Lời Trang Chủ:  Anh Trần Tuấn Kiệt K1 có nhă ư viết vài điều về niêm luật thơ Đường quanh bài Hoa Đào Cợt Gió Xuân của Thôi Hộ.  Bài, rất xúc tích và rơ ràng, sẽ giúp anh em chúng ḿnh nhiều trong việc dịch hay làm thơ.

 

 

Niêm Luật Đường Thi

 

Về câu hỏi của anh, tôi cố gắng tóm gọn và chỉ quanh quẩn bên bài Hoa Đào Cợt Gió Xuân của Thôi Hộ v́ hổm rày chúng ta đă bàn bạc nhiều đề tài này.   Đây là bài thơ xưa, 4 câu 7 chữ, loại này thời trước thường dùng để tả cảnh, tả t́nh, tả tâm trạng t́nh cảm....Tất cả chỉ cô động trong 4 câu thôi, không nhiều hơn không ít hơn. Niêm luật là qui định của thể thơ loại này đưa ra nhằm duy tŕ thi vị, âm thanh, tiếng nhạc của bài thơ và do đó vần BẰNG, vần TRẮC được đặt để ra.

 

- Vần Bằng, là những chữ không dấu hoặc có dấu huyền (`).

- Vần Trắc, Những chữ mang dấu hỏi (?), ngă (~), sắc ('), nặng (.)

 

Tuy nhiên, để thơ không bị g̣ bó, o ép theo luật, người ta định ra: "Nhất Tam Ngũ th́ bất luận, Nhị Tứ Lục phải phân minh", làm cho câu thơ linh động hơn.

 

* THÍ DỤ 1 : Bài thơ Hoa Đào Cợt Gió Xuân

 

          Khứ niên kim nhật thử môn trung
          Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
          Nhân diện bất tri hà xứ khứ
          Đào hoa y cựu tiếu xuân phong

 

Bài thơ này mang vần BẰNG v́ chữ thứ hai (niên) của câu đầu không dấu.  Một khi chữ thứ hai, không chữ nào khác, được hạ bút bằng vần BẰNG th́ các chữ các câu sau đều bắt buộc phải theo qui định sẽ nói sau.

 

* THÍ DỤ 2 : Bài thơ có chữ thứ hai mang dấu hỏi, ngă, sắc, hay nặng cũng vậy, gọi là bài thơ có vần TRẮC, như bài Phong Kiều Dạ Bạc dưới đây chữ thứ hai (lạc) có dấu nặng.

 

          Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
          Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
          Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
          Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

Trên tôi có nhắc câu nho "Nhất Tam Ngũ bất luận, Nh́ Tứ Lục phân minh" có nghĩa là trong câu thơ 7 chữ th́ chữ thứ nhất, ba, năm tự do muốn viết vần nào cũng được.  C̣n các chữ thứ hai bốn sáu bắt buộc phải theo đúng niêm luật. Bây giờ ta hăy lấy hai bài thơ Hán Văn trên làm mẩu mực v́ tác giả của chúng là Tổ Sư rồi, không nhầm lẫn đi đâu được, coi như qui luật cần được noi theo.

 

     - VẦN BẰNG : Bài Hoa Đào Cợt Gió Xuân

 

           T  B  B  T  T  B  B
           B  T  B  B  B  T  B
           B  T  T  B  B  T  T
           B  B  B  T  T  B  B

 

     - VẦN TRẮC: Bài Phong Kiều Dạ Bạc

 

           T  T  B  B  B  T  B
           B  B  B  T  T  B  B
           B  B  B  T  B  B  T
           T  T  B  B  T  T  B

 

Ngoài ra, ba chữ cuối của các câu 1-2-4 ở mổi bài gọi là âm vận, khác chữ nhưng phải  đồng âm (trung, hồng, phong hoặc thiên miên thuyền), và cuối câu 3 phải là  trắc.  Đây là vấn đề khác nửa! Rất có nhiều người không để ư và họ cũng chả cần để ư v́ quan niệm rộng rải, sao cũng được, không gọi bằng thơ chứ gọi bằng ǵ bi giờ?  

 

Thân, Trần Tuấn Kiệt.

 

 

Ngày 17-2-2003, Trang Chủ NLM lại phỏng vấn Anh Trần Tuấn Kiệt thêm về niêm luật thơ Đường. 

 

Anh Kiệt,

Chắc Anh có đọc bài nầy chỗ Hoa Đào Cợt Gío Xuân.  Tôi có vài thắc mắc, mong Anh chỉ thêm.

