Dịch Thơ Đường  

 

Khiển Bi Hoài Tam Thủ       Nguyên Tác Nguyên Chẩn

 

Lên 9 tuổi, Nguyên Chẩn đă biết viết văn và làm thơ.  Năm 12 (có nơi nói 14) tuổi Ông thi đỗ khoa Minh Kinh, đỗ giáp khoa năm 23 tuổi rồi đỗ đầu chế khoa năm 27 tuổi.  Được bỗ nhiệm nhiều chức quan thăng đến Thượng Thư, Tiết Độ Sứ và mất tại chức. Ông là bạn chí thân của Bạch Cư Dị.  Cũng như thơ của Bạch, thơ Nguyên Chẩn lời lẻ b́nh dị và thường được đem phổ nhạc. Khi nói về người đă khuất như trong bài Khiển Bi Hoài, thơ Nguyên Chẩn cũng thanh thoát và xúc động chân thành.  Tác phẩm của Nguyên Chẩn có Hội Chân Kư, tức lam bản truyện Tây Sương Kư của Vương Thực Phủ đời sau, nói về cuộc t́nh của Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh. 

 

Vào cuối năm 2003, tôi được một thi hữu gởi tặng bài thơ Khiển Bi Hoài Kỳ Nhất.  Lúc bấy giờ v́ tâm tư xáo động cũng như không hiểu biết nhiều về sự tích và ư nghĩa bài thơ, nên tôi thờ ơ và không mấy thích thú.  Gần đây đọc được bài Lệ T́nh Thiên Cổ của Vu Sơn Thần Nữ Tử Đinh Hương trên diễn đàn Việt Kiếm, tôi mới thấy bài thơ có nhiều ư nghĩa sâu sắc.  Tôi thầm cám ơn người bạn và Vu Sơn.  Vu Sơn chỉ đưa ra và dịch có Kỳ Nhất và Kỳ Nhị trong khi bài thơ gồm 3 kỳ.  Tôi đă t́m được nguyên tác Kỳ Tam bằng chữ Hán và dịch ra Hán Việt.  Nhưng về dịch thơ, sau khi đọc bản dịch Kỳ 1 và Kỳ 2 dưới đây của Vu Sơn qua thể song thất lục bát,  tôi mới thật sự nh́n thấy khả năng thi phú hạn chế của ḿnh.  Chỉ mong nhờ một sự may mắn nào đó, Vu Sơn Thần Nữ sẽ chiếu cố và dịch luôn Kỳ 3 cho trọn bộ.  Tôi rất thích dịch thơ Đường và hay dịch tài tử cho vui (có nghĩa là thiêú nghiên cưú, dịch sai nghĩa, không đúng niêm vận...).  Tôi không dám múa riù qua mắt “thợ”, nhất là mắt của Thần Nữ,  nên trong bản thảo của bài nầy, chỗ của  bản dịch Kỳ 3 để trống.

 

Khi chuyển lời yêu cầu trên diễn đàn mà tôi thường thăm viếng để học hỏi thêm và phổ biến các bản dịch thơ Đường , tôi có nhận được phúc đáp sau khoảng hơn 1 giờ (tôi đoán chừng Vu Sơn ở cách xa tôi gần nữa ṿng trái đất qua giờ giấc khác nhau):

 

“Rất vui khi biết VDK nhờ đọc bài Lệ T́nh Thiên Cổ mà hiểu biết hơn về Khiển Bi Hoài. Người bạn nào đó của VDK cũng có nét giống VS quá! Chỉ tặng VDK có bài Kỳ Nhất thôi, cũng như VS ta chỉ đưa lên và dịch có Kỳ Nhất và Kỳ Nhị thôi. Giống nhau ở chỗ chỉ lưu luyến những ǵ ḿnh yêu thích. Có lẽ ít nhiều VDK chắc cũng biết tánh khí không giống ai của VS rồi, cho nên lời đề nghị của VDK tuy tha thiết lắm nhưng VS không hứa được. C̣n nói về khả năng thi phú th́ có ai vừa sinh ra đă ngâm thơ vịnh phú đâu? Mong rằng sẽ được đọc bản dịch Kỳ Tam của VDK trong một ngày không xa!  Vu Sơn”

 

Đọc phúc đáp của Vu Sơn, không hiểu v́ thần giao cách cảm, hay v́ một số điểm trùng phùng nào đó, mà tôi lại nghĩ đến chuyện kỳ ngộ.  Phải chăng Vu Sơn và người tặng thơ bài thơ cho tôi là một.  Người ấy có một lần cho biết là cũng hay ngao du chốn nầy.  Dù sao Vu Sơn cũng chỉ không hứa dịch Kỳ Tam, chớ không từ chối lời yêu cầu của tôi. Tôi vẫn c̣n giữ yêu cầu nầy và mỗi ngày chờ mong.  Khi nào nhận được bài dịch của Vu Sơn, tôi sẽ đăng bổ xung.

