Dịch Thơ Đường

                         Chung Nam Biệt Nghiệp    Nguyên Tác Vương Duy

 

Vương Duy (699-759) đậu tiến sĩ năm 21 tuổi, làm quan cho các vua Đường và được thăng đến chức Thượng Thư Hữu Thừa.  Cùng với Đỗ Phũ và Lư Bạch, Vương Duy rất được Đường Minh Hoàng ái mộ và bảo trợ là thi hào của triều đ́nh. Vào thời bấy giờ, những người có học dĩ nhiên là thấm nhuần Nho giáo và Lăo giáo. Vương Duy thâm uyên Nho giáo và Lăo giáo.  Ngoài ra Ông c̣n rất mộ đạo Phật.  Thơ của Ông phản ánh nhiều tư tưởng của Thiền Nam Tông.  Người đời gọi Vương Duy là Thi Phật, Đỗ Phủ là Thi Thánh và Lư Bạch là Thi Tiên.

 

Trong bài Chung Nam Biệt Nghiệp dưới đây, Vương Duy cho thấy rơ ràng ảnh hưởng của Lăo giáo t́m sự sống an nhàn, biệt lập, xa cách  quần chúng để trao dồi đức hạnh và t́m vui thú trong cảnh đẹp thiên nhiên.  Trong câu đầu của bài thơ này, Vương Duy có nói đến "hảo đạo".  Nhiều dịch giả theo các bản dịch tôi được thấy cho "hảo đạo" đây là Lăo giáo.  Trên quan điểm Lăo giáo, đă dịch câu:  "Thắng sự không tự tri" là "Cảnh đẹp nhưng chỉ có mình tự biết".   "Thắng sự" dịch là "cảnh đẹp" cũng chấp nhận được, nhưng chữ "không" dịch là "nhưng chỉ có" hoặc "chỉ có", tôi thấy quá g̣ bó.  Lăo giáo h́nh như không có khái niệm về "KHÔNG" như trong Phật giáo.

 

Theo Vũ Thế Ngọc trong quyển Vương Duy Chân Diện Mục, Vương Duy theo học thiền với Thiền Sư Đạo Quang.  Lúc Thiền Sư Đạo Quang mất năm 730, Vương Duy làm bài văn bia có viết: "Suốt mười năm được ngồi dưới chân người học thiền đạo...".  Như thế Vương Duy bắt đầu học Phật nhiều năm trước năm 730, lúc Ông mới ngoài 20 tuôi.

Nhiều thi phẩm của Vương Duy cho thấy Ông thấm nhuần "thiền" của Phật giáo.  Ví dụ câu "An thiền thế độc long" trong bài  Quá Hương Tích Tự , hay "Sơn sắc hữu vô trung" trong bài Hán Giang Lâm Thiếu, hay "Dục vấn nghĩa tâm nghĩa, Dao tri không bệnh không" trong bài Hạ Nhật Quá Thanh Long TựTrong quan điểm "hảo đạo" là Phật giáo, câu "Thắng sự không tự tri" có thể hiểu là "Sự nghiệp thắng bại rổng không chỉ tự mình biết".  Chữ "không" là "rổng không" (emptyness) có đầy đủ ư nghĩa ở đây. Bản dịch thơ Việt ngữ dưới đây cố gắng dịch câu thơ nầy dưới 2 quan điểm khác nhau để tùy độc giả phán xét.

