HƯƠNG B̀NH THI XĂ

Với "Một Thiên T́nh Sử"

Khoản cuối thập niên 50, quư cụ trong Hương B́nh Thi Xă xôn xao, hứng khởi khi nhận được tin về một chuyện t́nh thi thơ kỳ thú giữa cụ Diên Hương, là một thi hữu trong Đàn Diêu Tŕ Sài G̣n với một kỳ nữ ẩn tích bút tự Vu San Nữ.

 

Chuyện thi thơ xướng họa này được khởi đăng trên tờ tuần báo Bông Lúa tại Sài G̣n và tức khắc được thi hữu xa gần hưởng ứng nhiệt liệt ! Thư từ khắp nơi tới tấp gởi về phụ họa, mượn vận hoặc phóng vận chúc mừng, khen tặng hay trêu cợt mối t́nh có tính cách Liêu Trai Chí Dị này, và đă gây nên một cuộc văn bút rất hào hứng thi vị.

 

Hội Đàn Diêu Tŕ với Làng Thơ Hương B́nh đă có sẵn mối thâm giao từ trước, các Cụ vẫn thường ra vô Sài G̣n-Huế tiện dịp viếng thăm con cháu, thân hữu, dự hát ngâm, xướng họa thường kỳ.

 

Giới hạn trong bài này, chúng tôi xin tóm lược đăng một số bài xướng họa khởi đầu mối duyên t́nh Thi Thơ Thanh Tao tuyệt bút giữa Thi Ông Diên Hương với Vu San Nữ, sau đó trích đăng lại một số bài ứng họa của quư Thi Ông trong Hương B́nh Thi Xă.

 

Đoạn cuối là bài thơ Biệt T́nh của Vu San Nữ cùng Cụ Diên Hương họa lời Vĩnh Biệt, ư thơ dạt dào hồn thơ bi thiết, thật vô cùng cảm động. Phần này cũng có mục phụ họa của quư Cụ trong Hương B́nh Thi Xă.

 

Mối duyên t́nh kể trên đă diễn ra như sau :

 

Cụ Diên Hương vừa mừng lễ thọ Thất Thập vào tháng giêng 1958, th́ tháng 3 nhận được một bức thư lạ kư tên Vu San Nữ, nguyên văn như sau :

 

Sài thành 10-3-58

Kính gởi Tiên Sanh Diên Hương.

 

Thưa Tiên sanh,

 

Bấy lâu cảm mộ, khó nổi giải bày; hương lạnh án thơ, ai là sứ điệp ?  Trăng sân gió gác, giấc mơ ṃng gởi hồn khách tài hoa. Nếu chẳng ba sinh duyên cũ, chi mà chín khúc tơ vương. Mấy phen cất bút lại ngừng, mấy phen muốn đánh liều nhắm mắt đưa chân đến hầu dưới án. Nhưng mà mai gầy liễu ủ, t́nh riêng ḷng những ngại ngùng, nước chảy hoa trôi, e nỗi hoa hữu ư mà nước vô t́nh th́ thêm nặng cho kiếp sống thừa một thiên trường hận. Soi gương thẹn bóng, mượn bút thay lời, một khối u t́nh, mấy vần thảm vịnh :

 

Vui xuân chung cả một trời,

Sầu xuân riêng để cho người tương tư.

Sông Tương một dăy nông sờ,

Hoa trôi man mác người chờ đăm đăm

 

Thơ rằng :

Gió cuộn ngàn mây cuốn ruột tằm,

Nữa tràng xuân mộng mấy xa xăm.

Canh dài dưới bóng trăng suông lạnh.

Phận mỏng bên hoa lệ nhỏ dầm.

Mối nợ ba sanh âu chửa dứt.

Mạch sầu trăm trượng măi càng thâm.

V́ ai vàng vơ ṃn thân liễu.

Nhắn gởi ai ôi nỗi khổ thầm.

 

Lời Trang Chủ: Những bài họa, bài cảm hứng dưới đây, của các thi sỉ hậu bôí thuộc Thi Đàn NLM làm tặng Vu San Nữ và Diên Hương Thi Ông, không nằm trong nguyên tác.

 

Một khối t́nh tơ một kiếp tằm,

Chờ người se mối quá xa xăm.

Tơ chùng phím lệch đàn ngang bậc,

Duyên bạc t́nh si lệ ướt dầm

Thui thủi chiều hôm thân liễu rũ ,

Bẻ bàng khuya sớm ánh đèn thâm.

Cạn ḍng lá thắm buồn trăn trở ,

Gối chiếc song thưa măi khóc thầm !

Cao Yên Tuấn

 

Đă trót thân em lỡ kiếp tằm

Buông tơ gởi trọn kẻ xa xăm

Chăn đơn lạnh lẽo thân cô quạnh

Gối chiếc buồn thiu lệ đổ dầm

Kiếp trước lỡ làng duyên phận mỏng

Đời nầy trắc trở mối t́nh thâm

So giây, giây măi luôn trùng phiếm

Thổn thức v́ ai nuốt lệ thầm.

