NHỮNG D̉NG LƯU NIỆM

 

Trích trong tập hồi kư của Nguyễn vơ Dzai

 

Viết ngày 20 tháng 10 năm 2001

Năm 1985, sau khi có cuộc sống tạm ổn vợ chồng tôi bắt đầu đi chơi xa ra khỏi tiểu bang. Tôi có Ông thầy củ dạy tôi học hồi c̣n ở VN. Thầy đang sống ở Cherry Hill thuộc tiểu bang New Jersey và cũng là thầy giáo tôi hàng kính yêu: thầy Lương sỉ Chương. Mất khoảng hơn hai tiếng lái xe từ nhà tôi đến nơi tọa lạc của thầy cô. Tôi nhớ năm đó nhầm lể Thanksgiving vợ chồng chúng tôi đi Cherry Hill và lạc đường qua Philadelphia nhưng cuối cùng cũng t́m ra được nhà của Thầy Cô. Cô Chương đă đứng dưới sân cao ốc chờ chúng tôi từ lâu. Khi thấy xe chúng tôi vừa vào cổng là sắc mặt Cô tươi cười ngay. Chúng tôi lên căn trọ của thầy cô ở tầng thứ 4 và thầy Chương đă sẳn sàng ở trước của chờ chúng tôi.

 

Hơn 10 năm qua không gặp, trông thầy vẫn c̣n khỏe mạnh, tuy có già hơn trước đôi chút. Gặp lại thầy vui mừng không tả, hỏi thăm trăm điều và ở lại dùng cơm trưa với thầy cô xong chúng tôi giả từ và tiện đường đi thăm ṣng bạc Atlantic City để thử thời vận và tắm biển. Trong câu chuyện hàn thuyên thầy Chương sau khi biết tôi đang hành nghề điện toán, thầy cho biết lúc mới qua thầy cũng ao ước học ngành nầy nhưng v́ tuổi thầy khi đó hơi cao nên không thể hoàn tất ước mong. Thầy c̣n cho hay khóa tôi chỉ có hai người là có khả năng và thành công theo học ngành điện toán: Anh Nguyễn trọng Nho và tôi. Về sau được bíêt Anh Nho bỏ nghề điện toán để đi vào quỷ đạo tư pháp với tương lai sáng rực hơn. Thầy Chương không quên khen ngợi tôi và chúc tôi thành công trong quăng đời c̣n lại. Ít năm sau, chúng tôi hay tin thầy Chương trên chuyến đi California thăm bà con đă bị stroke và trút hơi thở cuối cùng ở đó. Chúng tôi tự nhủ là được an ủi phần nào v́ đă bỏ công đi thăm thầy trước khi thầy vỉnh biệt qua đời. Thầy Chương không những là người thầy đáng kính mà c̣n là người Anh cả trong ngành lâm nghiệp của chúng tôi. Chúng tôi cảm mến v́ tài ba, tư cách và đạo đức của thầy trong thời gian thầy dạy học cũng như những năm được làm việc chung với thầy trong lảnh vực lâm nghiệp.

 

Anh Chị Nông Nghiệp vùng Washington D.C.

NKChẫn, ĐĐCảm, TNChung, PTKhâm, NĐXinh, LVDự, NVDzai, Chị ĐVHoa,

Chị NVDzai, Anh Chị VNB́nh, Chị BXCảnh, LVQui, Chị Anh NVKhang

 

  Viết ngày 03 tháng 11 năm 2001

 