 

Với sự giúp đở và góp ư của một số bạn hữu, tôi đă dịch nguyên bản chữ Hán ra Hán Việt và dịch nghĩa dưới đây.  Một thời gian sau khi viết bài nầy, tôi có cơ hội tham khảo quyển Vương Duy Chân Diện Mục.  Vũ Thế Ngọc đă có dịch bài Chung Nam Biệt Nghiệp ra chữ Hán Việt từ năm 1987 mà tôi không được biết.  So bản Hán Việt của Vũ Thế Ngọc, tôi thấy không có chi khác biệt, chỉ trừ hai chữ mà tôi cho là do in nhầm mà thôi.  Đó là chữ khán câu 6 và chữ trị ở câu 7.  Bản VTN in là khantri (trang 132). Dưới đây tôi cũng trích đăng lại bản dịch Việt ngữ của Vũ Thế Ngọc, theo thể ngũ ngôn và âm vận của nguyên tác, để độc giả thương thức. PMT

 

 

Chung Nam Biệt Nghiệp

 

Trung tuế phă hảo đạo

Văn gia nam san thùy

Hưng lai mỹ (*)độc văng

Thắng sự không tự tri

Hành đáo thủy cùng xứ

Tọa khán vân khởi th́

Ngẫu nhiên trị (trực) lâm tẩu

Đàm tiếu vô hoàn kỳ.

 

(*)Có bài chữ Hán viết là =mỗi

 

Dịch Nghĩa:

 

Ở tuổi trung niên gặp đạo rất tốt

Cuối cùng dọn nhà ở ven núi nam

Hứng thú đi dạo một ḿnh

Sự nghiệp thắng bại rổng không chỉ tự ḿnh biết

(Cảnh đẹp nhưng chỉ có ḿnh tự biết)

Đi theo ḍng nước đến tận cùng

Ngồi nh́n mây bay lên

Ngẫu nhiên gặp ông lăo trong rừng

Nói cười với nhau quên giờ về.

 

Sống Một Ḿnh Ở Núi Chung Nam

 

Bản dich: Vũ Thế Ngọc

Tuổi cao càng mến đạo

Nam Sơn đến làm nhà

Hứng thú đi lủi thủi

Vui vẻ biết riêng ta

Theo suối đến nguồn cội

Ngồi ngắm mây trời sa

Ngẫu nhiên gặp tiều lăo

Nói cười quên ngày qua.

 

Sự Nghiệp Riêng Ở Núi Chung Nam

 

Bản dịch: Phí Minh Tâm

Tâm thấy đạo mầu tuổi trung niên

Nhà ở Nam Sơn núi kề hiên

Hứng khởi thanh nhàn thích đi dạo

Sự nghiệp được không tự biết riêng

(Cảnh đẹp tự ḿnh thưởng thức riêng)

Ngược ḍng đi khắp hang cùng ngách

Thư thả ngồi nh́n áng thanh thiên

Ngẫu nhiên nẻo vắng gặp tiều lăo

Cười nói cùng nhau như bạn hiền.

                               22-4-2003

Villa on Zhongnan Mountain

 

Translated by Stephen Owen:

In my middle years I came to much love the Way
and late made my home by South Mountain's edge.
When the mood comes upon me, I go off alone,
and have glorious moments all to myself.
I walk to the point where a stream ends,
and sitting, watch when the clouds rise.
By chance I meet old men in the woods;
we laugh and chat, no fixed time to turn home.

 

My Retreat At Mount Zhongnan

 

My heart in middle age found the Way. 
And I came to dwell at the foot of this mountain. 
When the spirit moves, I wander alone 
Amid beauty that is all for me.... 
I will walk till the water checks my path, 
Then sit and watch the rising clouds
And some day meet an old wood-cutter 
And talk and laugh and never return.

300 Tang Poems

 

 

Translated by Vikram Seth:
In middle life I became immersed
in the philosophy of Tao;
Later I went to live
at the foot of South Mountain.
When I am happy I walk alone in the hills.

I know within my heart
what is good and which is beautiful.
When I arrive at the source of the stream
I sit down to rest and to watch the mists rising.
Sometimes I need a time-worn woodcutter
Talking and laughing together, 
we forget it is time to go home!

 

Translated by Tam Minh Phi:

My heart in middle age found the Way
I came to live at the foot of South Mountain. 
When the mood came, I wandered alone 
Success and failures were empty and only I knew

(Only I knew and appreciated the beautiful scenery)
I walked upstream of the water until its sources 
Sometimes I sit and watched rising clouds
By chance met an old man in the woods
We talked and laughed and forgot time to go home.