1. Luật BẰNG TRẮC Anh chỉ ra trên đây  áp dụng cho thơ  viết hay dịch ra chũ Việt thôi hay áp dụng  cho cả thơ chữ Hán?
 
2. Tiếng Hán chỉ có 4 âm (không có ngă và  nặng)  thay v́ 6 âm như tiếng Việt.  Lại nữa một chữ  Hán tùy thổ ngữ,  họ lại có nhiều âm bằng trắc khác nhau.  Làm sao theo được niêm luật khi phải dịch từ chữ như từ chữ Hán qua Hán Việt?

3. Dưới đây là bài thơ Hoa Đào Cợt Gió  Xuân bằng chữ Quan Thọai Pinyin với âm đọc:

           di chéng du nán zhuang
                                    cui hù

           qù nián jin ŕ cĩ mén zhong
           rén miàn táo hua xiàng ýng hóng
           rén miàn bú zhi hé chù qù
           táo hua yi jiù xiào chun feng


 Bài dịch chữ Hán Việt vần BẰNG v́ chữ NIÊN.   Bài chữ quan thoại lại là vần TRẮC v́ chữ NIÁN (đọc là NIỂN).   Anh có ư kiến ǵ không?

4. Anh làm ơn dịch xác nghĩa bài Phong Kiều  Dạ Bạc cho đàn em thưởng thức một chút.

Để cảm tạ tấm thạnh t́nh của Anh Kiệt và các "Thi-Bá Thời Nay" đă tham gia dịch bài thơ HDCGX của Thôi Hộ,  xin gởi bài thơ Xuân Đi mới sáng tác xong tuần trước chưa phổ biến để riêng tặng quư Anh.  Tâm

 

Anh Trần Tuấn Kiệt phúc đáp ngày 18-2-2003 như dưới đây:

 

1.- Luật BẰNG (B) TRẮC (T) được đưa ra dựa theo thể thơ TNTT (thất ngôn tứ tuyệt) hay TNBC (thất ngôn bát cú) (Đường Thi) của Hán  Văn.  Nói rỏ hơn, thí dụ như trong hai bài TNTT dưới đây :

 

         a/ Vần Bằng , bài HDCGX
             - Chữ thứ 2 câu 1 phải B
             -  "      "   2   "  2   "   T
             -  "      "   2   "  3   "   T
             -  "      "   2   "  4   "   B
            Rồi áp dụng luật cho các chữ 4, 6 ở mổi câu theo luật đă dẫn.

 

         b/ Vần Trắc , bài PKDB
             -  "      "   "   "  1   "   T
             -  "      "   "   "  2   "   B
             -  "      "   "   "  3   "   B
             -  "      "   "   "  4   "   T
            Các chữ 4, 6 bắt buộc theo luật đă dẫn.

Loại Đường Thi TNBC thật ra giống như là hai bài TNTT chồng lên nhau, áp dụng niêm luật cho mổi bài y như đă dẫn.

 

            Thí dụ bài: Thu Điếu

          Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
          Một chiếc thuyền câu bé tẽo teo
          Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
          Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo
          Từng mây lơ lững trời xanh ngắt
          Ngơ trúc quanh co khách vắng teo
          Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
          Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

        
 Trong bài thơ này ta thấy niêm luật BT đă được áp dụng như thế nào.  Chưa bàn về kỹ thuật chơi loại thơ này.  Tóm lại, luât BT có từ thơ Hán mà ra.

     2.- Theo tôi, tiếng Hán có 4 âm, 2 B 2 T, là đủ rồi ! Cái tài của người làm thơ là phải vận dụng, không đủ chữ th́ phải ḷng ṿng hoặc dùng điển tích, ẩn dụ để diễn tả , nếu muốn chơi loại thơ nàỵ

     3.- Đọc bài thơ phiên âm tiếng Quan  Thoại tôi thấy...chịu thua, v́ chả hiểu ǵ ráo ! Chỉ thấy rằng v́ bài thơ quá hay nên nên đă được nhiều sắc dân hưởng ứng, đua nhau tự dịch để thưởng thức, bằng nhiều âm sắc khác nhaụ Như vậy không nhất thiết phải g̣ bó theo niêm luật nếu họ muốn.  Tiếng Việt Nam ta độc âm nhưng đa giọng, vậy mà khi dịch cũng c̣n phải lúng túng, e sợ không đúng ư nguyên bản. Bởi thế, thông thường ta thấy các bản dịch thơ cổ đều phần lớn là thể thơ lục bát.

     4.- Về bài Phong Kiều Dạ Bạc, xin mời chư vị Thi Bá Thời Nay đưa ra bài dich chơi cho vui!  Đồng thời cũng xin được nghe bàn bạc về xuất xứ của bài thơ, cũng như lời góp ư về những gịng tŕnh bày nêu trên.