Năm 1993 tôi có dịp về thăm VN và được anh Lê công Tâm chở đên thăm thầy Lê văn Kư trong căn nhà nhỏ ở khu chợ vườn chuối. Thầy đi đanh tennis chưa về, chỉ có Cô ở nhà tiếp khách. Chúng tôi hàn thuyên một lúc th́ thấy thầy về. Vào hoàn cảnh khó khăn hiện tại thầy Kư c̣n khả năng đi đánh quần vợt th́ phải là nhân vật không tầm thường trong trạng huống đương thời. Trong bộ áo quần thể thao với cây vợt cầm tay trông thầy vẫn khỏe mạnh, yêu đời. Thời gian thầy đi dạy học thầy rất thương yêu học tṛ nên hầu hết học tṛ đều thương yêu thầy. Ngày nay gặp lại, có lẻ v́ tuổi thầy đă chồng chất nên thầy nói năng rât nhiều và đôi lúc quá say sưa với câu chuyên thầy không cân nhắc hư thực. Thầy kể lại thời gian thầy du học qua Mỹ và có vẻ hảnh diện khi đề cập đên nhiều nơi thầy đă đi qua. Có điều thầy đă quên là thời gian đă trôi qua hơn 25 năm, nhiều thay đổi đến với cuộc sống con người cũng như hoàn cảnh bên ngoài. Bạn tôi có vẻ không cảm thông những lập luận của thầy nhưng tôi đưa mắt cho biết dù sao thầy vẫn là thầy, “nhât tự vi sư, bán tự vi sư” mà. Đừng làm thầy buồn, cứ để thầy nói cho hả dạ, không có hại ǵ. Tánh thầy từ trước đến nay vẫn như vậy ai cũng biết. Vă lại biết đâu lần về nầy tôi gặp thầy cũng là lần sau cùng, về sau khó có dịp gặp lại nửa. Gần đây tôi nghe tin thầy đă về Cao Lănh, nơi quê hương của thầy để sống nốt cuộc đời c̣n lại.

 

Tôi cũng có dịp ghé thăm thầy Lê văn Mười. Thầy Mười vẫn c̣n ở căn nhà cây ngay ngă ba Trần cao Vân và Mặc đỉnh Chi. Gặp tôi thầy cầm tay thân mật dẩn vào khu vườn bông và mời tôi cùng ngồi xuống trên chiếc băng đá. Thầy hỏi thăm t́nh trạng gia đ́nh tôi. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi thấy thầy săn sóc lưu tâm đến đời sống của người học tṛ củ. Thầy cũng không quên hỏi thăm cuộc sống của các anh em khác bên Mỹ. Trong câu chuyện hàn thuyên đặc biệt là lúc nào thầy cũng giữ bàn tay tôi trong ḷng bàn tay của thầy. Trước kia thầy dạy chúng tôi môn học Lâm Luật và thầy rất nghiêm khắc, ít cười, ít nói nhưng thời gian qua đă cướp đi bẳn tánh cố hửu nghiêm nghị của thầy. Trước năm 1975, ít người học tṛ nào được thầy tiếp đải ân cần khi đến thăm thầy. Riêng tôi không có dịp đến thăm thầy trước biến cố năm 1975 nhưng bản tánh “sạch” nổi tiếng của thầy trong lănh vực TL không ai không biết. Thầy cho biết nhiều anh em ở xa về có đến thăm thầy và nói nhiều về tôi. Thầy rất mong gặp lại tôi để hỏi thăm cho biếtt. Nghe tôi qua Mỹ có cấp sách đến trường đi học lại và cuộc sống đă ổn định nơi xứ người thầy mừng giùm và chúc tôi gặt hái nhiều kết quả tốt trong tương lai. Chỉ phù du thời gian ngắn ngủi, thầy tṛ tâm sự không dứt. Thầy vẫn c̣n khỏe mạnh; đi bộ vài cây số mỗi buổi sáng và chỉ dùng rau cải trong các buổi ăn hàng ngày. Ít lâu sau tôi được tin thầy đă mất hẳn trí nhớ do tuổi đời chồng chất, không c̣n nhận ra ai nửa và đă được người cháu đem về quê để phụng dưởng.

