Dịch Thơ Đường Tống

 

      Ngôn Hoài - Không Lộ Thiền Sư

 

 

言懷
選得龍蛇地可居
野情終日樂無餘
有時直上孤峰頂
長嘯一聲寒太虛

 

Phiên Âm:

Ngôn hoài
Tuyển đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư

 

 

 

 

Dịch Nghĩa:
Nhớ Lời
Cái đất hang rồng, tổ rắn là thế đất có thể ở được.
Chọn được chỗ ấy mà ở, mối t́nh thôn quê khiến ta vui vẻ suốt ngày.
Những lúc vô sự, có thể lên thẳng đỉnh núi.
Huưt một hồi sáo, làm lạnh cả bầu trời.

 

Dịch thơ:
Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
Cả buổi t́nh quê những mảng vui.
Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.
Ngô Tất Tố

Chọn chỗ đáng nương, đất rắn rồng
T́nh quê suốt buổi măi vui rong
Có khi lên thẳng đầu non quạnh
Huưt một hơi dài lạnh cơi không
Lê Mạnh Thát

Hang rắn tổ rồng đất sống an
Nặng t́nh thôn dă vui thanh nhàn
Có khi lên tận đỉnh đầu núi
Một tiếng huưt dài lạnh thế gian.
Phí Minh Tâm

Ghi chú:
Không Lộ Thiền Sư (?-1119) là một vị sư thời nhà Lư. Sư họ Dương, người ở Hải Thanh, vốn làm nghề chài lưới trước khi đi tu. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Sư theo Thiền Sư Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng là đồng đạo với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh. Sư trụ tŕ ở chùa Chùa Nghiêm Quang, sau đổi tên là Thần Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đă bị hủy hoại v́ băo lụt. Năm 1630 dân sở tại dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xă Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái B́nh, thường gọi là chùa Keo. Sư thuộc thế hệ thứ 9 của ḍng thiền Kiến Sơ và thế hệ thứ 2 của ḍng thiền Thảo Đường. Sư có bài kệ rất nổi tiếng thường được biết dưới tên Ngôn Hoài trên đây, do Lê Quư Đôn đặt và người học tṛ là Bùi Huy Bích đă chép lại trong Hoàng Việt thi tuyển, và bài Ngư Nhàn.

Đến ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119) đời Lư Nhân Tông, Sư viên tịch. Môn đồ làm lễ hỏa táng, thu xá-lợi, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang(1) là nơi Sư trụ tŕ.

Trung tâm bài thơ là 2 câu cuối. Có một lúc nào đó (hữu thời), khi ta trực nhận chân lư, một chân lư không nằm đâu xa xôi, không nằm trong sách vở, mà nằm ngay trong tâm thức của mỗi con người, trong những mặt b́nh dị nhất của cuôc sống. Khi ấy ḷng ta bỗng thênh thang, ta chạy thẳng lên đầu non quạnh quẽ (cô phong đỉnh), đứng giữa cái vô cùng của trời đất ta thét dài một tiếng thét của kinh nghiệm chứng ngộ, tiếng thét đó lạnh buốt càn khôn. Có người đă coi bài thơ này như là một tiêu biểu cho tinh thần và ư chí Đại Việt thế kỷ thứ XI, một tinh thần và ư chí đang vươn lên bầu trời xa thẳm để xây dựng một nước Đại Việt hùng cường. Đối với Phật giáo th́ tiếng hú mà Không Lộ Thiền Sư nói tới trong bài thơ có thể được coi như một đóng góp của Thiền Tông Việt Nam trong các dạng tiếng hú Thiền của Phật giáo.

Hai câu thơ cuối này Không Lộ Thiền Sư viết lại dựa trên một chuyện truyền kỳ về một cao tăng khác. Một hôm Dược Sơn Duy Nghiễm Thiền Sư (751-834)đi chơi trên núi, thấy đêm thanh trăng sáng bèn cười lên một tiếng, tiếng cười của ông vang xa ngoài trăm dặm. Bạn là Lư Cao làm một bài thơ tặng ông. "Ngũ đăng hội nguyên" có bài thơ của Lư Cao tặng Dược Sơn cao tăng với tự đề "Tặng Dược Sơn Cao Tăng Duy Nghiễm". Bài thơ gồm 2 chi, nhưng h́nh như ở Việt Nam chỉ chi 2, trong đó có 2 câu thơ được Không Lộ Thiền Sư mượn ư, là được chú trọng đến. Nhưng chính chi 1 mới bao gồm thiền ư được tóm lượt ở câu 4 của chi 1 "Vân tại thanh tiêu thủy tại b́nh".

Phí Minh Tâm

 

Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm NLM50 Trang Nhà Khóa 2