Trang Nhà NLM

Tuyển Tập 50 Năm Kỷ Yếu Hình Ảnh 50 Năm

Tâm Tiến LÊ VĂN ĐẠT

 

 

HỒN đi rỒi sao ngưỜi trỞ lẠi

 

Sao đời lữ khách tìm thương nhớ ?

Blao buồn đêm ấy thuở nào khuây ?

                       

 

Thời gian đi mãi không dừng lại nhưng dòng đời còn đọng trong tôi, đó là những năm tháng hạnh phúc bên bạn bè, thầy cô, Ban giám đốc trường QGNLM. Ðược sống dưới một mái nhà êm ấm trong ba năm đó, tôi như con ốc sên ẩn mình trong cái vỏ hạnh phúc riêng mình. Hạnh phúc nào cũng qua đi, ngày ra trường chia tay mỗi người một ngã đường đời trở về với gia đình quê hương mình.

Thời gian làm công chức chỉ hai năm, lại lên đường lao vào cuộc chiến ở các chiến trường và đơn vị. Ðời quân ngũ cọng với ba năm trong các trại tập trung, tôi như quên hẳn bạn bè, thầy cô, ngôi trường cũ - nơi tôi có quãng đời hạnh phúc, trưởng thành và đưa tôi vào đời. Tôi dừng lại ở đây - xin bạn bè tha thứ cho tôi vì quãng thời gian ấy bản thân tôi mỗi một ngày phải đối diện "sự tồn tại đời mình" và trách nhiệm tôi không có được những "êm đềm" để thả hồn hoài niệm ngày xưa, tuổi học trò !

Vậy mà ! bạn bè có nghĩ rằng tôi đã trở về thăm trường một lần vào năm 1980 sau 18 năm xa cách !

Ngày ấy là một ngày mưa lất phất bay và hơi se lạnh - "cái lạnh tâm hồn" của MỘT B?LAO BUỒN thuở nào thường làm cho tôi nhớ nhà khi học ở trường.

Trên bước đường tha phương - chiếc xe đò đưa tôi ngang qua thị trấn Bảo Lộc - Chợt nhìn qua khung cửa thấy lại cổng trường xưa, thấy lại văn phòng loáng thoáng khuất lẫn sau hàng cây cao, tự nhiên trong lòng tôi cảm thấy xúc động !!! và tự trách thầm : bao năm rồi sao chưa một lần về thăm dù đã từng qua lại nơi đây ?! - chính tiếng vọng sâu thẳm bắt tôi dừng bước xuống xe nửa đường, không tiếp tục hành trình còn lại.

Từ quán Ngọc Lan, với túi xách khoác vai tôi đi bộ quay lại Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc.

Ngôi trường thân yêu ơi, học trò ngày xưa đã về ! tôi cảm thấy niềm thân thương kỳ lạ trào dâng khi bước vào cổng !

Trường vắng vẻ quá ! có lẽ đang kỳ nghỉ hè ?

Trên thảm cỏ, tàng cây, lối đi - cơn mưa chiều còn đọng nước. Ðây ! Văn phòng mái vòm phía trước, sau nhiều năm được nhìn lại, trông như bé nhỏ!? màu xanh đen của đá xây, màu vôi trắng của trường vẫn vậy. Ðây ! Ba dãy giảng đường chữ U cửa kiếng sơn xanh - ghé mắt nhìn chẳng có gì thay đổi, chỉ có những ghế "liền bàn" được thay bàn ghế học sinh để nhiều chỗ ngồi hơn.

Dãy "Bạch Cung" màu vôi trắng vẫn còn bên kia. Ðằng xa ! Ðại Thính đường để tổ chức thuyết trình, văn nghệ và làm Lễ Mãn khóa. Quay lại nhìn ra phía trước - bấy giờ tôi mới chú ý để đau lòng : cả một Arboretum - một vườn mẫu đủ loại cây rừng dành cho sinh viên Thủy Lâm học, bây giờ thế nầy sao ? tất cả đều bị đốn hạ để thay vào vườn dâu xanh ngắt một màu ! Phải 100 năm cũng không dễ gì tạo lại ! còn vườn dâu thì nơi nào lại không trồng được ? Phần Arboretum bên phải thì bao hộ dân cũng phá rào, hạ cây chiếm đất cất lều quán, tiệm ăn giải khát tạp nhạp. Ði thêm một đoạn là hàng rào kẽm gai chận lại, bên kia rào là khu vực hình như cán bộ ở ? nhà gạch, nhà ván hùng cứ một phương ! Vòng lần nữa theo đường nhà ăn để vào rừng, dừng lại ngã ba để ngắm lại khu biệt thự bé bé xinh xinh của giáo sư ngày xưa - thương tiếc nghẹn ngào ! hình như đã bán cho dân ở, bẩn và xuống cấp, áo quần phơi, giàng mướp giăng giăng trước cửa, còn đàng kia sừng sững một garage bằng tôles đồ sộ, những xe máy cày, máy ủi đất, xe cẩu, xe ben, xe cây đậu ngổn ngang cày nát cả một vùng cỏ xanh cây cao bóng mát mà ngày xưa chúng tôi họp Tráng Hướng đạo - hiện là một bãi sình, dầu nhớt lầy lội đen sì ! Hết cả rồi ! Tôi xuống vườn cà phê để tìm lại "khu rừng ngày xưa", ít ra cũng còn lại một chút gì để nhớ để thương.