Hoàng Vũ

 

Nhả tơ cho hết một kiếp tằm.

Hồng nhan duyên bạc như quẻ xăm

Mạch sầu vạn trượng tăng lớn măi

Chiếc bóng canh khuya  lệ chảy dầm

Trước gió phận hoa rơi tản mác

Mối nợ ba sanh chửa hết thâm

Nửa tràng xuân mộng đêm thổn thức

Số phận hẩm hiu phải khóc thầm.

Phí Minh Tâm (3/14/2004)

Xót Thiên T́nh Sử Văn Thơ

 

Một thiên t́n sử văn thơ

Xem qua ḷng bổng thẩn thờ tiếc thương

Thương cho phận bạc má hường

Tiếc cho thi lăo, cận đường thiên thu.

 

Tinh thơ Ả Chức, Chàng Ngưu

Nhịp cầu Ô Thước chưa lưu dấu hài

Duyên thơ c̣n đậm, c̣n dài

Mà giai nhân đă ra ngoài xa xăm.

 

Máu đào loang cơi trăm năm

Lăo thi nhân có, cố cầm lệ rơi?

Tôi là hậu bối, người ơi

Cũng nghe một chút lệ rơi trong ḷng.

 

Tử sinh trong chốn cơi hồng

Đố ai tránh khỏi con sông tử thần

Thế mà ḷng vẩn bâng khuâng

Tiếc thương đọng lại mỗi lần tiển đưa.

Huy Linh

 

Kiếp Tằm

Cùng ai nhắn gởi nỗi khổ tâm

V́ ai vàng vơ tháng với năm

Mạch sầu vạn trượng tăng lớn măi

Mối nợ ba sanh chửa hết thâm

Trước gió phận hoa bay tản mác

Canh dài chiếc bóng lệ nhỏ dầm

Nửa tràng xuân mộng đêm thổn thức

Nhả tơ cho hết một kiếp tằm.

Phí Minh Tâm

 

 

Cụ Thiên Hương chưa kịp nghĩ ra sao th́ tiếp được bức thư thứ hai.

 

Đô thành 25-3-58

 

Kính Tiên Sanh Diên Hương,

 

Tin nhạn đi đă nửa trăng mà sứ điệp trông hoài vắng bóng. Chẳng lẻ bèo dạt măi lênh đênh nơi biển ái mà khách tài hoa đành hờ hững với hương xuân. Cái đời bốn chục xuân thừa, năm lọc mười lừa c̣n gặp phải con đường tuyệt vọng. Buổi nhỏ vốn cũng được ít nhiều nghiên bút, chẳng dám cậy tài khoe sắc, lại v́ đâu trắc trở t́nh duyên ? Hay là cái bút tự Vu San khiến cho người phong nhả khách ḥa hoa phải bận ḷng phân vân nghĩ ngợi ? Ai biết chăng, tháng ngày qua gần ba chục năm trời hồn khấu nữ măi vẩn vơ nơi đảnh giáp. Trái oan vương vấn, hương lửa lạnh lùng, nửa giấc cô miên, khối t́nh tŕu trịu.

 

Bao giờ hương lửa duyên ưa ?

Biết đâu t́nh trước c̣n chờ duyên sau.

Nói chăng nghe cũng thế nào.

Nói chăng th́ lại nao nao tấc ḷng.

 

Thơ rằng :

 

Cô pḥng lặng lẽ nguyệt ḍm song,

Đứt mối mành tơ nát cỏi  ḷng.

Lăng văng mây chiều mơ bóng nhạn,

Lạnh lùng đêm quạnh mỏi tin hồng.

Duyên xưa dẫu lỡ nguồn ân cạn,

T́nh trước c̣n chờ bến nước trong,

Đă trót nhắn nhe lời thệ hải,

Ǵn vàng giữ ngọc măi chờ trông.

                    Vu San Nữ tŕnh chánh  

 

Cụ Diên Hương càng thêm suy nghĩ th́ lại thêm bức thư thứ ba, dấu bưu điện đề ngày 11-4-58.

 

Kính Tiên sanh Diên Hương,

 

Mấy phong thư nhắn, mấy đoạn thơ sầu. Phương trời trông mỏi, bóng nhạn về dâu ? Đă không tiếc ngọc thương hương, cũng chẳng v́  hoa xót liễu. Sao mà tệ lắm vậy ? Sao mà bạc lắm vậy ? Tâm khô lửa hạ, ngỗn ngang trăm mối v́ ai gió dẫn hương lan, thổn thức năm canh ảo mộng … Mộng ai ai có biết ? Tưởng khách khách làm ngơ. Một bóng đèn,  thâu canh những đi về say tỉnh giấc. Mượn cây bút ngọc, bắc nhịp cầu vàng, cùng khách đài lan, nối vần thơ thánh. Hay đâu ! Má đào phận bạc trơ bên cầu ṃn mỏi những chờ ai ! Vắng vẻ Lam Kiều sương gieo lệ, lệ pha sương, hận t́nh thêm nặng. Linh đinh hồn điệp, nước đưa duyên, duyên theo nước, nguyền bến là đâu ? Cũng biết tu là cội phúc, mà mối nợ t́nh vương víu măi không thôi; cho hay đời nối dây oan, nên duyên túc đế dằng dai chưa trả dứt.

