TƯỞNG NHỚ TỔNG ÐỐC HOÀNG DIỆU QUA THƠ VĂN

 

                                                                                       Hoàng Vũ

 

Lời tác giả: Hàng năm vào ngày 25 tháng 4, con cháu họ Hoàng khắp nơi tề tựu tại nhà thờ và lăng mộ của Hoàng Tuớng Công  tại làng Xuân Ðài, quận Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam để làm đám giổ Ngài.  Nhà thờ và lăng mộ của Ngài được trùng tu lại rất khang trang và khánh thành vào năm 1992, với kinh phí khoảng $20000 US, do sự đóng góp cuả chính quyền tỉnh Quảng Nam và con cháu họ Hoàng trong nước và khắp nơi trên thế giới. Sau nhiều trận bảo lụt nhà thờ bị hư hại nhiều, nên lại được trùng tu vào năm 1998. Nhân ngày 25 tháng 4 năm 2003, kỷ niệm năm thứ 121 ngày Ông Cố tôi, Binh Bộ Thương Thư Hà Ninh Tổng Ðốc Hoàng Diệu tuẩn tiết tại thành Hà Nội (1882 – 2003), tôi sưu tầm một số thơ do Ngài viết,, hiện nay thất lạc chỉ còn một it bài thôi . Ngoài ra tôi cũng xin trích một số thơ văn do các bạn đồng liêu của Ngài, các kẻ hậu bối, cũng như con cháu Ngài đã viêt về Ngài. Từ xưa đến nay đã có nhiều tác giả viết về tiểu sử của Ngài, nên trong bài nầy tôi chỉ đề cập đến những bài thơ do Ngài viết, và những bài thơ viết về Ngài mà thôi.

 

                                                                                             

 

 

THƠ VĂN DO NGÀI VIẾT:

 

 

                    Hởi khách anh hùng cõi nước Nam

                              Trong vòng danh lợi ấy ai khôn?

                              Tấc gan tiết nghiã non Nùng vững

                              Một dạ trung trinh nước Nhị tuôn

                              Một khắc chia vành duyên trắng hẩm

                              Trăm năm càng tỏ chút vàng son

                              Màu hoa giữ lại xuân thành khách

                              Ngọc diệp kim chi chớ để mòn.

 

  

                      Quá bước tìm phương bỗng tới đây

                      Khen cho con tạo khéo trưng bày

                      Sông e biển cạn bù thêm nước

                      Núi sợ trời nghiêng đở lấy mây

                      Rạc rạc sóng cồn che mặt nước

                      Ào aò gió thổi cuốn rừng cây

                      Nửa về nửa ở lòng đâu nở

                      Ngán nỗi trời chiều bóng xế tây!

 

 

“Dư thường quái Lê Thánh Tôn tuần hành sơ chí giai hữu đề vịnh, hành Quảng Nam phàm tam kiến nhu Ngủ Hành khuyết yên. Ý ngủ bách niên tiền do tại hải trung, khả vọng nhi bất khả đối tòng niệm sa bồi, thủy hửu dân cư, nhi thử sơn xuất hiện.  

Minh Mạng niên giám giá hành Ngũ Hành Sơn, thiết vong giang vọng hải nhị đài. Thượng Hửu Huyền Không, Lăng Hư, Linh Nham, Vân Thông, Tàng Chân ngủ động, khắc tự thạch giang. Hạ hữu Vân Nguyệt, Thiên Long Nhị Cốc, chúc hành lý hứa biệt khai nhất động, thâm nhập âm khí loát cốt, tùng lai vi hửu tích kỳ đế giá. Cái động phúc thiên địa chi kỳ, tất đãi thánh nhân chi hậu kỳ yên?”  

Dịch nghiã:          BÀI KÝ NGŨ HÀNH SƠN

Ta thường thấy làm lạ rằng vua Lê Thánh Tôn đi tuần đến đâu đều có đề thơ ngâm vịnh, song Ngài viếng Quảng Nam ba lần mà không thấy nói đến Ngủ Hành Sơn. Có lẽ trước đây năm trăm năm núi ấy còn ngoài bể, thấy đó mà không tới được, dần dần cát bồi, có người đến ở mà núi đó mới hiện ra.  

Khi vua Minh Mạng ngự giá đến đây ban cho tên là Ngủ Hành Sơn, đặt hai đài Vọng Giang và Vọng Hải. Trên có năm động: Huyền Không, Lăng Hư, Linh Nham, Vân Thông và Tàng Chân, khắc chữ trên bia đá. Dưới có hai hàng: Vân Nguyệt và Thiên Long, thắp đuốc đi bộ một dặm lại mở ra một động nữa, khi đi vào trong khí lạnh buốt xương, từ trước đến nay chưa ai đến tận cùng. Phải chăng chốn động phước thiên kỳ vỹ còn chờ thánh nhân chăng?  

2.      THƠ VĂN VIẾT VỀ NGÀI:

    

                                        Lòng trung vằng vặt giữa trời xanh

                      Cuộc thế xuôi nên một sáng đành

                      Khí tỏa non Nùng cao chót vót

                      Hồn chầu bệ ngọc sáng long lanh

                      Súng Tây bác chẳng hề nao núng

                      Tàu Pháp tôi nào chịu mỏng manh

                      Không sống cùng thù tôi bác nguyện

                      Ðược thua há bận chí hùng anh!  

 

 

                      Một tay cầm bút lại cầm binh

                      Muôn dặm giang sơn chỉ một mình

                      Phò chúa chuá lo, lo trước chúa

                      Giữ thành thành mất, mất theo thành

                      Suối vàng chắc hẳn mài gươm bạc

                      Máu đỏ âu đành chép sử xanh

                      Di biểu hảy còn nêu chánh khí

                      Nghìn năm ghi nhớ bậc hùng anh.