 

Trong lúc chờ đợi và cũng có lẻ để đáp ứng lời yêu cầu của Vu Sơn tôi tạm dịch Kỳ Tam theo thể thơ song thất lục bát, thể thơ mà tôi chưa quen thuộc, không mấy biết niêm vận bằng trắc v́ đây là lần đầu tiên.  Tôi chỉ dịch theo cảm hứng lúc bấy giờ và nghe sao cho thuận tai thôi.  Do đó bạn đọc lưu ư là nếu có sơ suất ǵ trong bản dịch Kỳ Tam dưới đây là do thiếu sót của tôi.

 

Vào hè vài năm trước đây, tôi có dịp gặp mặt người bạn đă tặng tôi bài Khiển Bi Hoài Kỳ Nhất.  Mặc dù có liên hệ trong nghiệp văn thơ, người bạn và Vu Sơn là hai người khác nhau.

 

Ngoài ra tôi cũng thử dịch bài thơ trọn 3 kỳ ra thể thất ngôn bát cú của nguyên tác. Đây chỉ là các bản thảo nên phần niêm vận, đối xứng chưa được hoàn chỉnh. 

 

Khiển Bi Hoài Tam Thủ  Nguyên Chẩn 

Kỳ Nhất
Tạ công tối thiểu thiên liên nữ
Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai
Cố ngă vô y sưu mẫn hiệp
Nê tha cô tửu bạt kim sai (soa, thoa)
Dă sơ sung thiện cam trường hoắc
Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoài (hoè)
Kim nhật bổng tiền quá thập vạn,
Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

 

 

Kỳ Nhị
Tích nhật hư ngôn thân hậu ư
Kim triêu giai đáo nhăn tiền lai 
Y thường dĩ phóng hành khán tận 
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai 
Thượng tưởng cựu t́nh liên tỳ bộc 
Dă tằng nhân mộng tống tiền tài 
Thành tri thử hận nhân nhân hữu 
Bần tiện phu thê bách sự ai.

 

 

Kỳ Tam
Nhàn toạ bi quân diệc tự bi
Bách niên đô thị kỷ đa th́
Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,
Phan Nhạc điệu vong do bỉ từ
Đồng huyệt yểu minh hà sở vọng
Tha sanh duyên hội cánh nan ky.
Duy tương chung dạ trường khai nhăn
Báo đáp b́nh sanh vị triển my.

 

 

Dịch Nghĩa:  Lê Nguyễn Lưu

 

Gợi Niềm Sầu Nhớ 

Kỳ 1
Cô gái yêu bé bỏng nhà ông họ Tạ,
Gả cho chàng Kiềm Lâu trăm sự đều khó khăn!
Nh́n ta không áo, nàng mở rương lục t́m,
Biết ta thèm rượu nàng gỡ thoa bán đổi.
Sẵn rau đồng, bữa ăn thêm vị hoắc ngọt ngào,
Lá rụng thay củi, ngửa trông cây ḥe cằn cỗi.
Ngày nay,tiền lương có hơn mười vạn,
Chỉ c̣n v́ nàng bày cỗ chay cúng tế!

 

Kỳ 2

Ngày xưa, có lần nói đùa chuyệu sau khi chết.

Sớm nay, chuyện ấy đă xảy ra trước mắt.

Áo xiêm cho hết, c̣n ǵ để nh́n ngắm đâu,

Kim chỉ vẫn c̣n, nhưng không mở ra xem!

Nghĩ t́nh xưa, thương đến kẻ ăn người ở,

Mơ thấy nàng, bèn đốt giấy tiền đưa tặng,

Biết rằng mối hờn nầy mà ai ai cũng đều có,

Nhưng vợ chồng nghèo trăm chuyện lo buồn.

