.

Về trị liệu, Ông N. có cho biết thêm: "Sau khi tìm ra căn bịnh,và cho dùng thuốc thì căn bịnh giảm dần và nay thì đi dược nhưng dễ bị té vì không cân bằng được. Thuốc uống có Penicillamin , Helsevit và Trileptal".

Penicillamin là một thuốc thuộc loại copper-chelating agent, nghĩa là một yếu tố giúp cho cơ thể thải ra ngoài , bài tiết chất đồng ra nhanh hơn.Chất đồng được thải ra trong nước tiểu và tác dụng đầu độc của nó do đó giảm xuống. Trileptal là thuốc trị làm kinh, co giật. Người ta cũng cung cấp một số thực phẩm nên tránh vì có nhiều chất đồng : gan thú vật, cua , sò , hến, nhất là tôm hùm (lobster), tron các trái cây, chỉ có avocado là có chứa khá nhiều đồng.

Ngoài ra, bịnh nhân được điều trị về vật lý trị liệu, tập nói, săn sóc răng miệng,giúp đở để hoạt đông sinh hoat ban ngày. Theo lời ông N. , từ năm 91-97 có bị phong giựt (epilepsy) và từ năm 2000 thì bịnh phong giựt nặng hơn. Bà viết thư cho chị Minh Phượng hỏi xem có bác sĩ thần kinh nào để xin ý kiến về vấn đề co giật này.

Theo yêu cầu của chị Minh Phượng tôi có xem xét kỷ lưởng hồ sơ của Bà Ni chuyển qua

Và tôi nghĩ rằng con ông Ni đang được điều trị tại một trong nh?ng xứ có nền y khoa xã hội tiến bộ nhất thế giới. Các bác sĩ ở Phần Lan đang làm những gì có thể thực hiên được, bất cứ ở đâu, kể cả bên Mỹ. Theo như báo cáo về tình hình phục vụ bịnh nhân mà ông Ni gởi kèm theo, bịnh nhân được nhiều chuyên viên Đại học Helsinki săn sóc và theo dõi về y khoa, về răng miêng, vật lý trị liệu, về phát âm (và bịnh nhân nói được ba thứ tiếng) cũng như về sinh hoạt xã hội. Đây thật là một điểm son của nến y tế Phần lan, chỉ một nước dân số nhỏ hơn Việt nam nhiếu mà có thể săn sóc, chu cấp cho một người tỵ nạn thiểu số chu đáo và tận tình như vây.

Theo yêu cầu của chị Minh Phượng, tôi chỉ xin có những lời bàn trên để giúp gia dình và bịnh nhân có thể hiểu thêm về bịnh này . Dù nhân viên y tế Phần lan đã dịch mọi thứ ra tiếng Việt, tôi nghĩ có thể một bác sĩ người Việt nam có thể làm sang tỏ vấn đề hơn đôi chút và giúp cho gia đìng cọng tác dễ dàng hơn với mạng lưới y tế địa phưong.

Mục đích thứ hai là trình bày cho thính giả của đài VOA một số điểm nên biết về bịnh Wilson.

Tuy là một bịnh hiếm, chỉ 30.000 người mới có một người bịnh, cũng có thể ước tính ở Việt nam có chừng hai ba ngàn người mắc bịnh này.

Nếu bịnh nhân cũng như nhân viên y tế nghĩ đến bịnh Wilson lúc trẻ em có những triêu chứng gan không giải thích được , hoặc đi đôi với những triệu chứng thần kinh hoặc tâm thần và dùng những biện pháp khá giản dị như khám mắt, thử máu (đo ceruloplasmin) tương đối khá phổ cập thì hy vọng có thê truy tầm bịnh lúc mới phát.

Điểm quan trọng là nếu định bịnh càng sớm thì kết quả chữa trị càng khả quan, và cách chữa trị bằng thuốc và kiểm soát thức ăn uống tương đối giản dị.

Ngược lại càng trể thì càng khó đảo ngược các triệu do tổn hại thần kinh, gan và thận. Bịnh này là một bịnh di truyền do một cả cha và mẹ truyền qua em bé , nghĩa là cả hai bên đều có một gene (gien, di thể) bất bình thường trên chromosome (di thể) số 13 (autosomal recessive transmission).Người ta khuyên các trẻ em trên 3 tuôi cùng cha và mẹ (nghĩa là anh em ruột), dù đang mạnh khoẻ, cũng nên đi khám và thử nghiệm (đo chất ceruplasmin trong máu) xem có mang mầm bịnh hay không, để chữa trị càng sớm càng tốt ( nghĩa là dùng pecillinamine và ăn uống những thức ăn có lượng đồng thấp, tránh gan , cua, sò , hến, tôm hùm).

Xin chúc em Ph. càng ngày càng hồi phục và chúc gia đình em may mắn.

5/26/05

 

Cryptorchism

Trường hợp cháu trai mười ba tuổi có một dịch hoàn còn nằm cao trong háng. (undescended testis).

