Dịch Thơ Đường Tống

 

      Giang Lâu Cảm Cựu - Triệu Hỗ

 

 

江 楼 感 旧 - 赵 嘏

独 上 江 楼 思 渺 然
月 光 如 水 水 如 天
同 来 望 月 人 何 在
风 景 依 稀 似 去 年

 

 

 

 

Phiên Âm:

Giang Lâu Cảm Cựu - Triệu Hỗ

Độc thướng giang lâu tứ tiễu nhiên
Nguyệt quang như thủy thủy như thiên
Đồng lai vọng nguyệt nhân hà xứ
Phong cảnh y hi tự khứ niên.

 

Dịch Nghĩa:
Viết Nổi Nhớ Ở Lầu Bên Sông
Một ḿnh lên lầu bên sông ḷng bâng khuâng buồn
Ánh trăng như nước, nước th́ như màu trời
Người cùng đến ngắm trăng bây giờ ở đâu?
Cảnh vật không c̣n giống y như năm trước.

Dịch thơ:
Đơn chiếc lên lầu ngắm cảnh chơi
Ánh trăng như nước nước như trời
Người cùng ta ngắm giờ đâu nhỉ !
Cảnh hẳn không như năm đă rồi .
 

Ghi chú: Các tháp lầu cao được xây dọc bờ sông bên Tàu để kiểm soát lưu thông thương thuyền và có lẻ để thu thuế. Các tháp lầu c̣n được xữ dũng để ngắm cảnh ngắm trăng. Sau khi thi đỗ, Triệu Hỗ đưọc phong quan và có một thời là thống đốc Vị Nam . Vị Nam ở bờ nam sông Vị và phía đông Trường An. Vị Nam c̣n là kho tồn trữ hàng hóa đi ngược sông Hoàng Hà lên miền Bắc.

Bài thơ nầy của Triệu Hổ có nhiều dị bản. Bản nơi trang 320 Poems Of The Masters do Red Pine dịch và vài bản khác trên Internet có tựa là Giang Lâu Hữu Cảm. Bài đăng nơi trang 113 Thiên Gia Thi xuất bản năm 1998 tại Hà Nội in chữ DIỄU trong câu 1 chữ 6. Theo Thiều Chửu Hán Việt Tự Điển, DIỂU = xa tít mù, theo ư riêng của người viết, không gợi cảm bằng chữ TIỄU = lặng yên, buồn, như trong bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị "Tịch điện huỳnh phi tứ tiễu nhiên " Đom đóm bay quanh điện chiều, tứ buồn man mác, Tản Đà dịch thơ : Đom đóm bay gợi mối u sầu. Cả 2 bài trong Thiên Gia Thi và Poems Of The Masters đều xài chữ TẠI trong câu 3 chữ 7. Có bản xài chữ XỨ = nơi chỗ, như trong bài Đề Tích Sở Kiến Xứ của Thôi Hộ "Nhân diện bất tri hà xứ khứ", tạm dịch: Mặt người không biết đă đi đâu.

Phí Minh Tâm

Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm NLM50 Trang Nhà Khóa 2