 

Kỳ 3

Ngồi rỗi, nhớ thương nàng, lại xót thương ḿnh,

Đời người trăm năm tuy dài nhưng có là bao!

Đặng Du không con, t́m yên vui với số mệnh,

Phan Nhạc khóc người chết, c̣n uổng phí lời thơ.

Chung huyệt là chuyện mù mờ, ngóng trông chi!

Duyên gặp gở kiếp sau, khó ḷng hẹn ước!

Chỉ suốt đêm thường không chợp mắt được.

Làm sao đền bù nàng lúc sống chưa từng sung sướng.

 

Dịch Thơ:

 

Kỳ 1

Gái út Tạ ông dễ mến thương

Lấy Kiềm Lâu khốn khó trăm đường

Biết chồng thèm rượu cởi thoa bán

Kiếm áo cho chồng lục đáy rương

Cam khổ cơm rau ngào ngạt vị

Lá khô thay cũi ḥe vô phương

Nay lương bổng lộc hơn mười vạn

Trai cỗ cúng nàng với nén hương.

 

Kỳ 2

Ngày xưa vui nói chuyện qua đời

Trước mắt hôm nay sảy tới nơi

Cho hết áo quần không giữ ngắm

Chỉ kim c̣n đó sầu chưa vơi

Nghĩ t́nh xưa cũ thương người ở

Đốt tặng nàng tiền mơ đến chơi

Nỗi khổ tâm nầy ai cũng có

Vợ chồng nghèo khó cảnh chơi vơi.

 

Kỳ 3

Thương nhớ nàng rồi xót phận ta

Đời người trăm tuổi có bao là

Đặng Du con mất vui theo mệnh

Phan Nhạc khóc người điệu thiết tha

Chung huyệt chuyện phào sao ngóng đợi

Kiếp sau gặp gở được đâu mà

Đêm dài thao thức mắt không nhắm

Há được bù nàng hạnh phúc qua.

 

  

Kỳ 1
Cô gái út Tạ công yêu nhất
Gả Linh Lâu chật vật trăm đường
Thấy ta không áo vét rương
Rút thoa đổi rượu nàng thương chiều chồng
Cơm rau đậu lót ḷng cam khổ
Hết củi đun ngửa cổ ngóng ḥe
Nay hơn mười vạn lương về
Sắm đầy trai lễ thỏa thê dâng nàng !

Vu Sơn Thần Nữ

Kỳ 2
Đùa thuở ấy nói sang cơi chết
Trước mắt nay phơi hết chuyện đời
Áo em cho cả đi rồi
Hộp kim chỉ giữ v́ tôi không đành..
Nhớ kỷ niệm thương dành kẻ ở
Mơ cúng em giúp đỡ tiền tài
Hận này chẳng có riêng ai
Vợ chồng bần tiện bi tai trăm đường.

Vu Sơn Thần Nữ

Kỳ 3

Thương nhớ nàng lại đau xót phận

Đời trăm năm lận đận xiết bao

Đặng Du số mệnh lao đao

Khóc người Phan Nhạc tốn hao mỹ từ

Chuyện chung huyệt tợ như hẹn gió

Duyên gặp nàng đâu có lần hai

Không sao chợp mắt đêm dài

Làm sao t́m lại Dương Đài thuở nao.

 

 

Ghi Chú:

Kiềm Lâu: người nước Tề, rất nghèo nhưng sống ngay thẳng thanh cao.

Đặng Du: người đời Tấn, chạy loạn phải đem theo con và cháu. Gặp hoàn cảnh nan giải phải cứu hoặc con hoặc cháu, Đặng Dư  bỏ con cứu cháu v́ nghĩ ḿnh c̣n có thể có con, trong khi em đă chết không c̣n có con được nữa.

Phan Nhạc: người nước Tấn.  Khi vợ mất làm 3 bài từ Điệu vong,  lời lẽ hoa mỹ t́nh ư tha thiết.  Từ của Phan Nhạc được so ngang với từ của Tống Ngọc

Dương Đài: nơi ở của Vu Sơn Thần Nữ. Tương truyền, Sở Tiên Vương đi chơi Cao Đường ngũ mơ thấy thần nữ dâng gối chiếu. Ở đây muốn nhắc đến người thương yêu.