Một khu rừng hoang dã bạt ngàn có những dòng suối, thác nước, có cả Hoàng Lan mùa tết vàng rực khoe màu, mà mỗi buổi chiều tôi nhớ nó thành thói quen : thơ thẩn vào đó để nghe tiếng chim ríu rít kéo nhau về tổ, nghe tiếng vượn hú gọi đàn trầm bổng lúc gần lúc xa khi trời chiều tắt nắng, được nhìn thấy những con gà rừng sặc sở chạy băng qua băng lại sục sạo trên lối mòn, những con thỏ rừng lông xám dạn dĩ đứng nhìn tôi xa xa, trên cành cây cao một chú sóc bay sà xuống và bao cánh bướm đủ màu chập chờn chung quanh ... Thật sự đang sống giữa thiên nhiên huyền diệu lúc chiều xuống !

Xuống đến đầu dốc tôi thấy cả một khu rừng "điêu tàn"

Không !!!

"Rừng không thể điêu tàn để tổ quốc suy vong" như André Theuriet một tác giả Pháp đã viết :"Au plus fond des Bois la Patrie à son coeur, un peuple sans forêts est un people qui meurt". Rồi sau nay được nhiều người diễn ý lại trong bài thơ "Lời cầu nguyện của rừng"...

Trước mắt tôi cả khu rừng ngày xưa đã bốc hơi biến mất rồi. Rừng đâu ? ? chỉ là những đồi chè nhấp nhô tận chân trời, lác đác vài ngôi nhà gỗ lợp tôles nhô lên giữa một màu xanh thẫm và những con đường đất đỏ !

Một cảm giác quái lạ "hồn ngẩn ngơ" như vừa đánh mất vật gì quí giá mà không hiểu mất cái gì ? có thể là một nỗi buồn man mác tràn ngập lòng mình ?

Mãi về sau tôi mới hiểu được "cái tôi mất đi thuở ấy" - Ðó là "Hồn Riêng của Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục" mà 18 năm xa cách tôi tìm về mong gặp sống lại trong hoài niệm cảnh cũ người xưa. Nhưng hồn đã về đâu ! để lại cho tôi nỗi cô đơn về sự đổi thay !

Cái hồn riêng của Trường hòa quyện giữa núi rừng, cũng như tôi sống hồn nhiên hạnh phúc giữa núi rừng bão bọc. Tôi đã cùng nó trong những đêm khuya thanh vắng, những đêm có sương mù từ núi rừng lan tỏa, trắng xóa bao trùm để nó ngủ yên, khi tôi ngồi một mình ở chân cột cờ, nó cho nghe âm thanh rì rào của dòng thác sau nhà giáo sư vọng lại, cho tôi nghe được cả tiếng thì thầm, lúc lao xao từ buôn làng chân núi Ðại Bình vẳng theo gió bên tai ... "Hồn thu thảo" ấy thật không còn nữa khi hình hài bị cắt xẻo từng mảnh và vòng vây con người siết chặt chung quanh nó ! Giờ đây. Trường cũng như bao trường dạy nghề khác trên đất nước này - chỉ còn là hoài niệm trong lòng về một ngôi trường giữa chốn núi rừng.

Lẽ ra tôi đi tìm quán trọ nhưng tôi đổi ý ở lại trường đêm ấy - tôi sẽ ngồi suốt đêm ngoài mái hiên ở Bạch Cung cuối dãy, tôi muốn nghỉ lại đêm nay dưới mái trường thân yêu vì nghĩ rằng sẽ không bao giờ tôi còn trở lại nơi đây nữa !