Thân ái, Trần Tuấn Kiệt

 

 

Ngày 21-2-2003 Anh Trần Tuấn Kiệt lại viết tiếp:

 

Các anh thân,

 

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

                                      Trương Kế

                                       

Tôi có đọc các bài sưu tầm và các bài do anh Bân viết ra đăng trên mạng.  Bái phục, bái phục, công phu cùng kiến thức của anh Bân, nhất là bài viết về kỹ thuật chơi Đường Thi.  Trước, anh Tâm có hỏi tôi về vấn đề này và tôi có viết vài đường nét để trả lời, tuy nhiên hãy còn thiếu sót lắm!  Nay có bài anh Bân viết ra, tôi hy vọng anh Tâm đã "nắm" được vì...đúng thầy .

 

Riêng bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc, tôi được đọc lại mấy bài dịch của các Cụ thâm nho, thật là dịp tốt để nghe lại những áng thơ hay mà từ lâu mình chỉ còn nhớ loáng thoáng, mơ hồ!  Nhân đây, tôi xin kể lại cái giai thoại xuất xứ của bài PKDB mà tôi đã nghe được trong dân gian để chúng ta cùng suy gẩm xem sao :

 

Phong Kiều Dạ Bạc có nghĩa là cây cầu gạch ở bến nước có cây phong mà dạ cầu được sơn trắng.  Cảnh trí ở Hàng Châu (?) bên Tàu nổi tiếng đẹp nhờ có những con sông nhỏ dọc ngang chằng chịch , chốc chốc có chiếc cầu gạch bắt ngang nối phố này với phố kia.  Trong bài thơ 28 chữ trên không có chữ nào nói đến cầu, ngoại trừ cái tựa đề.  Người ta kể rằng , gần một cửa sông lớn có cây phong to và chiếc cầu gạch kia, một chiếc thuyền câu mà ngư phủ là hai ông cháu, một già một trẻ, đang lững lờ buông câu trong cảnh trăng tàn vắng lặng.  Hai ông cháu này, cũng thuộc giới tao nhân mặc khách , nên trước phong cảnh hữu tình, ánh đèn câu mờ tỏ cùng với tiếng quạ kêu sương, cố tìm thi tứ để dệt ra những vần thơ tiêu daọ Không biết bao lâu thì hai câu đầu được làm ra :

 

                    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

                    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

 

Và chỉ hai câu như thế rồi thì hai ông cháu ngưng lại vì hết ý, tịt ngòi mãi cho đến lúc mỏi mòn theo cơn buồn ngủ chập chờn .  Giửa lúc ấy, trong môt ngôi chùa bên ngoài thành Cô Tô , cách khoảng xa bến sông đó, mà nhà sư trụ trì pháp danh là Hàn Sơn cùng một đệ tử cũng đang có thi hứng và đang làm thơ.  Hai sư đồ này , sau khi làm được hai câu đầu, bị mất hứng tương tự như hoàn cảnh của hai ông cháu ngư ông dưới kia, rồi buồn ngủ đi vào giấc điệp.  Cho đến khoảng canh giờ sau, chú tiểu đệ tử của sư Hàn Sơn bổng choàng dậy và đánh thức sư phụ báo rằng đã tìm được thi tứ cho hai câu cuối của bài thơ.  Thế là hai thầy trò rất đổi vui mừng, duyệt lại bài thơ  và vì quá hoan hỉ nên chú tiểu ta đỗ liền mấy hồi chuông để mừng cho sự thành công, làm xong một bài thơ vừa ý.

 

Cả dân thành  Cô Tô đêm ấy rất đổi ngạc nhiên vì tiếng chuông chùa đỗ liên hồi. Nhưng một nỗi vui mừng to lớn khác đồng thời lại đến với chiếc thuyền câu dưới bến phong kia. Tiếng chuông chùa Hàn Sơn vang dội nửa đêm đã đánh thức và giúp hai ông cháu ngư phủ lấy lại được ý và hoàn tất bài thơ độc đáo :

 

                      Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

                      Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

CƯỚC  CHÚ  :

  • Có người hiểu lầm là ngôi chùa nằm trong giải núi Hàn Sơn nên gọi là Chùa Hàn Sơn. Thật ra là tên của nhà Sư trụ trì .

  • Rất tiếc là người đời không được truyền cho bài thơ của hai sư đồ nói trên.

  • Nếu có sự thật như vậy, Cụ Trương Kế có bài thơ này trong trường hợp nào ?

  • Có ai thấy và giải thích được khoảng gián đoạn giửa bốn câu thơ ?

       Rất mong được chỉ giáo !

 

Thân chào, Trần Tuấn Kiệt

 


TUYỂN TẬP 50 NĂM TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1955-2005