 

**************************************************

LỆ T̀NH THIÊN CỔ 
Vu Sơn Thần Nữ Tử Đinh Hương

(23-2-2004)

 

Có một điều kỳ lạ nhất là tất cả những cuộc t́nh lăng mạn và đẹp nhất trên trần gian đều trắc trở.. phải chăng chính cái éo le đó mới đủ sức làm xúc động t́nh người.. ?

 

Không nói đến chuyện xa xôi, thí dụ điển h́nh như chuyện t́nh Lan và Điệp cũng đă làm xúc động hàng triệu trái tim. Trong cổ điển văn học Trung Hoa cũng vẫn c̣n lưu lại rất nhiều, Hồng Lâu Mộng, Kim B́nh Mai, Tây Sương Kư, v.v... Chuyện t́nh th́ nơi nào cũng có nhưng nó phải có màu sắc khác thường th́ người ta mới ghi lại chép lại. Riêng nước ta có lẽ v́ mới đổi văn tự nên không có nhiều tác phẩm cổ được lưu truyền.

 

Người xưa có câu "Lộ viễn tri mă lực, nhật cửu thức nhân tâm" (Đường xa biết sức ngựa, ngày dài hiểu ḷng người). Ngay cả cái gọi là T́nh Yêu cũng vậy, nó cũng phải được đo bằng thước bền bỉ của thời gian.

 

Đáng lẽ th́ tôi không muốn nói nhiều về cảm xúc với một bài thơ mà ḿnh đă đọc và thấm thía... như có lần tâm sự " thơ viết ra th́ để cho cuộc đời chứ ai lại để nhấm nháp một ḿnh" huống hồ lại là thơ của người khác viết ! Một bài thơ có kẻ cho là hay, có người cho là dở th́ cũng là chuyện thường. Nhưng cái thường t́nh nhất trên đời chưa có ai không từng khốn khó, kẻ thiếu tiền, người thiếu t́nh, thiếu quyền lực,.v..

 

Lang thang một chút về một thời hoa mộng tôi c̣n nhớ t́nh yêu lúc đó là có một người với một người để đi với nhau dạo phố, đi chơi, du ngoạn, tâm t́nh... có khi đi giữa phố lại rất hiên ngang đưa tay d́u bước sóng đôi rất Tây trước mặt công chúng.. nhưng kỳ thực đến lúc chỉ có hai đứa ngồi cạnh nhau lại không dám nắm tay, chuyện tṛ th́ vu vơ hết chỗ nói, đứa th́ vặt hoa cỏ, đứa th́ ngó trăng sao chứ đâu có dám nh́n vào mắt nhau... Đơn giản và thời gian trôi đi, tôi chứng kiến những t́nh yêu và đám cưới của bạn bè vội vă như những mùa hoa nở.. rồi bao nhiêu cảnh xô đẩy con người lăn vào vết xe cũ ngh́n đời.. dần dần họ khôn ngoan ra, cần tiền hơn, có tiền th́ t́nh yêu vững trăi hơn. Thế thôi, chứ làm ǵ c̣n có mấy ai mơ mộng như thuở mới vào đời nữa ? 

Nếu bạn đă từng biết đến một thiên t́nh sử của người đẹp Thôi Oanh Oanh và chàng thư sinh Trương Quân Thụy.. đă trở thành bất hủ trong lịch sử ái t́nh Trung Hoa. Cuộc t́nh diễm lệ ấy được văn gia Vương Thực Phủ diễn thành trong Tây Sương Kư...? Trích một đoạn đầu :

 

"Đường triều Trinh nguyên niên gian, Tây Lạc hữu cá thư sinh, tính Trương danh Củng, tự Quân Thụy. Tha độc liễu hứa đa thi thư kinh truyện,hoài băo viễn đại đích chí hướng, đản chí kim hoàn một hữu công danh".

 

Khoảng năm Trinh nguyên triều đại nhà Đường, ở Tây Lạc có người thư sinh họ Trương tên Củng, tên chữ là Quân Thụy. Chàng đă đọc không biết bao nhiêu là kinh truyện, hoài băo viễn đại nhưng đến nay không vẫn hoàn không, chẳng có công danh ǵ hết!