Vào khuya bỗng một cơn mưa lớn cùng giông gió làm toi?hức giấc ngồi nhìn mưa đêm, nhìn con đường "Hoàng Hoa" trước mặt - những cây Muồng Hoa Vàng khi mùa ra hoa thật đẹp, vàng rực trong nắng ban mai, vàng từ trên cao vàng xuống cả mặt đường, nhưng đêm nay xác xơ trong mưa gió, cằn cỗi theo tháng ngày, những cành lá đọng sũng nước mưa nặng trĩu oằn xuống xào xạc đong đưa khi gió thổi qua, lá cây run rẩy phản chiếu ánh đèn vàng từ cột đèn chiếu sáng yếu ớt khi sáng khi tối như ma trơi xõa tóc !

Ðiếu thuốc nầy châm điếu thuốc khác, tôi vẩn vơ tưởng nhớ ... hình bóng các thầy cô, các bạn bè đồng khóa cứ theo nhau từ ký ức, từ những kỷ niệm xa xưa lại hiện về trong tâm hồn tôi ...

Tôi nhớ vô cùng khuôn mặt phúc hậu của Bác sĩ Vũ Ngọc Tân, giám đốc, sao Thầy hay buồn quá, mỗi buổi chiều tối Thầy hay đứng một mình trầm tư trước sân nhà, con chó berger của Thầy cuộn tròn nằm bên chân, ít khi tôi được thấy Thầy cười dù có lúc Thầy đứng chuyện trò cùng các vị giáo sư. Chỉ một lần tôi được thấy Thầy cười rạng rỡ khuôn mặt, đó là lần Thầy coi thi cuối năm thứ nhất - Anh bạn tôi đang thao thao trả bài như học thuộc lòng : ... "khi ta muốn diệt côn trùng sâu bọ ta phải sử dụng bình ,,, " Thầy nói "Anh ngưng lại, anh nói cho tôi biết thế nào gọi là côn trùng, thế nào gọi là sâu bọ ?"

Luồng tư tưởng đang tuôn chảy của bạn tôi bỗng bị Thầy khóa "robinet" quá nhanh, không chuẩn bị kịp nên cứ ú ớ như "Maika trên trời rơi xuống" - Thầy cười ha hả - tôi nghĩ rằng Thầy thử "bắt bóng vía" sinh viên cho vui thôi, chứ đối với sinh viên Canh Nông câu hỏi quá dễ.

Sau ngày ở trại về tôi được tin Thầy đã ra đi, ra đi trong cô đơn và đau buồn ! tôi không thể ngờ rằng một vị Giám đốc Thảo Cầm Viên học vị tại Pháp "Docteur Vétérinaire" như Thầy bị giáng xuống làm một công nhân sau ngày 30 tháng 4 !

Cuộc đời Thầy là tấm gương sáng sự tận tâm và trong sạch mà chúng em đã noi theo trong bao năm phục vụ đất nước. Thầy ra đi để lại bao xót thương cho chúng em và cho bạn bè Thầy !

Nghe kể rằng Thầy nằm xuống ! không có một mái nhà, một đồng để lại, mọi người quyên góp mua áo quan và tiễn Thầy về lòng đất lạnh. Mắt tôi cay cay khóc Thầy nhưng tôi phải ghìm lòng lại.

Nguyện cầu hương linh Thầy hãy xóa sạch thứ cát bụi đời nầy" trở về cõi Bằng An bên cạnh Chúa đời đời !

Bóng dáng Thầy Nguyễn Văn Mừng, MS Nông học ở Mỹ về thì khó mà quên vì tôi là "năng tương ngộ" với Thầy - tôi được biết Thầy khi học ở trường Quốc Học Huế, lúc lên trường lại gặp Thầy ở cương vị Giám học, lúc Thầy về làm Giám đốc Viện Khảo Cứu thì tôi đang ở Dù Sài gòn, lúc lên Võ Bị Ðà Lạt thì Thầy đã lên giữ Phó Giám đốc Nguyên Tử Lực Cuộc Ðà Lạt, gặp Thầy đến tận ngày cuối cùng di tản.

Nghĩa là Thầy chuyển đến đâu tôi chuyển đến đó !

Có lẽ đời học sinh ai không tái mặt khi bị gọi lên Phòng Giám Học ? Nhưng ở Trường Nông Lâm Mục Bảo Lộc hoàn toàn khác ! Giám học chân mang dép Nhật, áo sơ mi cụt tay, tóc cua 1 phân kiểu các huynh dòng Phan-xi-cô. Không lúc nào là không thấy Thầy "bận rộn vọc đất vọc cát" ngoài đồng. (kể cả ngày Chủ nhật) hơn ở Văn phòng. Cứ trông dáng đi "tất bật không kém" của Thầy cũng biết :

"Ði đâu mà vội mà vàng,

Quàng chân vấp đá ..."