 

Thử Phân Tích Bài Chung Nam Biệt Nghiệp

 

Bài Chung Nam Biệt Nghiệp là một trong những  tuyệt phẩm của Vương Duy. Tôi thích bài nầy có lẻ v́ nhiều màu sắc tôn giáo của nó.  Đây là một bài thơ luật có niêm, có vận, và có cơ cấu chặt chẻ.  

 

Niêm, sự liên quan bằng trắc của 2 câu thơ, khi cả hai chữ cùng bằng hay cùng trắc.  Chữ 2 câu 1 tuế và chữ 2 câu 8 tiếu.  Chữ 2 câu 2 gia và chữ 2 câu 3 lai. Chữ 2  câu 4 sự và chữ 2 câu 5 đáo. Chữ 2 câu 6 khán và chữ 2 câu 7 nhiên.  Ở đây có bạn sẽ thắc mắc ngay là  khánnhiên làm sao cùng bằng hay cùng trắc cho được? Chữ Hán Việt nhiên là dịch từ chữ Hán "rản" mà ra.

 

Vận là chữ cuối của các câu 1, 2, 4, 6 và 8 phải cùng vần.  Đây là vần thùy, tri, th́kỳ

 

Cấu trúc bài thơ luật 8 câu gồm 4 phần: đề, thực hoặc trạng, luận và kết.

 

Đề, gồm phá đề là câu 1 và thừa đề là câu 2, ấn định bối cảnh cho câu chuyện sẽ được kể ra.

 

Trung tuế phă hảo đạo 

Văn gia nam san thùy  

 

Ở đây bối cảnh là thời gian và không gian. Phá đề xác định thời lúc Vương Duy gặp được đạo tốt. Thừa đề nhân câu 1 mà chuyển qua một ư khác làm bối cảnh được rơ ràng hơn. Vị trí là nhà ở nơi thanh tịnh dưới chân núi Chung Nam.

 

Thực hoặc trạng gồm câu 3 và câu 4 nói lên ư định, nội dung bài thơ. Hai câu phải đối nhau về âm, ư và chữ.

 

Hưng lai mỗi độc văng

Thắng sự không tự tri    

 

Khi hứng thú đi dạo và thưởng thức thắng cảnh. Hoặc suy tư về sự thành bại của cuộc đời và cho rằng tất cả là rỗng không. Xét thấy: hưng lai đối với thắng sự, mỗi đối với không, độc văng đối với tự tri.  Đây không chỉ là cách đặt chữ, mà đối ư làm cho nghĩa nổi bật ra.

 

Luận gồm câu 5 và câu 6 bàn luận rộng thêm về nội dung, tả cảnh hoặc t́nh cảm. Hai câu nầy cũng phải đối nhau về âm, ư và nghĩa cũng như hai câu 3 và 4.

 

Hành đáo thủy cùng xứ

Tọa khán vân khởi th́ 

 

Đi cho đến chỗ nước cùng hoặc ngồi nh́n mây bay. Đặt hai câu đối nhau cho người đọc có ư niệm đi ngắm và ngồi nh́n cũng thanh nhàn như nhau.

 

Kết gồm câu 7 và câu 8 chuyển ư và tóm tắt, hoặc có ư mới gây xúc cảm hay tạo suy nghĩ thêm. Hai câu nâỳ không nhất thiết phải đối nhau như các câu trên, nhưng cũng phải tuân theo luật bằng trắc.

 

Ngẫu nhiên trực lâm tẩu

Đàm tiếu vô hoàn kỳ.

 

T́nh cờ gặp nhau mà nói chuyện vui vẻ đến quên giờ về. Người không chủ tâm, sống hồn nhiên, giản dị thường tâm đầu ư hợp dù không quen nhau lâu.  PMT