 

Đi qua thăm thầy Nguyễn văn Thôn bên cạnh, thấy thầy đang nằm trên chiếc giường bệnh, bán thân bất toại. Thầy không nói được, chỉ đưa mắt nh́n, nhưng trong ánh mắt tôi đọc được thầy vẫn c̣n nhận ra người học tṛ củ đến thăm. C̣n một tay cử động, thầy nắm chặt tay tôi như không muốn cho tôi gỉa từ bỏ thầy mà đi. Trong đôi mắt thầy đă có ước lệ. Tôi biết thầy đau đớn lắm và cùng lúc thầy tủi thân cho cuộc sống hiện tạị Thầy đă khóc thật sự và tôi cũng cảm xúc không kém. Thời gian ngắn ngủi chỉ biết đưa mắt nh́n thầy, không thốt ra được lời nào. Vă lại có nói ǵ đi nủa, thầy cũng chưa chắc đă nghe và hiểu được. Thương thầy nhưng không làm sao hơn, chỉ c̣n cách lưu lại ít hiện kim và nhắn vớí người nhà chăm lo săn sóc thầy giùm. Thời gian sau tôi được tin thầy đă qui tiên sau thời gian dài bệnh hoạn. Thương và tưởng nhớ đến thầy kính yêu và cầu nguyện linh hồn thầy phiêu diêu miền cực lạc.

 

           

VNB́nh, LVDự, ĐVThanh, NVKhang             ĐMQuan, NVDzai, LVQui, ĐVHoa

 

Viết ngày 01 tháng 12 năm 2001

 

Lần đầu tiên vợ chồng chúng tôi đến Pháp viếng thăm Paris vào trung tuần tháng 11 năm 1997, vào lúc mà các của hàng bách hóa bán sản phẩm quà Giang Sinh đă bắt đầu khai mạc. Chúng tôi đă từng nghe nói Paris đầy hoa thơm cỏ lạ, Paris là những tập thơ lăng mạn và t́nh tứ, Paris với muôn vàng thước ngọc, Paris đi dể khó về v.v... Ngày xưa lúc c̣n đi học tôi thường mơ ước được đến Paris du học và nh́n xem phong cảnh nơi đây. Ngày nay chúng tôi đang đứng giữa Paris và ngầm xem những lời ca tụng có phù hợp với thực tế hay không. Con đường Lafayette mệnh danh là khu trung tâm thương mại đứng hàng đầu của thành phố Paris vào mùa Giáng Sinh dập d́u tài tử giai nhân. Phố xá hai bên đường tấp nập cả rừng người từ sáng đến khuya. Xe cộ chen chút nhau mà đi. Tuy vậy so với các Shopping Malls lớn của Mỹ vẫn không thấm vào đâu. Đặc thù của Paris là vào ngày chủ nhật hầu hết các của hàng bách hóa đều đóng của, phố xá vắng vẻ, xe cộ thưa thớt và Paris coi như là thành phô “chết” hoàn toàn. Lưu lại Paris chúng tôi có dịp gặp lại Anh Nguyễn đ́nh Sơn, người bạn nối khố cùng khóa, cùng ngành vơi tôi hồi ở đại học. Anh Chị Sơn định cư ở Pháp khoảng cuối thập niên 1970 và được coi như một trong số rất ít người VN rât thành công ở hăi ngoạị. Anh Chị có hai con và cả hai cháu học hành rất xuất sắc. Cháu gái ra trường thi đổ đầu “Docteur en pharmacie” c̣n cháu trai tốt nghiệp Ingenieur của trường đại học nổi tiếng của Pháp Ecole des Ponts et Chaussées. Gia đ́nh Việt Nam định cư ở Pháp được như Anh Chi Sơn chỉ đếm được ở đầu ngón tay.

 