 

Duyên kia theo măi với t́nh,

Mong manh ḿnh nghĩ nỗi ḿnh mà đau,

Mỏi ṃn nào thấy ai đâu ?

Sông Ngân bỏ vắng nhịp cầu sao đang ?

 

Thơ rằng :

 

Dằn măi không ra mối hận trường,

Chung bầu non nước, cách Sâm Thương.

Bên tai như vẳng lời kim thệ,

Mở mắt c̣n đâu bóng ngọc đường?!

Thỏ bạc xuyên mành dang dở mộng,

Lư trầm bặt khói lạnh lùng hương,

Ôm cầm đợi khách sầu tuôn ngón

Có thấu cho ai khúc đoạn trường .

 

Cụ Diên Hương đọc kỷ ba bức thư thấy văn chương trau chuốt, ư tứ dồi dào, nhưng chưa biết nghĩ làm sao, th́ nhân một buổi hội thơ cụ đem ba bức thư trên đọc cho các thi hữu nghe. Các bạn đều khen thơ hay và yêu cầu cụ họa lại để gây một cuộc t́nh duyên thơ phú. Cụ Diên Hương nghe lời bạn, bèn làm ba bài họa, nhưng v́ không có địa chỉ Vu San Nữ nên phải gởi đăng vào mục Tao đàn của tờ tuần báo Bông Lúa cho tới tay người ngọc.

 

Lăo Thơ sanh Diên Hương

Thân ái gởi : Vu San Nữ, Sài G̣n.

 

Thưa Nương Tử,

 

Tôi như mặt trời chiều, non đoài sắp ngả bóng kim ô, cô tựa mảnh trăng thu, hồ Bắc đang ngời gương ngọc thố. Ngờ đâu được khách hồng nhan để ư th́ hân hạnh biết là bao, cho nên đọc ba bức thư phong, rất cảm mấy lời vàng đá. Thưa Nương Tử, dầu cho Liễu Hạ Huệ tái sanh, cũng không trơ dạ đá mà ngảnh mặt hào hoa quân tử, huống chi tôi tuy chẳng dám sánh Tư Mă Quân hồi thế, cũng không chai ḷng vàng mà phụ trang đài sắc thuyền quyên.

 

Thú thật, đôi phen rút mảnh hoa tiên, để viết đôi ḍng chữ nghĩa, th́ đôi phen tôi lại dẹp cây bút ngọc, đành say mấy vận thơ t́nh. V́ tại sao ? Tôi thầm nghĩ, Nương Tử tự bút Vu San th́ có lẽ ḍng thuyền Thần Nữ; và như thế không lẽ tôi đi học đ̣i Lưu Nguyễn mà t́m đến động Thiên Thai. Cho nên thà tôi bặt lối Bồng Lai, hơn để si t́nh Từ Thị. Nhưng mà :

 

Lạ cho cái thói hữu t́nh

Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong !

 

Rồi nghĩ măi cái nghĩa Ngưu Lang, ai đi nỡ phụ thê thất tịch; lại thương hoài mối t́nh Chức Nữ, ḷng dặn đừng lỗi nguyện tam sanh.

 

Mà thảm thay ! Tôi như chiếc nhạn về Nam, Nương tử tợ cô hồng lên Bắc; làm sao gặp, khó nổi t́m; thôi th́ cũng bắt chước Nương tử, tạm mượn cây bút ngọc, sang bắt nhịp cầu vàng, để cho nước đưa truyền, trông cho thuyền cặp bến.

 

Ḍng sông Tương, chiếc thuyền t́nh.

Lẽ dâu măi măi lênh đênh giữa vời.

Buồm ân gió ái đưa hơi

Cho thuyền cặp bến cho người sánh duyên.

Ba sanh mới vẹn mười nguyền.

Bỏ khi thương trộm bỏ phiên nhớ thầm

 

Thơ rằng :

 

Ai đem chỉ thắm chắp tơ tằm

Một nghĩa, hai t́nh mấy biếm xâm.

Nh́n bức thơ tiên hoa gấm dệt,

Vuốt lằn tóc bạc tuyết sương dầm.

Rằng duyên … sao để thời xuân quá,

Phải nợ … lo ǵ biển ái thâm.

Chẳng nệ đông hàn mai dạn gió,

Giọng tỳ Tư Mă ngẩn ngơ thầm.

 

Thầm than gió lạnh lọt huỳnh song,

Như gợi niềm tây rối tấc ḷng.

Dỡ thiếp lan đ́nh mơ hội kiến,

Vung cây cù mộc đón cô hồng.

Đài gương hạ cố soi bèo cỗi,

Vườn hạnh xuân tàn ngậm lệ trong.