 

Đại khái là vậy và chuyện t́nh diễn biến như bao nhiêu chuyện t́nh nhưng đến lúc có bài thơ th́ sau khi đọc, tôi ngạc nhiên v́ nó giống thơ Đường thật, lời đối đáp của tài tử giai nhân hết sức tế nhị. Khi Trương sinh và người đẹp ngỏ ư, giăi ḷng qua bức tường ngăn cách bằng cách ngâm thơ th́ ôi thôi là lăng mạn, và Quân Thụy quả là một tay văn chương "tán tỉnh" lợi hại! Hai bên ra thơ ngâm nga... Quân Thụy hỏi :

 

Nguyệt sắc dung dung dạ 
Hoa âm tịch tịch xuân 
Như hà lâm hạo phách 
Bất kiến nguyệt trung nhân ! 

Ánh trăng loang thắm màn đêm 
Hoa âm thầm lặng xuân êm dịu dàng 
Đă đem soi ánh hào quang 
Sao c̣n chẳng thấy mặt nàng Tiên Nga ?

 

Oanh Oanh đáp :

 

Lan khuê thâm tịch mặc 
Vô kế độ phương xuân 
Liệu đắc cao ngâm giả 
Ứng liên trường thán nhân 

Lan hương sâu lắng khuê pḥng 
Làm sao ra được thỏa ḷng cùng xuân 
Phải chăng giọng ấy cao ngân ?
Cảm thương cho kẻ phân vân thở dài...

(lời dịch Vu Sơn)

 

Quá mến mộ thi tác nên buộc ḷng tôi phải đi truy tầm ông tác giả tiền thân của Tây Sương Kư, chủ nhân của Hội Chân Kư. À một bất ngờ lư thú, th́ ra là thi gia Nguyên Chẩn (Vi Chi), người đồng thời và được xếp hạng ngang với Bạch Lạc Thiên (Cư Dị).

 

Tóm lại câu chuyện t́nh với Thôi Oanh Oanh là có thật, c̣n Nguyên Chẩn chính là Trương Quân Thụy tá danh ! Cuộc t́nh lâm ly ấy dang dở chỉ v́ cái tội nghèo, cái quan niệm môn đăng hộ đối của thời đại phong kiến !

 

Khi Nguyên Chẩn lấy nàng Vi Huệ Tùng tức là con gái (thiên kim tiểu thư) của thái tử Thiếu Bảo Vi Hạ Khanh. Lúc đó Vi Huệ Tùng hai mươi tuổi, c̣n Nguyên Chẩn đă hai mươi tư, nghèo y cựu ! Bảy năm sau (năm thứ tư Nguyên Hoà 806) người đẹp vĩnh viễn từ giă cơi đời, không hiểu có phải là v́ không chịu nổi cảnh cơ hàn hay chăng ? Sử không ghi chép cụ thể. Và hẳn là hai người họ không về nhà bên ngoại xin tiền nên mới cơ cực đến vậy. C̣n bài thơ này là ông làm lễ truy điệu cho vợ vào năm 815. Lúc đó làm quan rồi nên mới có tiền làm lễ cho vong thê ! Khi c̣n nghèo th́ chỉ có nằm mơ là được tế lễ cho người đă khuất. Lời lẽ trong bài Khiến Bi Hoài thật cảm động chân t́nh !

 

Tạ Công tức tể tướng Tạ An (cha của Tạ Dịch, ông của Tạ Uẩn) một danh sĩ đời Tấn là người có thực tài, xuất thân trong gia đ́nh trâm anh thế phiệt nhưng không chịu ra làm quan, đến khi lớn tuổi mới xuất chính. Con gái út họ Tạ là Đạo Uẩn tài sắc vẹn toàn. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đă từng viết "Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này" (nàng Ban tức Ban Tiệp Dư tác giả Oán Ca Hành). Tạ Đạo Uẩn được gả cho Vương Ngưng Chi (Hữu Quân). Ở đây Nguyên Chẩn muốn nói rằng nàng Vi Huệ Tùng chẳng khác chi Tạ Đạo Uẩn, c̣n ông th́ như Linh Lâu một hàn sĩ đời Xuân Thu. Không rơ Linh Lâu nghèo đến đâu, nhưng ít nhất cũng giống Nguyên Chẩn ở chỗ không ham danh lợi! Đọc thơ cảm giác được Nguyên Chẩn rất nho nhă và trân trọng t́nh yêu hơn tất cả mọi sự trên đời, dù ông làm quan đi nữa v́ thời xưa cứ ai giỏi đi thi và đỗ đạt là có phẩm hàm.