Trong đa số trẻ mới chào đời, hai dich hoàn đã di chuyển từ bụng chạy xuống nằm trong bìu dái. Trong 3-6% trường hợp, một hoặc cả hai dịch hoàn còn ở trên cao, không sờ thấy được trong bìu dái, tiếng anh gọi là cryptorchism, dịch nghĩa đen là dịch hoàn ẩn.

Sau 12 tháng tuổi còn chừng 1-2 % trẻ còn mắc chứng này, nghĩa là số còn lại tự nhiên khỏi.

Ở Mỹ hiện nay, đại đa số các em đều được chữa rất sớm nếu một hoặc hai hòn dái không xuống nằm trong bìu dái sau một thời gian chờ đợi vài tháng (từ 6 đến 12 tháng). Nói chung người ta chữa các bé dịch hoàn ẩn này trước tuổi 18-24 tháng. Những lý do nêu ra như sau:

  1. Tăng khả năng có con khi trẻ trưởng thành: hết 75% đàn ông bị hiếm muộn (infertility) nếu hai dịch hoàn đều ẩn (bilateral cryptorchism),50% hiếm muộn nếu bị một bên thôi.Người ta hy vọng nếu đem dịch hoàn xuống bìu dái sớm, dịch hoàn không chịu ảnh hưởng không tốt của thân nhiệt (sức nóng trong cơ thể) nên cơ năng sản xuất tinh trùng tốt hơn, khả năng có con sẽ tốt hơn, tuy nhiên điểm này chưa được chứng minh dứt khoát, một phần vì có lúc cơ năng của dịch hoàn đó cũng đã kém sẳn rồi, và ngay cả sau khi được giải phẩu kéo xuống từ nhỏ hòn dái bên được mổ cũng nhỏ hơn bên kia nhiều lúc người con trai trưởng thành. Trường hợp bịnh nhân ở đây dịch hoàn trái dài 9.6mmx20.6mm và phải 10.3mmx23.1mmlà nhỏ hơn mức trung bình nhiều (34mm+-8mm) so với tiêu chuẩn của Mỹ, có thể khác với tiêu chuẩn Á đông.

  2. Giảm cơ nguy bị ung thư dịch hoàn sau này. Ở nam giới , cứ 1000 người sẽ có hai người trước sau cũng bị ung thư dịch hoàn, ở nam giới bị dịch hoàn ẩn, cứ 80 người sẽ có 1 người bị ung thư dịch hoàn, nghĩa là 5-10 lần thường gặp hơn. Ở người mà dịch hoàn nằm thật cao trong bụng (intraabdominal), cơ nguy ung thư còn cao hơn nữa (5%). Nếu đem những dịch hoàn này xuống bìu dái trước 10 tuổi , khả năng ung thư được giảm xuống, nhưng cũng không chắc chắn.

  3. Ngoài ra nếu đem dịch hoàn xuống bìu dái, người đàn ông có thể được chỉ dẫn để tự khám dịch hoàn theo định kỳ , nếu thấy có sưng lên hoặc có gì lạ thì đi khám bác sĩ để coi lại, do đó truy tầm ung thư dịch hoàn giản dị hơn.

Một số bác sĩ chữa bằng thuôc kích thích dịch hoàn (human chorionic gonadotropin), chích thịt từ 3-15 mũi. Một trong những phát đồ điều trị cho trẻ trên 6 tuổi là chích 1000 đon vị quốc tế (IU) 2lần mỗi tuần trong 5 tuần . Hiệu nghiệm trong chừng 10%-55% trường hợp tùy theo khảo cứu. Một thuốc khác là Nafarelin (Synarel) hoặc Buserelin.Hai thuốc này thuộc loại gonadotropin releasing hormone (GnRH), là hormon kich thich tuyến não thùy (pituitary gland, hypophysis), tuyến nào thùy sau đó tiết hormon (LH và FSH ) kích thích dịch hoàn.Thuốc này tiện ở điểm không cần chích mà xịt vào mũi (nasal spray) nhiều lần một ngày, trong nhiều ngày, cần được bác sĩ chuyên môn hướng dẫn và chỉ cho phép dùng ở Âu Châu, ở Mỹ không được chấp thuận.

Đa số bịnh nhân ở Mỹ hiện nay chữa bằng giải phẩu, nghĩa là rạch ở hang em bé, kéo hòn dái xuống thấp và neo lại (orchipexy) đồng thời sửa luôn thoát vị (hernia) đi kèm nếu có .

Tuy nhiên đối với người lớn mắc chứng dịch hoàn ẩn, các khảo cứu cho thấy đem hòn dái xuống bìu dái không giúp cho sự phòng ngừa ung thư cũng như truy tầm ung thư. Cho nên đối với người lớn, theo sách vở y khoa Mỹ hiện nay người ta không cần chữa , không c