Vì lối ăn mặc xuềnh xoàng như tính xuề xòa của Thầy chẳng sinh viên nào ngán và hay chận Thầy "đi đâu mà gấp". Tôi nghe Thầy lầm bầm :"mấy đứa lếu láo", tức lắm nhưng lại cười.

Làm Giám đốc lại chê xe Hoa Kỳ "hao xăng chính phủ !" mỗi ngày chịu khó đi xe đạp, sáng đi chiều về cơm trưa ở Viện, nơi ở thì tận Trại chăn nuôi Tân Sơn Nhất (cuối Thành phố) mưa gió cũng đạp !

Có lần thấy Thầy chuẩn bị đi làm, gô cơm bỏ vào giỏ xe, giỏ lại gắn trên porte-bagage phía sau, tôi phì cười : chắc như bắp, lỡ đụng xe chỉ móp trán Thầy, chứ gô cơm chẳng thể nào móp được !

Cần kiệm liêm chính như Thầy cũng mệt ! B52 chỉ cần khởi động lúc cất cánh thì cũng đủ xăng cho Thầy đi 10 năm.

Ở Ðà Lạt Thầy cũng chẳng có model nào hơn lúc ở trường, có khác là khi đi dạy ở Viện Ðại học Ðà Lạt hay đón các phái đoàn ngoại quốc đến thăm Thầy đổi dép mang sandale, choàng thêm cái áo len ba lỗ "trấn thủ lưu đồn" chứ chẳng đóng veston cravate như giáo sư giám đốc với người ta.

Xin nói với các bạn Canh Nông học Thầy nhưng ít ai biết nghiên cứu của Thầy để tự hào một chút về Thầy của mình kẻo phí !

Một hôm Thầy cho tôi xem "một vật thể lạ gói trong tờ báo", lúc Thầy mở ra :

-Trời thần, một trái bắp vàng tổ bố dài gần 4 tấc.

Tôi mở hết VOLUME ca Thầy : "Thầy làm sao trồng được bắp to thế nầy ?"

-"Thì mình cho phóng xạ đồng vị Uranium .. lên hạt bắp giống rồi đem gieo, còn cả vườn ở trển lên mà coi cho biết".

-"Vậy bắp nầy ăn được không Thầy" - tôi hỏi.

-"Ngớ ngẩn ! Răng mà ăn không được ? Cú cho một cái bây giờ."

Nói nhỏ mà nghe, đừng để đến tai Thầy :

Thằng tui không dám ăn đâu, hỏi để hỏi chứ Thầy cho cũng không nhận, chỉ nhận bắp lai ! "bắp phóng xạ đồng vị" thì "bái bai". Tôi không sợ "die" mà sợ cho hậu duệ sinh ra hình dáng"chẳng ra giống gì" mà thôi !

Cái gì cũng có nguyên nhân : Mấy lần tôi đưa các phái đoàn quan khách đến thăm, chứng kiến tận mắt thầy đứng trên miệng lò phóng năng lượng nguyên tử, mỗi khi Thầy kéo sợi dây cáp lôi mấy thỏi URANIUM ra khỏi mấy lỗ tròn dưới đáy lò (sâu thăm thẳm trong lòng đất) thứ đó phát ra ánh sáng xanh lục ớn quá ! để Thầy "nổ cho đã với quan khách" tôi luôn luôn tụt xuống cầu thang đi chỗ khác chơi, ở đó mà ham cúi xuống nhìn e có ngày "rớt tỏm" trong lò nguyên tử là hết cứu !

Giờ thứ 25 trực thăng đổ xuống bốc Thầy đi cùng các chuyên gia Hoa Kỳ, mừng cho Thầy nhưng lại thấy lòng bùi ngùi biết đến bao giờ gặp lại Thầy !

 

Trong đời khi chia tay với một người bao giờ cũng hẹn gặp lại với cái bắt tay thật chặt, ít ai nghĩ đây là lần bắt tay cuối cùng để vĩnh biệt ! đời quân ngũ tôi đã phải bao lần đau buồn khi nhớ lại những lần "tạm biệt - vĩnh biệt" ấy !

Nghe tin Phạm Ninh nằm lại đường 9 Hạ Lào khi tôi và đơn vị trực chiến tại Tao Ðàn - tôi không tin - chỉ nghĩ Ninh bị bắt - nhưng đã 4 năm qua rồi ! còn gì nữa !