 

Cô thiên kim tiểu thư ấy gả cho hàn sĩ như Linh Lâu làm sao không trăm đường trắc trở! Nàng thấy tôi không có áo măo nên lật rương t́m cho y phục. V́ thèm rượu nhỏ nhẹ với nàng, Huệ Tùng rút trâm cài đầu đi đổi rượu. Bữa cơm thường phải rau dại, lá đậu lót ḷng. nàng vẫn cam tâm không oán than. Nhà hết củi th́ ngửa cổ trông chờ lá ḥe rụng.

 

Hôm nay có lương hơn mười vạn, mua sắm đầy đủ tế phẩm và trai đàn cho nàng. Ngày xưa nói đùa khi nào chết sẽ t́m nhau trong kiếp sau (có lẽ đôi uyên ương ấy đôi khi giă từ cuộc đời, đầu thai vào kiếp khác sẽ lại t́m nhau theo thuyết Tam Tương chăng..?) dùng dằng không chịu và cho là xa quá. Câu nói đùa ấy hôm nay th́ đă thấy trước mắt rồi, người đi kẻ ở ! Quần áo của nàng đâu có nhiều, tôi đă cho người ta hết. Chỉ c̣n hộp kim chỉ th́ không nhẫn tâm mở ra xem. Nghĩ đến t́nh xưa đôi ta ân ái càng thương những người tỳ bộc cũ của em. Có lần nằm mơ thấy có tiền mua vàng hương cúng bái cho nàng, thấm thía ra nỗi hận này_ đời người ai cũng có, vợ chồng bần hàn th́ trăm mối xót xa !

 

Khiển Bi Hoài

I
Cô gái út Tạ công yêu nhất 
Gả Linh Lâu chật vật trăm đường 
Thấy ta không áo vét rương 
Rút thoa đổi rượu nàng thương chiều chồng..

Cơm rau đậu lót ḷng cam khổ 
Hết củi đun ngửa cổ ngóng ḥe
Nay hơn mười vạn lương về 
Sắm đầy trai lễ thỏa thê dâng nàng !

II
Đùa thuở ấy nói sang cơi chết 
Trước mắt nay phơi hết chuyện đời
Áo em cho cả đi rồi 
Hộp kim chỉ giữ v́ tôi không đành..

Nhớ kỷ niệm thương dành kẻ ở 
Mơ cúng em giúp đỡ tiền tài 
Hận này chẳng có riêng ai 
Vợ chồng bần tiện bi tai trăm đường..

Vu Sơn !

 

Tôi thực sự khâm phục mối t́nh của Vi Chi và Huệ Tùng... Có lẽ tôi chưa bao giờ nghèo được như Vi Chi và có một mối t́nh như của ông. Nhưng cũng đă được nh́n nhiều cảnh có thật ở đời này, những người vợ, người t́nh chịu đựng c̣n hơn Huệ Tùng mà người chồng, người yêu của họ nào có thể đứng cạnh Vi Chi..? Ông thực là kẻ vừa si t́nh vừa chung t́nh. Một bài thơ truy điệu t́nh nhân làm rung động ngh́n thu, dù nó buồn, dù không ai muốn lâm vào hoàn cảnh đó. Tôi thấy nó hay và lăng mạn ở chỗ một kẻ là giai nhân thiên kim tiểu thư, một kẻ văn chương kiệt sĩ mà nghèo thê lương nhưng yêu nhau đến thế. Nó lăng mạn ở chỗ nàng đă ra đi mà bao nhiêu năm sau khi mà văn thi gia Nguyên Chẩn đă danh thành công toại vẫn không đành ḷng quên. Bởi xưa nay ǵ cũng vậy, kẻ làm quan có dinh thự chất ngất th́ người ta sẵn sàng đem các giai nhân mỹ nữ đến tận cửa dâng hầu.. Có c̣n được mấy kẻ hiểu rằng t́nh yêu là cảm xúc của tâm hồn chứ không nằm ở sắc đẹp hay trang phục, tiền tài và thế lực.. ? Xác thân và vật chất không có T́nh Yêu !!!

 

 

Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm NLM50 Trang Nhà Khóa 2