Chúng tôi đi thăm viếng các nơi nổi tiếng của Pháp như tháp Eiffel, công trường Luxembourg, Grand Calais, Petit Calais, Quartier Latin, nhà thờ Notre Dame, viện bảo tàng Louvre, Champs Elysees, Arc de Triomphe v..v. Nhân cơ hội nầy Anh Chị Sơn cũng giăi thích rành mạch sinh hoạt và nếp sống của cộng đồng VN ở Pháp cho chúng tôi am tường. Được viếng thăm các di tích lịch sử tôi bổng nhớ lại án văn bất hủ của văn hào Alphonse Daudet mà tôi được đọc qua lúc c̣n ở tiểu học: Le petit chose. Tôi có cảm tưởng như tôi đă sống lại thời ấu thơ và đang học lớp 4 (8eme) hoc lớp 5 (7eme). Các đoạn văn trong Le petit chose vẫn c̣n lăng văng trong dầu óc tôi lúc bây ǵơ : “Je vais vous dire... quand je traverse le Luxembourg ...” và nhiều h́nh ảnh trước mắt rất phù hợp vơi nội dung của án văn. Chúng tôi cũng có dịp dùng thuyền máy hay bateau mousse đi dạo gịng sông Seine đầy thơ mộng và t́nh tứ và cũng lần đầu tiên vợ chồng chúng tôi dùng cơm tối trên tàu nổi ngay tai trung tâm thành phố Paris. Đêm đó chúng tôi lại được hân hạnh xem vở thơ kịch L’Avare của Molière do một nhóm kịch sỉ nổi tiếng của Pháp tŕnh diển ở đại hí viện Opera. Đây cũng là phần văn nghệ chúng tôi ao ước thưởng thức từ lâu qua đêm ở Paris. Anh Chị Sơn cũng hướng dẩn chúng tôi đến thăm khu thương mại của người VN tọa lạc ở khu Paris 13em. Trung tâm thương mại nầy không lớn như khu Bolsa bên California hoặc khu Eden vùng Washington DC nhưng t́m được chổ đậu xe cũng là cả vấn đề nhất là vào nhũng tối thứ sáu hay tối thứ bảy. Được dịp ngồi tâm t́nh với Anh Chi Sơn, nhắc lại chuyện xưa nhất là cuộc đời bẻ bàng đi làm lâm nghiệp, chúng tôi cảm thấy thắm thía chua sót vô cùng. Không có ǵ đáng để chúng tôi nuối tiếc thời quá khứ.

 

Hai hôm sau chúng tôi rời Paris để đi Mulhouse bằng xe lửa của Pháp. Sân ga miền đông (gare de l’Est) của Paris không tráng lệ, đồ xộ và có kiến trúc đẹp đẻ như nhũng sân ga Union Station của Mỹ. Tôi thấy nó giông giống như nhà ga xe lủa củ Kỷ Saigon của VN ở đường Lê Lai trước đây mặc dầu diện tích có phần rộng lớn hơn đôi chút. Ngoài ra toa xe hỏa xa của Pháp cũng không rộng lớn như toa xe lửa Amtrak của Mỹ và đặc biệt hôm đó chúng tôi không t́m thấy một toa xe nào có pḥng ăn giải khát trên tàu mặc dầu hành tŕnh từ Paris đi Mulhouse mất khoảng hơn 4 tiếng đồng hồ. Tuy vậy xe lủa Pháp cũng sạch sẻ, yên lặng và không bị chao nhiều nên chúng tôi có thể ngũ một giấc dài trước khi đến trạm Mulhouse. Nhân viên kiểm soát vé có vẻ ngạc nhiên khi dừng lại trên toa tàu của chúng tôi. Họ chăm chú kiểm tra giấy thông hành passport và hỏi lư do v́ sao chúng tôi được đặc ân chỉ phải trả phân nữa giá vé.

 

Đến Mulhouse gia đ́nh d́ Ba của các cháu đă sẳn sàng ở sân ga chờ đón chúng tôi. Vợ tôi cùng d́ Ba nghẹn ngào ôm nhau mà khóc. Năm 1981 chúng tôi qua Mỹ, d́ Ba c̣n kẹt lại. Ngày nay đă gần hai mươi năm chúng tôi mới được trùng phùng tại Pháp và có cơ hội hàn huyên để vơi đi sự nhớ nhung xa cách. Chúng tôi lưu lại Mulhouse 3 ngày và có dịp tham quan thành phớ nầỵ Thành phố Mulhouse rất nhỏ, nằm về phia đông nước Pháp và cách Paris khoảng 200 cây số đường chim bay. Dân cư ở đây thưa thớt nhưng cuộc sống rất thanh nhàn, hiền ḥa thích hợp cho nhũng người đủ tuổi về hưu. Mulhouse giống như thành phố Đà Lạt có đồi núi cao với nhà nầy cách nhà kia một khoảng cách khá xa. Khí hậu cũng na ná mát mẻ như không khí ở các vùng cao nguyên trung phần VN.