Hạc nội mây ngàn đâu nhắn gởi,

Triền miên ngày một, nỗi chờ trông.

 

Chờ trong ngày vắng suốt đêm trường.

Gởi gió tung ngàn nỗi nhớ thương.

Dám hỏi không t́nh sao thả lá,

Đă gây nên tội lại ngăn đường.

Mơ tiên giấc điệp khôn thành mộng.

Tưởng bóng song hồ măi nối hương.

Những nhớ rồi thương, thương lại nhớ,

Mưa tuôn giọt thảm thấm can trường.

                Diên Hương Cẩn khải.

 

Tờ tuần báo B.L. vừa xuất bản vài ngày th́ Cụ Diên Hương tiếp được thơ của Vu San.

 

Đô thành, ngày 12-8-58

 

Thưa Tiên Sanh,

 

Dở mấy trang B.L., thấy ba bức thư t́nh, th́ ra : Từ lúc ve kêu giữa Hạ cho đến khi lá rụng đầu Thu, thiếp đây : biết bao nhiêu sầu chích bóng, biết bao nhiêu hận cô pḥng ! Thiếp c̣n nhớ : mấy độ trăng mờ, đôi ḍng lệ thảm, đề năm vần thơ nhạn, trên một mảnh giấy hồng.

 

Thơ rằng :

Dài quá ba thu một khắc sầu.

Mộng hồn vơ vẩn biết về đâu ?

Sông Tương đợi mỏi  đoàn ô thước

Phím ngọc buồn lơi khúc phụng cầu.

Ruột đứt ngày thêm, thêm đứt ruột,

Châu tràn giọt nối, nối tràn châu.

Hăm t́nh u uẩn, tơ trùn mối,

Dài  quá ba thu một khắc sầu !

 

Nhưng mà, đang buồn duyên hạ lỡ làng, bỗng đẹp t́nh thu phơi phới. Tiên sanh đă ḥa thi phúc đáp, tiện-thiếp xin hạ bút hồi âm ... 

 

Thưa Tiên sanh, thiếp dám hỏi : Thiếp mến Tiên-sanh mà nhờ hồng điệp đưa duyên; nhân sao ông ngờ Thần nữ đi cậy Vỹ Sanh (1) làm mối? Hễ là đây bí lối th́ đó sao khỏi thẹn-thùng. Tệ chi lắm vậy? Ác chi lắm vậy?

 

T́nh trong như đă vậy rồi

E chi ngoài mặt cậy người mối mai.

Ngàn hoa cách nước buồn ai ?

Ngọc-Kinh khéo đến chẳng quay Lam Kiều (2)

Chú thích :

(1)-Chỉ ông Giám đốc Tuần báo Bông Lúa

(2)-Có câu : Lam Kiều tự hữu thần tiên quật, Hà tất khi khu thượng Ngọc Kinh?

Thơ trách rằng :

 

Đă lắm cay co, khổ đă nhiều,

C̣n nêu muôn mắt cợt t́nh yêu.

Hận trường chan chứa nguồn thơ sớm

Khí đoản chơi vơi giấc mộng chiều,

Rừng hạnh thu sang nhuần ngọc lộ.

Đài  trang đông quạnh khóc xuân tiêu.

Đá vàng riêng nhắn người quân-tử.

Bao nỡ phanh-phui,  khách dập-d́u.

            V.S.N. thân ái tŕnh chánh

 

Cụ Diên Hương được thơ vội trả lời.

 

20-8-58

 

Thưa Nương-tử,

 

Sau khi đăng thơ của nương-từ, th́ liên tiếp được mấy ḍng chữ gấm của t́nh nương, tệ lăo nầy lấy làm cảm ái mà cũng bao nỗi thẹn thùng.

Cảm v́ bức hoa tiên lời lời châu ngọc; thương v́ ng̣i bút thánh nét nét đá vàng. Thẹn v́ liều lĩnh mà sỗ-sàng, hổ bởi vụng-về nên sơ sót. Có lẽ nương tử cũng hiểu cho mà không chấp.

Chớ phải chi tệ lăo biết nương tử : giữa hạ nghe tiếng ve ngâm mà chạnh niềm chích bóng; th́ tệ lăo cũng làm sao cho : đầu thu thấy hàng nhạn lượn khuây cảnh cô thân. Chớ dám đâu bỏ bụng giai-nhân, mà lại có hẹp t́nh quân tử. Vậy gởi mấy vần cho Chức-Nữ, đặng bày tấc dạ của Ngưu-Lang.

 

Thơ họa rằng :

Ba thu dồn lại mấy thu sầu,

Rối rắm tơ ḷng rối những đâu.

Kẻ đợi tin nhàn nương bệ cửa,

Người trông h́nh dạng bám gầm cầu,

Vận tràn t́nh nghĩa, thơ tràn vận.

Châu thấm tâm hồn, má thấm châu.

Eo óc canh gà say chửa tỉnh.

Ba thu dồn lại mấy thu sầu.