Ðêm nay ngồi nhớ lại đêm cuối cùng nằm tâm sự bên nhau ở ngã tư Bảy Hiền - có linh cảm nào mà bạn không cho tôi về - 1 giờ khuya đã giới nghiêm không còn taxi, bạn đèo tôi về trên chiếc Vélo Solex - đường phố vắng hoe, mưa tầm tã, tôi ngồi sau trùm chung poncho với bạn, bạn đã chạy chính giữa đường và lao thẳng vào đầu xe GMC 10 bánh, tôi chỉ nghe tiếng thắng xe hơi rít dài trên mặt đường rồi té xuống, hai thằng lùng bùng trong poncho lúc chui ra được mới biết người nằm trước bánh xe ! nếu tài xế không thắng xe được, tôi và bạn có lẽ đã nắm tay nhau về bên kia thế giới đêm ấy ! Sao chỉ còn mình tôi ngồi đây nhớ bạn đêm nay ?!

Chết chẳng có gì quan tâm, chỉ là giấc ngủ cuối cùng của đời người, ngày mai ta không thèm thức dậy làm gì nữa !

Nhưng nó để lại nỗi tiếc thương cho bạn bè, cho người thân yêu của mình suốt cả cuộc đời !

Trong bạn bè có lẽ Nguyễn Văn Cang lớn tuổi nhất, đi học đã có gia đình, Cang nguyên là huynh trưởng gia đình Phật tử Ðà Nẵng (khởi xướng lập Ðoàn sinh viên Phật tử Nông Lâm Mục Bảo Lộc) Ngày 20 tháng 4 tôi và bạn làm hết chai Martell ở Thảo Cầm Viên, còn nhớ lời bạn nói : uống đi để không bao giờ uống nữa rồi. Bốn năm sau vào bệnh viện Hồng Bàng thăm, thật tôi cũng không ngờ bạn chỉ còn da bọc xương, nằm trên giường với mặt nạ thở oxy, bạn nhìn tôi không nói nhưng tôi đọc trong mắt bạn muốn nói với tôi nhiều lắm : những lời giã biệt ! Nắm chặt tay bạn tôi muốn giữ lại sinh lực hơi ấm khi còn sống bạn truyền cho tôi, vì nghĩ rằng sẽ không bao giờ tôi còn cơ hội nữa ! Bạn ơi tâm vô ngã - thân vô ngã - giáo lý của Ðức Thế Tôn bạn hiểu hơn tôi nhiều, quên thân thân giả tạm này dù mai nầy bạn "ra đi" thì nợ trần bạn trả xong, còn tôi "ra đi" chốc lát nữa đây (vì sự mưu sinh) đáng buồn hơn ! nợ đời tôi chưa trả hết.

Những vị Thầy gắn bó suốt ba năm học của tôi như Thầy Lê Văn Ký, gốc cổ thụ của ngành Thủy Lâm, Thầy quá đổi hiền, Thầy giống như người anh cả trong gia đình, trong lớp học cũng như ngoài trời thực địa, Thầy luôn luôn đem hết kiến thức truyền đạt cho đàn em về Sâm Lâm, như phân loại đánh giá, quy hoạch khai thác, làm lâm lộ, cầu cống vận chuyển, phòng cháy và quản lý rừng...v.v.. giọng Thầy lúc nào cũng chậm rải nhỏ nhẹ, những lúc Thầy nói nhiều có vẻ mệt và hay rướn cổ tằng hắng, tội cho Thầy !

Thầy Vương Ðình Xâm đối với tôi thì hết sẩy bởi ấn tượng hình dáng của Thầy. Thầy lùn nhưng không ai biết Thầy đi nhanh, lắc qua lắc lại như một vận động viên marathon, chính kinh nghiệm tôi biết được vì nhiều lần Thầy đi đằng trước, tôi cố vừa đi vừa chạy để vào lớp trước nhưng không bao giờ đuổi kịp.

Giờ học đầu tiên phải thán phục Thầy vẽ những thú rừng vừa nhanh vừa đẹp, tôi nhớ trong buổi học Thú Lạp lúc Thầy giả tiếng cọp, nai "gọi bạn tình":"Bép-bép" - "U-tát - U tát" thôi thì cả lớp cười ngả nghiêng, bắn cả nước bọt lên cổ tôi. Tôi sợ quá len lén nhìn lên, chờ đợi một cơn thịnh nộ của Thầy, đuổi tất cả ra khỏi phòng học - nhưng kìa ! Thầy lại cười vui hơn cả sinh viên ! Kể từ đó giờ của Thầy rất nhộn và tha hồ thoải mái, nhớ hồi trung học, trong lớp Thầy cô đang giảng bài, một con ruồi đập cánh bay qua cũng "phân biệt được ruồi nầy là ruồi đực hay ruồi cái".

