Dịch Thơ Đường Tống

 

      Lư Bạch  李白

 

 

登金陵鳳凰臺

鳳凰臺上鳳凰遊
鳳去臺空江自流
吳宮花草埋幽徑
晉代衣冠成古邱
三山半落青天外
二水中分白鷺洲
總為浮雲能蔽日
長安不見使人愁

 

ĐĂNG KIM LĂNG PHƯỢNG HOÀNG ĐÀI

Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du,
Phượng khứ đài không giang tự lưu.
Ngô cung hoa thảo mai u kính,
Tấn đại y quan thành cổ khâu.
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại,
Nhị thuỷ trung phân Bạch Lộ châu,
Tổng vị phù vân năng tế nhật,
Trường An bất kiến sử nhân sầu.

 

Phượng Hoàng Đài: là đài trên núi Phượng Hoàng, ngoài cửa Nam thành Kim Lăng (Nam Kinh ngày nay). Đài Phượng Hoàng xây vào đời Nam Triều. Vào năm 493, đời Tống Văn Đế có chim ngũ sắc đến đậu trên núi Kim Lăng mấy ngày. Hễ chim hót th́ 100 loài chim khác múa theo điệu hót. V́ thế người ta gọi là chim Phượng Hoàng. Văn Đế cho là điềm lành, đặt tên núi ấy là Phượng Hoàng và xây đài kỷ niệm.

 

 

 

 

 

Dịch Thơ:

 

 

LÊN ĐÀI PHƯỢNG HOÀNG Ở KIM LĂNG
Đài Phượng Hoàng cao, phượng đến chơi,
Phượng đi, đài vắng, dải sông trôi !
Cung Ngô hoa cỏ che đường lối,
Đời Tấn cân đai hoá núi đồi.
Ba ngọn thanh sơn, trời khuất nửa,
Một vùng Bạch Lộ nước chia đôi.
Chỉ v́ mây nổi che vầng nhật,
Chẳng thấy Trường An năo dạ người.

Khương Hữu Dụng

 

Phượng Hoàng đến Phượng Hoàng đài,
Phượng đi, đài bỏ, nước trôi lạnh lùng.
Cỏ hoa lấp lối Ngô Cung,
Y quan đời Tấn nay trong thấy đồi.
Mịt mù ba núi màu trời,
Băi kia Bạch lộ nước trôi hai ḍng.
Đám mây che khuất vầng hồng,
Trường An không thấy, nỗi ḷng băn khoăn

Trần Trọng Kim

 

Đài Phượng xưa nơi kia Phượng đậu,
Phượng đi, đài vắng, nước sông trôi.
Cung Ngô, lối hẻm hoa cây lấp,
Triều Tấn, g̣ xưa áo mũ vùi.
Ba núi lửng lơ nơi khoảng biếc,
Hai ḍng chia sẻ băi sông bồi.
Vừng ô mờ mịt sau mây nổi,
Không thấy Tràng An, dạ rối bời.

Trần Trọng San

 

Phượng hoàng đến viếng phượng đài
Phượng đi đài vắng sông dài vẩn trôi
Cỏ hoa phủ lối cung Ngô
Cân đai đời Tấn thành mồ cỏ xanh
Nửa trời ba giải thiên thanh
Cù lao Bạch Lộ nước quanh hai đường
Mây trôi che ánh thái dương
Trường An chẳng thấy sầu vương bao t́nh.

Phí Minh Tâm

 

渌水曲

渌水明秋月
南湖埰白蘋
荷花嬌欲語
愁殺蕩舟人

Lục Thủy Khúc


Lục thủy minh thu nguyệt
Nam hồ thái bạch tần
Hà hoa kiều dục ngữ
Sầu sát đăng chu nhân.

 

Chú Thích:
1. Nguyệt: có bài viết chữ nhật, ư không thơ mộng bằng chữ nguyệt.
2. Bạch tần: loại rau tần có hoa trắng
3. Hoa đẹp quá muốn thành mỹ nhân để nói chuyện cùng người mà không được.
4. Thi nhân đi thuyền buồn chết được v́ muốn nói chuyện với hoa mà cũng không được.

 

 

 

Dịch nghĩa:


Khúc Nhạc Nước Trong
Nước trong xanh có trăng mùa thu sáng
Đi hái rau tần trắng ở hồ Nam
Hoa sen xinh đẹp như muốn nói chuyện
Người đi thuyền buồn đến chết được.

 

Dịch Thơ:

 

Nước trong sáng tỏ trăng thu
Hái rau tần trắng đến hồ nam chơi
Hoa sen như muốn ngỏ lời
Vẻ xinh buồn chết người bơi con thuyền.

Trần trọng San

 

Trăng thu sáng tỏ nước xanh
Hái hoa tần trắng trên gành hồ Nam
Sen như muốn nói cùng trăng
Cảnh buồn xao xuyến người đang đi thuyền.

Phí Minh Tâm

陌 上 贈 美 人


駿 馬 驕 行 踏 落 花
垂 鞭 直 拂 五 雲 車
美 人 一 笑 褰 珠 箔
遙 指 紅 樓 是 妾 家


Mạch Thượng Tặng Mỹ Nhân
Tuấn mă kiêu hành đạp lạc hoa
Thùy tiên trực phất ngũ vân xa
Mỹ nhân nhất tiếu khiên châu bạc
Dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia.

 

Dịch nghĩa:
Ngựa bước kiêu hảnh dậm lên hoa rụng
Lấy roi đánh ngựa gỏ vào xe mây năm màu
Người đẹp mỉm cười vén màng ngọc
Chỉ hồng lầu xa xa và nói "nhà thiếp ở đấy".

 

 

Dịch thơ:


Hoa rụng nát tan dưới vó câu
Nhẹ êm roi gỏ xe năm màu
Mỉm cười người đẹp vén màng ngọc
"Nhà thiếp nơi kia", chỉ hồng lâu.

Phí Minh Tâm



The beautiful horse proudly galopped and stepped on fallen flowers
The rider lovered his whip and gently tapped the cloud's five color carriage
A beautiful woman with a smile raised the bead curtain
Pointing at the pink palace (a brothel) in the distance she said:"That's where I live".

   
Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm NLM50 Trang Nhà Khóa 2