                                  Diên Hương

 

Thưa Nương tử,

 

Đồng thinh tương ứng đồng khí tương cầu. Huống chi bến Ngân Hà, đă bắc nhịp cầu, không lẽ lầu Lộng Ngọc lại im tiếng sáo.

Đừng ngờ duyên cho duyên ngỡ ngàng mà áo năo, hăy khăng nghĩa cho nghĩa khắng-khít mới vững bền. Th́ trời Vu-San nguyệt sẽ trong cho sáng mặt thuyền quyên, c̣n sân Diêu thất  hoa kế nở cho thơm ḷng quân tử.

 

Lá duyên đă thắm tươi rồi

Nầy trang đông bá, nọ người xuân mai

Ngăn hoa cách nước dầu ai.

Ngọc Kinh cũng đến, cũng quay Lam Kiều

 

Thơ đáp rằng :

 

Thương nhau cũng lắm, trọng nhau nhiều

Muôn mắt trông vào đượm vẻ yêu.

Chẳng đặng kề vai chờ nguyệt sớm.

Th́ cùng chung bóng thưởng trời chiều.

Hè qua dế thét ân t́nh đáp,

Thu lại quyên gào đoạn thảm tiêu.

Thả lá ḅn vàng, khen thục nữ.

Ra tay quân tử quyết ḷng d́u.

                                Diên Hương  

 

Thưa nương tử,

 

Tâm sự một bầu tơ t́nh mấy đoạn  Không hiểu sao đọc mấy ḍng thơ của nương tử ḷng bắt tư tư tưởng tưởng Mà tư ai mà tưởng ai ? Nương tử ở chốn nào ? Than ôi Nh́n bốn phương trời, bóng người ngọc t́m hoài không thấy dạng. Nương tử ra làm sao ? Buồn thay ! Nhắm đôi mắt tục, mộng đêm xuân trông măi chẳng ra h́nh ! Té ra : Hữu t́nh lại hóa vô t́nh, hậu nghĩa thành ra bạc nghĩa  Trăng thu vặc vặc, mà biết cùng ai ngâm câu hải thệ ? Màu cúc xinh xinh mà biết cùng ai đốt nén hương nguyền ? Vậy cũng vớt lá để t́m duyên vậy cũng ấp cây mà đợi thỏ.

 

Than ôi !

Sầu dường bể khắc như năm  

Sương mai chịu được mấy lăm mà gầy

Ngàn xưa ai cũng thế nầy

Gánh sầu san sẻ ai đầy ai vơi ?

 

Thơ rằng :

 

Tiếng trúc đường ti  lắm điệu thần

Mà sao thừa tiếp lại bâng khuâng

Vu San dẫu biết tràn mưa gió

Ngọc thất không dè vướng ái ân

Thục nữ đưa duyên nhiều gắn bó

Lăo phu hẹp dạ hóa lần khân ?

Thuyền t́nh cất mái dầu in nhịp.

Gặp phải dông to, liệu đỡ đần

                      Diên Hương

 

Cuộc xướng họa càng tiếp diễn càng nồng nàn gắn bó càng phô nét đẹp tuyệt vời của thi phú Việt Nam, hàng hàng châu ngọc, lời lời gấm thêu. Người trong cuộc say đắm đă đành, mà thi hữu khắp nơi cũng bị lôi cuốn vào cuộc xướng họa thanh nhă này.  Số thi hữu tham gia rất đông đảo, mỗi bài mỗi tứ lạ, lắm ư hay, nhiều ư đẹp … cho ta thấy vần thơ VN thật là sâu sắc phong phú. V́ giới hạn của tờ báo nên chúng tôi xin tạm ngưng phần xướng họa của Cụ Diên Hương, và Vu San Nữ để trích đăng giới thiệu một số bài của Quư Cụ trong Hương B́nh T.X.

 

Trước hết là bài của Cụ Ưng B́nh.

 Đọc Thiên T́nh Sử

Chuyện Cô Vu Nữ gái Kiều anh

Với Cụ Diên Hương đấng lăo thành

Cư Sĩ không ngờ duyên tóc bạc

Tiên nga bỗng vướng nợ mày xanh

Tuy trường văn vơ chưa ra mặt.

Mà thú phong tao đă rạng danh.

Thù tạc văng lai câu xướng họa.

Nghiên vàng bút ngọc tả phân minh.

 

Bát thập nhị tuế lăo phu

        Ưng-B́nh Thúc Giạ Thị

 

Bài của Cụ Kỉnh Chỉ Phan văn Hy.

Gởi Cô Gái Vu Sơn

Khéo nhả tơ thêm rối ruột tằm.

Nhơn duyên khéo tưởng chuyện xa xăm.

Khúc đờn Tư Mă nghe chưa lọt,

Giọt lệ Văn Quân đă ướt dầm.

Xuân có ghen chi người phận mỏng

Thi khôn tả hết mối t́nh thâm,

Cậy ai nhắn hỏi cùng ai đó.

Ai kẻ vui riêng kẻ tủi thầm.