Mỗi Thầy của chúng ta ngoài bằng cấp cao, đức độ và lòng yêu thương sinh viên, còn có tài năng "ưu việt" mà tôi kể cho bạn bè nghe, đó là Kỹ sư Canh Nông Phạm Như Hy, Tráng Trưởng kiêm đại sư của tôi. Thầy có một cách uống bia (mà tôi bắt chước không được) giống như đổ xăng bằng chai vào xe Honda : Thầy đứng thẳng ngửa mặt theo thế biểu diễn "nuốt kiếm", bia chai khui sẵn trên bàn, cứ thế chai nầy đến chai khác cắm thẳng đứng vô miệng - ọc, ọc, ọc, (1 chai) ọc, ọc, ọc, (2 chai) cứ tiếp tục. Thấy tôi ngạc nhiên Thầy nói : "uống thật nhanh mới đã". Tôi tò mò hỏi :

-Thầy "cua"(tán tỉnh) cô có nhanh được "như rứa" (như vậy) không ?

-Cua "chi mà"(ai mà làm chuyện đó) cua ! - trong một lần mình đi nghỉ hè từ Pháp qua Ðức chơi với một người bạn bằng xe hỏa (tàu lửa). "Ả" (cô nàng) tóc vàng nầy cứ hỏi :

-Anh là người Nhật Bản ?

-Không, người Việt Nam.

-Người Việt Nam tức Nhật Bản ? - mình tức cười và nghĩ rằng không có bản đồ thì có giải thích chi đi nữa ả cũng không hiểu, thôi thì ừ đại (liều) cho khỏe.

Ðến Ðức, ả mời mình về nhà cha mẹ chơi, kỳ nghỉ hè đó dính luôn. "Mà có lẽ mình giống Nhật Bản thật" (Thầy gật gật cái đầu thích chí)

-Rứa (vậy thì) sau nầy cô biết Thầy không phải Nhật Bản thì răng (làm sao)?

-Biết thì răng chừ (thì làm gì nữa bâu giờ) ? bé Corina đó ! (thầy lại cười ọc-ọc).

Madame Hy biết nói về mình, nhưng tiếng Việt còn bập bẹ, lại đụng nhằm thứ tiếng Việt (tra hoài không có trong Tự điển !) cứ nhìn ngạc nhiên không biết hai tên nầy nói gì mà vui vậy ?

Love story của Thầy 40 năm sau học trò mới dám "khui" cho mọi người biết tài "đánh nhanh diệt gọn" màkhâm phục. Thầy từ bi hỷ xã !

Thầy Lê Minh Tâm xì khói, đến giờ nầy ngồi đây tôi vẫn thắc mắc chuyện tình của Thầy chưa khai thác được ! không biết thời gian học ở Pháp Thầy phải mấy "Tour de France" nới sưu tầm được Cô "quá khiêm nhường" cỡ vậy ? Sáng chủ nhật ngồi học bài ở giảng đường, nhìn Thầy dìu Cô đi dạo trong "rừng Boulogne" (xin lỗi) "rừng Arboretum" thật hạnh phúc ! đầu Thầy phải cúi xuống, lưng ẹo qua một bên nhưng mới chỉ thì thầm được với mái tóc của Cô ! Thầy nói chuyện mà tôi mỏi cổ quá đi !

Tôi không thể nào quên buổi học đầu tiên Thầy điểm danh coi mặt sinh viên. Khi Thầy đọc đến tên : Hà, Hà ... Hà Guợt ! (Thầy la to) Hà Quợt đứng dậy. Thầy nhìn Hà Quợt như thể nhìn "người ngoài hành tinh"- rồi Thầy ngửa mặt nhìn trần , mắt Thầy nhắm lại - một phút lặng lẽ trôi qua - Thầy lúc lắc cái đầu qua lại để cho tỉnh ngủ (chắc Thầy nghĩ rằng mình đang ngủ chứ không phải đứng tại lớp ! Không thể nào có cái tên Quợt trong tiếng Việt ! phi lý ! quá sức tưởng tượng của Thầy !)