 

Chúng tôi cũng có dịp viếng thăm thành phố Strasbourg cách Mulhouse khoảng 2 tiếng lái xe. Strasbourg to lớn, cổ kín, sầm uất hơn và là trọng tâm của miền đông nước Pháp. Thành phô nầy nằm sát cạnh Đức quốc và Thụy Sỉ nên chịu ảnh hưởng nhiều của Đức. Nhiều công thự với di tích thời đấu tranh Pháp Đức vẫn c̣n đó và là nơi lôi cuốn du khách hàng năm đến thăm. Rượu Van và Cheese là thổ sản ở đây và dân địa phương một số ít xử dụng Đúc ngữ trong đời sống hàng ngày. Đặc biệt là mỗi bửa ăn, sáng cũng như chiều người dân bản xứ đều dùng rượu trong thực đơn và cheese được coi như thưc ăn tráng miệng tại đây. Dân Pháp trông có vẻ lè phè như người VN hồi c̣n lệ thuộc của Pháp. Nếu người VN nào chưa đến sống ở Mỹ mà vào định cư ở Pháp th́ xă hội Pháp vẫn là nơi thích hợp và dể ḥa ḿnh hơn.

 

Chúng tôi trở lại Paris để chuẩn bị ngày trở về Mỹ. Paris đặc biệt là có rất nhiều quán ăn la liệt ngoài đường và người dân địa phương sẳn sàng tham gia ngồi lại đấu láo mỗi buổi chiều khi tan sở ra. Ở Paris tôi cũng có hai bạn học củ hồi c̣n trung học: Anh Chị Nguyễn phan Anh và Nguyễn hồng Anh. Hai bạn nầy đă là vợ chồng từ lâu và ngày nay đă có hai mặt con. Cũng như gia d́nh anh NDSon, anh chị PA & HA đă ổn định cuộc sống sau khi định cư ở Phap vào cuối thập niên 1970. Từ khách sạn Hyatt, nơi chúng tôi lưu ngụ tôi điện thoại hỏi thăm vợ chồng bạn tôi vào lúc 7 giờ tối và tỏ ư muốn gặp mặt cả hai nhưng PA cho biết v́ tuổi đă lớn, mắt đă yếu kém nên không thể lái xe ban đêm đi gặp chúng tôi sợ nguy hiểm. Như vậy chúng tôi mất dịp may để gặp lại bạn củ mặc dầu đă hơn một phần tư thế kỷ qua chúng tôi chưa hề gặp nhaụ Sáng sớm hôm sau chúng tôi gỉa từ Paris và không biết bao gị chúng tôi lại c̣n có dịp may khác để t́m gặp lại người bạn thân.

 

Tammy(dâu NVDzai), Các Chị: ĐMQuan, NVDzai, NSThuận, BXCảnh, NXĐài,

con gái NSThuận, Các Anh: LVQui, NXĐài, NVDzai, NSThuận, BXCảnh và ĐMQuan

 

Viết ngày 03 tháng 12 năm 2001

 

Mùa thu năm 1999 từ Rome chúng tôi trở lại Paris có chút việc riêng và lưu lại đây lâu hơn lần trước. Lần nầy chúng tôi không liên lạc với vơ chồng PA v́ tôi nghỉ cặp mắt của bạn tôi sau thời gian hai năm sẻ yếu thêm và lo ngại bạn tôi lái xe có điều không may xẫy ra. Hy vọng cặp mắt bạn tôi gỉư nguyên được t́nh trạng như trước đây, đừng bi đát hơn. Chúng tôi đi thăm Lyon, Marseille và cũng như lần trước cùng vợ chồng Anh Sơn và các anh em khác tái ngộ thêm một lần nủa. Lần nầy đặc biệt chúng tôi có dịp ghé thăm một giáo sư củ người Pháp dạy tôi học hồi c̣n ở trên Blao: giáo sư Maurice Schmid.