 

Bài của Cụ Tống Nguyên Nguyễn Trung Hậu

 

Người sao đa cảm, đa sầu

Tự ḿnh bắc lấy nhịp cầu tương tư.

Trăng thề lọt bức màn thưa

Bởi xa xôi mặt, nên ngơ ngẩn ḷng.

Ṿ chi cho rối sợi tơ tằm

Hăy đợi xuân về chiếm quẻ xăm

Chưa rơ t́nh đầu sao trách vội

Khéo dư nước mắt dễ tuôn dầm

Ḍ lần bể ái chơn c̣n ngợ.

Đắp lấy thành sầu mắt phải thâm

Bà Nguyệt trêu ngươi cho lắm vẽ.

Khiến ai ngoài cuộc cũng thương thầm.

 

Bài của Cụ Quỳ Ưu Nguyễn Dương Đôn

 

Từ thuở vương mang mối chỉ tằm

Tâm hồn xây xẩm tợ người xâm

Dập dồn mưa gió gan khô héo

Cách trở non sông lệ ướt dầm,

Biết phận bèo mây là phận mỏng

Mà t́nh vàng đá cũng t́nh thâm

Nặng ḷng e ấp bao thương nhớ

Ờ ỡm nhau chi dạ xót thầm.

Đọc thơ xướng họa của Vu San Nữ, Cụ Diên Hương nghi nàng là một thi nhân lăo luyện nên cụ mới xướng lên một bài Thập thủ liên hoàn, gởi cho tri kỷ có ư gây một cuộc xướng họa thanh nhă. V́ quá dài nên chúng tôi chỉ trích đăng đoạn l của các bài xướng họa của Cụ Diên Hương, Vu San Nữ và nhóm Hương B́nh Thi Xă.

 

Bài của cụ Diên Hương

Kư Dữ Vu San Nữ

Canh trường thổn thức khổ thân a (a)

San Nữ ven trời có thấu  a ?(a)

Đêm mộng mơ h́nh mừng ú ớ (â)

Ngày trông thấy dạng xướng ê-a. (a)

Từng phen thưởng thức lan Châu Á (a)

Đến lúc chơi đùa vận chữ A (a)

Duyên trẻ t́nh già vừa chút ít (x).

Lập vườn tiết nghĩa khỏi dùng a. (a)

 

Bài họa của Vu San Nữ

Én cợt nhàn trêu khổ dữ a !

Mỏng dày đáo để thế này a ?

Luật Đường mới học vần ú ớ,

Cầm nguyệt chưa từng điệu ư a.

Sầu cuộn Sông Tương tràn biển Á

Sương lồng đồn Bá tỏa cung A.

Đoạn trường ai biết đau nhiều ít

Ng̣i thép Lưu Cầu quá Thái A !

 

Bài họa của Cụ Quỳnh Ưu   

 

Ngẫm nghĩ men t́nh mạnh thế a ?

Tiên kia cũng lụy huống người ta.

Thơ non nhớ nước lời căn dặn

Khúc Phụng cầu hoàng giọng ư a.

Văng vẳng nghe qua nhường điệu khách.

Ngân nga vọng lại đọc vần a.

Trăm năm tơ tóc mà như nguyệt.

Xướng họa cùng nhau cũng thú a.

 

Thơ họa của cụ Tống Nguyên

 

Ở đời câu chuyện cũng kỳ a.

C̣n lắm duyên già đến thế a ?

Thơ nhạn cứ đưa khêu gợi măi,

Tin hồng há dễ lặng thinh a.

Chờ khi lăo cảnh mà ôn lại.

Hẳn lúc xuân thời đă có a.

Mấy quả đào tiên, nay bén đặng.

Cũng vin cành quít, thử coi a.

 

Thơ họa của cụ Kỉnh Chỉ

 

T́nh sao th́ phải tính đi a.

Chả nhẽ dùng dằng măi thế a.

Cô gái non Vu tài lắm ớ.

Ông già rừng Hạnh sướng chưa a ?

T́nh trong lễ nghĩa vâng khen á,

Tiên giữa trần ai cũng có a.

Thiên hạ giao du chừng chẳng ít,

Nhưng tri âm được mấy người a ?

 

           Thơ họa của cụ An Đ́nh Trần Kinh

 

Liên hoàn thập thủ, xướng vần A.

Châu ngọc hàng hàng đẹp quá a !

Nỡ trách non Vu say giấc mộng.

Làm cho cung oán  dậy pḥng A.

T́nh duyên đâu phải lời u ám,

Ḥ hẹn sao c̣n chuyện ư a ?

Lần lửa chi cho thêm bận bịu.

Hồng nhan bạch phát ngại ǵ a ?

 

ĐOẠN KẾT

 

Ngày 15-10-58

Kính Tiên sanh Diên Hương.

 

Trong bức thơ trước thiếp có nói : vương một mối u sầu, rối tấc ḷng cô nhạn, chưa rơ thân thiếp sẽ phải ra thế nào, sợ e cho :

 

Tàn thu cô nhạn về Nam,

Biệt hồng lai Bắc, biết làm sao đây ?