Bổng Thầy mở choàng hai mắt thấy Hà Quợt đứng "chần dần" ra đó, xác định là mình không ngủ mê, Thầy phá cười to (hết cười Thầy cúi xuống tự nói nhỏ đủ nghe : "tên gì mà kỳ")

(Tôi luôn luôn ngồi đầu bàn, trời lở sinh cái tính quan sát phân tích đối tượng - Hà Quợt chớ buồn - đây là kỷ niệm vui, tên bạn đã có ấn tượng đầu tiên đối với Thầy, không phải sinh viên nào muốn cũng được).

Hôm Thầy giải bài toán Sin-Cosin-Log-Colog còn căng hơn - thường thì bài nào thầy giải cái rẹt là xong - không hiểu hôm đó Thầy sao ? cứ cắm cúi viết từ trên xuống dưới kín cả bảng đen, rồi lại xóa. Giải cách thứ hai, lại xóa. Giải cách thứ ba, Thầy bước lui xuống lớp, ngắm nghía, Thầy bóp trán, cái "tẩu" đã tắt ngấm hồi nào mà Thầy sứ đưa lên miệng "pặp pặp" chẳng xì khói ! "Không được - không được - Goa giải thế nầy mấy em không hiểu" Thầy lại xóa làm lại.

"Chuông nhà bàn" thì cứ reng reng - reng reng hoài, Madame Colog (mỹ danh khóa V đặt tên cho Bà vợ Thầy) thì cứ thập thò ngoài cửa, Thầy ra bảo Cô về, một hồi Cô lại lên nhưng không dám mở cửa vào. Tôi thầm trong bụng : "Hãy can đảm lên đi Cô ơi", bụng tôi thì "ục-ục" (buổi sáng gấp quá, uống vội ca sữa lỏng bỏng, ổ mì chả còn trong túi quần) Thời may Thầy liếc ra thấy sinh viên lóng ngóng lên lớp buổi chiều, bắt buột phải trả phòng học đành mai "giải tiếp" - nhưng trước khi ra khỏi lớp Thầy thẳng tay ném "cộp" cục phấn lên bảng "sao cái đáp số mắc dịch ! cái bữa nay !

Như bầy ong vỡ tổ, tất cả tranh nhau ra lớp ôm cả tập băng xuống nhà bàn, chạy cỡ vận động viên điền kinh 100m nước rút - nhưng đến nơi nhìn "cái ca dê" của mình, cơm nước nguội lạnh sao mà ngao ngán !

Tôi nhớ đến những người bạn đã ra đi trong cuộc chiến, những người bạn còn lại đang ở phương trời nào !? Ðám con gái có "Ba nữ Lâm tặc" hai tên Mếch xi cô và Hành Ngò, tướng mũi "nhiều tiền lắm bạc" chọn lâm nghiệp hốt dữ lắm, còn Minh Tâm lại thích làm nài Trường đua Phú Thọ ! Nói tới ả là nhớ suýt nữa "ả" có thể biến hóa mình thành "Quasimodo trong Nôtre Dames de Pais" - hôm ấy khi đi đến gần cột cờ, nghĩ rằng đường rộng thênh thang, mình thì đi sát lề cỏ nên không quan tâm đến vó ngựa dồn dập sau lưng - lúc nghe tiếng thét khủng khiếp quay lưng lại và nếu không kịp bay qua đường mương ôm gốc cây thì ả đã phóng con ngựa đua Phi Long cao lớn đạp lên lưng té sấp ! Hôm sau gặp ả ở lớp còn khoe cái hàm răng trắng ra cười. Chào thua !

Mấy bà người Huế ngoài chợ cứ nói : "Con gái" chi mà" cỡi ngựa ngoài đường ngoài sá" .

Các bạn bè Hoàng Ứng, Thới Xuân, Ngọc Căn, Hoàng Nhiếp, Trọng Tân đã đi rồi ! Văn Thanh (vua sục sạo), Xuân Căng (bị hiếp đáp), Thành Song (hóa đá) và bao bạn bè khác giờ ở nơi đâu ? Nhớ tới Xuân Căng là nhớ những ngày tập sự ở Thủ Ðức bị ăn hiếp quá, bạn hay bị Thầy Hoenninger la rầy, mỗi khi tắt cưa máy phải rú ga "hú hú" ba lần mà bạn hay quên, một lần "bò lên lưng ngựa"mất vẽ oai phong của kỵ mã !