 

Thầy Schmid dạy chúng tôi hai môn học thổ nhưởng và vi trùng học năm thứ nhất lúc tôi mới bắt đầu vào trường NLS Bảo Lộc. Gặp lại thầy là cả một sự bât ngờ khó thể tưởng tượng v́ đă hơn 40 năm tôi xa trường, xa thầy và xa bạn. Tuy vậy t́nh thầy tṛ thân mật vẫn như xưa và có phần đậm đà hơn trươc. Thầy Schmid tuổi đă gần 80 trông ǵa hơn xưa nhiều và sức khỏe có phần yếu kém. Gặp tôi, thầy có vẻ bở ngở và không ngăn được xúc động. Thầy chỉ sống đơn bạc môt ḿnh trong một cao ốc một pḥng ngũ tọa lạc nơi khu thương mại Versailles. Thầy cho hay là thầy đă hưu tri từ lâu và cả ba cô con gái của thầy đều đi lấy chồng và ở riêng. Thỉnh thoảng các cô có đến thăm thầy nhưng không ở lại. Nh́n cách sống của thầy rất đơn giản và đạm bạc. Thầy lăng xăng kéo ghế mời chúng tôi ngồi, nhưng trông thầy không đươc tự nhiên cho lắm v́ lẻ chúng tôi đến thăm thầy quá đột ngột bất ngờ làm thầy chưa kịp chuẩn bị.

 

Chúng tôi kéo nhau ra quán ăn lộ thiên gần đó để tâm t́nh. Trời Paris mùa thu mát mẻ và nên thơ. Hai bên đường phủ đây lá vàng và cây cối trụi lá trông rất trơ trẻn làm sao. Nh́n vóc dáng thầy có phần mảnh mai hơn trước nhưng giọng nói vẫn là h́nh ảnh ngày xưa khi thầy đi dạy học chưa có ǵ gọi là thay đổi. Đôi lúc trong câu chuyện, nh́n vào mắt thầy, thấy có chút ước ẩm. Phải chăng thầy đă cảm động khi bất ngờ gặp lại người học tṛ củ xa cách gần bốn mươi năm nay và ngày nay thầy không tin là được gặp lại?. Thầy nói chuyện liên miên không ngừng và thao thao bất tuyệt nhắc lại kỷ niệm xưa cũng như không quên nhắc đến tên của mỗi người học tṛ mà thầy đă dạy qua hồi thập niên 1960. Thầy cho hay là ước ǵ thầy c̣n đủ sức khỏe để trở về VN đi thăm lại trường xưa, cảnh củ. Thầy cũng nuối tiếc không khí và cảnh đẹp nên thơ của vùng Blao hửu t́nh. Thầy c̣n cho biết là suốt cuộc đời đi dạy học ở nhiều quốc gia trên thế giới, chỉ có VN là thầy lưu lại nhiều h́nh ảnh kỷ niệm khó quên. Kư ức của thầy vẫn c̣n sáng suốt không bị hao ṃn với thời gian. Thầy c̣n nhắc nhở tôi là lần sau nếu tôi trở lại Paris một ḿnh (không có vợ đi theo???) th́ cứ tự nhiên đến ở chung với thầy cho ấm cúng và thân mật. Buổi cơm trưa ngoài lộ thiên không có ǵ ngoài một dỉa xà lách, vài ba lát bánh ḿ và miếng thịt ḅ stead mỏng manh. Thầy và tôi cùng thưởng thức mỗi người một ly rượu chác bourgogne của Pháp để sưởi ấm tâm hồn nhớ nhung xa cách từ lâu. Trông thầy dùng bửa ăn trưa vẫn c̣n khỏe mạnh không giống như các cụ già 80 ở nước ḿnh. Tâm t́nh với thầy măi không thấy chán và h́nh ảnh thầy tṛ hơn 40 năm mới gặp lại ngày nằm xuống tôi khó có thể quên được. Chỉ ít giờ ngắn ngủi gặp nhau, cả thầy lẩn tṛ đến lúc phải chia tay và chúng tôi hứa hẹn sẻ trở lại thăm thầy nếu chúng tôi có dịp qhé lại Paris lần nữa. Hợp rồi tan, tan rồi hợp đó là định luật tự nhiên của tạo hóa.

 


TUYỂN TẬP 50 NĂM TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1955-2005

Trang Nhà NLM

Tuyển Tập 50 Năm Kỷ Yếu H́nh Ảnh 50 Năm