Mây chiều gió bạt trời tây.

Về đông nước chảy, nước mây chia đàng.

Mây trông nước, én trông nhàn,

Nước mây ngàn bặt, én nhàn ngày xa.

                      Kính thư V.S.N.

 

VU SAN NỮ RA ĐI

 

Bỗng như sét đánh lưng trời, Cụ Diên Hương nhận tiếp bức thư sau. Duyên thi vừa chớm nở mà Vu San Nữ lại vứt bút ra đi ! Sau này mới rơ, v́ Vu San bịnh t́nh nguy kịch, không muốn cho Cu Diên Hương gặp mặt, sợ đau ḷng.

 

THƠ BIỆT T̀NH

Nơi xa xăm buổi tàn thu

 

Kính Tiên sanh Diên Hương,

 

Thiếp lấy nước mắt ḥa nghiên, chấm mực phiến thấm bút, để viết cho tiên sanh bức thư biệt t́nh. Mấy mảnh hoa tiên, kết duyên thi ngày đầu hạ, đôi ḍng lụy ngọc, ḥa nghiên mực buổi tàn thu; cũng tưởng đeo oan trước nên gây nợ để đền bù, ai dè đợi trái sau đành đoạn t́nh không trang trải.

 

...Thưa tiên sanh, viết đôi hàng không phân cạn, ṿ chín khúc ruột thấy đau. Hể mang chữ sắc tài, đâu khỏi ṿng gió bụi … Tưởng thế sự ai lo nông nổi, , nghĩ càng thêm tức tối trăm chiều; thôi đành từ đây cam phận ḿnh hẩm hiu, và cũng từ đây thiếp đi, đi thật xa, theo dặm trường man mác vai gánh một khối t́nh tóc bạc, tay đeo xâu chuỗi hận ngày xanh. Tới non cao âm thầm bóng đêm thanh, t́m biển thắm chưa chan ḍng lệ ngọc. Lên núi trông trăng, trăng đà gác núi, buồn duyên ngao ngán với trăng tàn; xuống gành thấy sóng, sóng lại bỏ gành, nặng nợ ngẩn ngơ cùng sóng hận. Ḷng tha thiết bồn chồn, gió véo von dục giă; thôi thôi sắc cầm đành rời ră, tơ tóc phải dỡ dang.

 

Ôi Tiêu lang, hỡi Tiêu lang

Thôi thôi thiếp phải xa chàng từ đây.

Trăng lu v́ bởi đám mây

Đôi ta cách trở v́ dây tơ hồng

 

Biệt t́nh

 

Dứt áo ra đi nát cỏi ḷng

Mỏng manh phận bạc tuyết sương phong.

Niềm tây bút hạ se ng̣i thỏ,

i Bắc sầu đông oải cánh hồng.

Ví biết bấy chầy phân cá nước.

Thà cam từ trước thẹn non sông.

Trăng thề lẽo đăo soi ngàn liễu.

Duyên nợ ba sinh gởi giấc ṃng.

                                Vu San Nữ

 

Rồi vài hôm sau, Cụ Diên Hương lại được bức thư dưới đây :

 

Pleiku, ngày 20-10-58

Kính gởi Bác sĩ Diên Hương (Cụ Diên Hương là Bác sĩ Y Khoa)

 

Quư đồng nghiệp,

 

Tôi rất tiếc có một tin buồn báo cho quư đồng nghiệp : Cô Kiều Thị Thanh Hương, bút tự Vu San Nữ đă từ trần tại dưỡng đường tư của tôi  ở gần Pleiku ngày 19-10-58.

 

Cô bị ho lao như đồng nghiệp biết (B.S. Thịnh tưởng Cu Diên Hương đă gặp Vu San Nữ rồi). Từ Sài G̣n về nhà của ông thân cô, cách Pleiku lối 15 cây số. Xe vừa tới Pleiku th́ cô bị thổ huyết, ngất xỉu phải ghé lại nằm dưỡng đường. Tôi ra công chữa trị mà vô hiệu quả. Lúc gần tắt thở, cô yêu cầu tôi cho quư đồng nghiệp hay rằng cô có trối lại : “Cô đem xuống tuyền đài một mối t́nh duy nhứt và xin chúc quư đồng nghiệp an tâm sống cuộc đời vui tươi may mắn”

Trối xong cô liền tắt thở. Thiệt là bi ai hết sức.

 

B.S. Nguyễn Duy Thịnh

Dưỡng đường Nguyễn Du, Pleiku

 

Th́ ra thơ BIỆT T̀NH  trước kia cũng là thơ VĨNH BIỆT

 

THAN ÔI !

 

Kẻ ở người đi, kẻ nát ḷng,

Khối t́nh để lại khó niêm phong.

Tơ ṿ đoạn thảm phơ đầu bạc.

Cánh vỗ ngàn mây mất dạng hồng.

Buổi nọ c̣n mơ bèo gặp nước.