 

                                                  

                      Trượng phu hưá thân vì nước,

                            chỉ hết mình nơi việc đáng làm.

                      Chí sĩ quyết liệt thành nhân,

                            há lại sát thân mà tiếc!

                      Thấy nguy liều mệnh,

                            thế mới là đáng gọi can trường.

                      Coi chết như về,

                            thật rõ rệt trần gian hãn hữu.

 

 

                      Thiết thạch can trường nhất tử trung

                     Giang sơn hòa lệ khấp anh hùng

                     Phong vân biến sắc bi hào kiệt

                     Thaỏ mộc hàm sầu biệt tướng công

                      Nhất phiến đang tâm chiêu nhật nguyệt

                     Sổ hàng di biểu liễu tang bồng

                     Hoành Sơn Trà Lĩnh bi trường tại

                     Thanh sử tiền đề vọng cổ phong.

 

 

                      Một cơn gió thảm mưa sầu

                     Nấu nung gan sắc giãi dầu lòng son

                     Chữ trung đã rắp vuông tròn

                     Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây

                     Trời cao bể rộng đất dầy

                     Núi Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi

                     Thương ôi! Trong buổi lưu ly

                     Tấc riêng ai cũng thương vì người trung

                     Rủ nhau tiền góp của chung

                     Ðưa người ra táng ở thung học đường

                     Thiết tha nhẽ ngẩn ngơ nhường

                     Tả tơi thành quách tồi tàn vật nhân

                     Ngán thay cho cái phong trần

                     Ngán thay cho kẻ trung thần lắm thay!

                                           ***

                     Vì ai nên nỗi nước nầy

                     Ðể người danh tiết biết ngày nào quên

                     Dãi Nhị Hà cõi giang biên

                     Trăm năm tiếng tốt để nghìn người coi

                     Họ Hoàng Tổng Ðốc là ai?

                     Anh hùng khẳng khái vốn người cõi Nam

                     Ngồi thành Hà Nội mấy năm

                     Một phương cõi Bắc ngưả trông thế nào.

                 

                    

 

                      Gươm lệnh vua trao trấn cõi ngoài

                     Tình nhà nợ nước triũ hai vai

                     Trượng phu hưá quốc thân nào tiếc

                     Chí sĩ lưu phương sử chẳng phai

                     Lưỡng độ gươm thiên ngời chính khí

                     Thiên thu di biểu rạng anh tài

                     Nhiễu điều một dải đền ơn nước

                     Ðâu thẹn tiền nhân chốn vũ đài.

 

 

                                Gươm báu vua ban trấn giặc ngoài

                                Hiếu trung hai chữ trĩu bờ vai

                                Hy sinh tựu nghĩa bia ghi tạc

                                Tuẩn quốc thành nhân sử chẳng phai

                                Di biểu đôi dòng ngời tiết tháo

                                Non Nùng lưỡng độ rạng anh tài

                                Kiến nguy thọ mạng đền ơn nước

                                Oanh liệt vang danh cõi vũ đài.

 

 

                      Giặc Pháp mưu toan ở cõi ngoài

                     Ngăn loài Bạch Qủi nặng đôi vai

                     Tứ bề thọ địch (1) tâm không chuyển

                     Bốn phiá công thành dạ chẳng phai

                     Hùng Lĩnh còn thương người nghĩa khí

                     Nhị Hà mãi tiếc đấng anh tài

                     Ngàn năm tiết tháo lưu kim cổ

                     Tổ Quốc vinh danh tạc tượng đài. (2)

 

(1)    Vừa bị quân Pháp bao vây tứ phiá, lại bi nội phản. Ðiển hình là Án Sát Tôn Thất Bá được Ngài cử ra ngoài thành xem xét nội tình, đã cam tâm đầu hàng kẻ địch, lại còn cho giặc biết cách bố trí phòng thủ của quân ta để giặc dễ bề tấn công.

(2)    Thành phố Hà Nôi với sự đóng góp tài chánh của con cháu họ Hoàng đang xúc tiến đúc một tượng đồng của Ngài, không biết đã hoàn thành chưa.

 

 

                      Tổ quốc lâm nguy giặc lấn ngoài

                      Làm trai trung hiếu nặng thềm vai

                      Giang sơn một cõi gan không núng

                      Khanh tướng đôi bề dạ chẳng phai

                      Cứu nước gươm thiên xoay trục đất

                      Quên mình chính khí rạng hiền tài

                      Tấm gương đại nghĩa ngời thanh sử

                      Dũng tiết nghìn thu dấu tượng đài

 

 

                                   Như ngọn thần phong cuốn buị ngoài

                                  Trùng trùng sóng hận quyết chen vai    

                                   Cưả ô mấy lớp gươm mài bén

                                  Cổ giặc bao hàng gió cuộn phai

                                  Ngời khí ung dung mà tựu nghiã

                                  Rạng gươm khẳng khái để so tài

                                  Dấu xưa còn đó xanh giòng sử

                                  Dải lụa sông Thao ngõ trấn đài.

                                  

 

                      Vâng lệnh ra đi nhậm xứ ngoài

                     Lo toan nhiệm vụ chất đôi vai

                     Tình nhà gác lại thân nào quản

                     Nợ nước báo đền dạ chẳng phai

                     Ðất Bắc nêu cao người nghĩa khí

                     Trời Nam tỏ mặt bậc anh tài

                     Mất thành tuẫn quốc không hàng giặc

                     Sử sách lưu danh, lập tượng đài.

 

                                       Canada, đầu xuân 2003