Khuôn mặt của Thầy Hoenninger thật khắc khổ cọng với nước da đỏ "au" của người Ðức, học Thầy ai cũng sợ. Một cái rìu xài xong đem trả phải lau sạch bằng giẻ lần I, lần II rữa vào khay dầu gasoil, lần III lau khô khăn sạch, lần IV bôi lên một lớp mở bò rồi mới được bỏ vào thùng, sợi sên cưa máy tôi đã chà kỹ còn hơn chà răng của tôi vậy mà Thầy bắt chà lại ! Lên ngựa thì "chân trái"đặt lên bàn đạp, nhún một cái đứng thẳng người lên, "chân phải" thẳng ra sau vắt một cái qua lưng ngựa (bò lên không được à nghen) ngồi lên ngựa rồi hai tay buông xuôi bên hông, lưng thẳng như cột cờ, không được vịn vào đâu, Lê Quang Thưởng cầm cương dẫn ngựa chạy - sợ muốn chết ! Phải chi Thầy phát mỗi tên một thanh kiếm thì có thể gia nhập đội kỵ binh danh dự của Hoàng gia Anh Cát Lợi ! đi duyệt binh.

Nói cho vui, vì Thầy muốn cỡi ngựa phải có dáng ngồi "nốp bơn" thôi, cũng ơn Thầy chỉ dạy mà tôi và Lê Quang Thưởng "mới dám đứng ra làm huấn luyện viên cỡi ngựa" cho Trường Canh Nông Thực Hành Huế trong thời gian chúng tôi làm giám thị ở Trường này lúc mới ra trường. Vì Thầy nghiêm khắc quá mà tụi nầy lếu láo gọi Thầy là GESTAPO. Có một ngày Thầy mời tất cả ban Thủy Lâm khóa V đến dự sinh nhật tại nhà Thầy. Bảy giờ tối chúng tôi đến thì Thầy đã chờ trước sân, với áo veston đen cravate đỏ. Thầy cúi mình hai tay chấp trước bụng đúng bài bản cách chào của người Việt :"Tôi không biết ngọn gió lành nào đã đưa các anh chị đến đây". May Thầy không nghe tôi đi sau cười rúc rích, mấy bạn phía trước đã good evening vang trời rồi. Chẳng biết tra cứu sách văn học nào mà Thầy móc được "câu chào thời thượng" dễ nể !

Chúng tôi ăn bánh sinh nhật uống nước trà và nghe nhạc cổ điển Beethoven. Dòng nhạc tới đoạn nào Thầy dẫn giải tới đó : "đây là lúc xe ngựa xuyên qua rừng, tiếng suối róc rách, chim hót líu lo, mặt trời ban mai, tiếng vó ngựa lóc cóc ... Ðây là qua cánh đồng nông dân gặt hái sột soạt ..." Chồng dĩa nhạc của Thầy thì to như chồng "bánh tráng mè" nên lâu ơi là lâu ! tôi nghe loại nhạc này như vịt nghe sấm chỉ mong được về, còn Thầy thì cứ từ từ dẫn giải tới hơn 9 giờ đêm.

Lúc về Thầy tiễn ra đường bắt tay từng người làm tôi suy nghĩ và cảm động về Thầy đón tiếp chúng tôi như khách quí hay người bạn của Thầy. Cho đến nay khuôn mặt của người Thầy ngoại quốc tôi vẫn nhớ rõ nét. Không biết Thầy còn sống ở Ðức hay đã mất ? Có bao giờ Thầy nhớ về Trường Nông Lâm Mục và đám học trò ồn ào tinh nghịch như quỉ không ?

Rồi hình bóng các Thầy như Thầy Thục luôn áo vét, Thầy Ðằng sơ mi cà vạt đỏ trẻ trung, Thầy Ðiện, Thầy Thân đầu đinh, Các Thầy giám thị Nguyễn Xuân Long, Mai Bách Huyên người Bắc và bao bạn bè khác đưa tôi vào giấc ngủ chập chờn đến lúc trời mờ sáng...

Bây giờ hồi tưởng đêm mưa gió, tôi cô đơn nơi mái trường xưa hơn 20 năm về trước, những cảm xúc nỗi nhớ về các vị Thầy kính yêu, những vui buồn, những câu chuyện về Thầy cùng những mẫu đời của anh em đồng khóa đã vĩnh viễn ra đi hay còn sống nhưng đang tha hương hoặc ở nơi phương trời nào trên quê hương nầy, xin nhận nơi đây tình cảm thương mến của một người bạn đồng khóa V Nông Lâm Mục Bảo Lộc./-

 


TUYỂN TẬP 50 NĂM TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1955-2005

Trang Nhà NLM

Tuyển Tập 50 Năm Kỷ Yếu Hình Ảnh 50 Năm