Giờ đây chỉ thấy núi  ngăn sông.

Hồn ai thơ thẩn trên non Giáp.

Biết lăo trần gian luống chốc ṃng

                                Diên Hương 26-10-58

 

Được ai tin, thi hữu khắp nơi bàng hoàng thương tiếc cho một thiên tài bạc mệnh, đă tới tấp gởi thơ về khấp điếu.

 

Sau đây là các bài thơ ai điếu của Hương B́nh Thi Xă.

 

TRUY NIỆM VU SAN TIÊN NỮ

Một Thiên T́nh Sử khéo gây nên.

Bạn với tiên nga té chẳng bền,

Trước ở đầu non không thấy mặt,

Sau về cửa động mới nghe tên.

Danh lam cổ tự đà chơi khắp.

Ngọc vũ Diêu đài vội trở lên

Để lại trần gian câu tuyệt xướng,

Ai từng đọc đến dễ ai quên.

 

Bát thập nhị tuế lăo phu

                      Ưng B́nh Thúc Giạ Thị

 

VIẾNG VU SAN NỮ

Tuy tớ vô can cũng chạnh ḷng.

Mở thi từ biệt đọc rồi phong.

y trời ghen ghét người đầu bạc

Hay đất yêu đang bạn má hồng ?

Mấy vận c̣n ghi lời gấm vóc’

Trăm năm chưa thỏa hẹn non sông.

Dương đài mây  sớm mưa chiều tạnh

Giấc mộng Tương Vương khó chóc ṃng.

                                 Kỉnh Chỉ

 

ĐIẾU VU SAN NỮ

Đọc Thiên T́nh Sử đến đây thôi.

Giấc mộng Vu Sơn đă vỡ rồi.

Đầu bạc nguyền xưa đành lỡ dỡ

Má hồng duyên mới chịu pha phôi.

Mang chi tài sắc cho trời ghét,

Tiếc bấy văn chương để đất vùi,

Gặp khách tri âm vừa ướm họa,

Phút đà đeo nặng tiếng than ôi !

                                 Tống Nguyên

 

KHÓC VU SAN NỮ

Trẻ Tạo ghen chi phận má đào ?

Nửa chừng xuân mông, dở dang sao ?

Văn chương nết đất chôn đâu tá ?

Tài sắc tư người vắng chốn nao ?

T́nh sử một thiên, nguồn cảm hận,

Thi hồn muôn thuở, giấc chiêm bao.

Vu San ngoảnh lại, ḷng man mác,

Khiến khách chung t́nh, dạ xuyến xao !

                                An Đ́nh Trần Kinh

 

Để kết thúc, chúng tôi xin thêm bài thơ khấp điếu cụ Diên Hương (Cụ Diên Hương tạ thế tại Đà Lạt vào năm 1963) do thân phụ chúng tôi là Cụ An Đ́nh Trần Kinh ai điếu

 

KHẤP ĐIẾU CỤ DIÊN HƯƠNG

 

Đà Lạt ngày nào mới gặp nhau. (1)

Mà nay vĩnh biệt Cụ đi  đâu ?

“Hộp vôi" mấy vận, tai c̣n vẳng, (2)

Giấc ngủ ngàn thu chuyện quá mau !

Rừng lạnh vắng tăm tay quốc thủ,

Đàn Diêu khuất bóng bạn tâm đầu.

Một thiên t́nh sử”, bao nhiêu nhớ, (3)

Khấp điếu Diên Hương lệ thấm châu. 

 

(1) Mới cách 3 tuần trước, Cụ An Đ́nh lên thăm Cụ Diên Hương tại Đàlạt.

(2) Khi gặp nhau. Cụ Diên Hương có đọc cho nghe bài thơ tựa đề là "Hộp Vôi"'danh từ Cụ dùng để chỉ cái sinh phần Cụ vừa mới xây xong

(3) Cụ Diên Hương xuất bản quyển Một Thiên T́nh Sử vào năm 1959, kể lại : mối duyên t́nh thi thơ với Vu San Nữ, cùng với thi thơ của thi hữu xa gần đă hưởng ứng phong trào. Sách dày 199 trang.

 

Hầu hết thơ trong tài liệu này đều trích lại từ quyển Một Thiên Tính Sử kể trên. Kẻ viết bài xin có lời cáo lỗi cùng quư hậu duệ của quư Thi Ông có thơ trích đăng trong bài này, v́ đă mạo muội trích đăng thơ mà không xin phép. Xin quư vị thông cảm cho hoàn cảnh đất nước, chúng ta lưu lạc kẻ chân trời người góc biển, vô phương liên lạc, Chúng tôi soạn viết bài này không ngoài mục đích ôn ghi lại áng văn chương tuyệt bút từng vang bóng một thời để bạn đọc cùng thưởng thức và hănh diện nguồn thi văn phong phú diễm tuyệt của ông cha ḿnh, của nước Việt muôn đời thương nhớ!

 

        Trần Thị Cẩm Tuyến        

  


TUYỂN TẬP NHỚ HUẾ 1997