Tiết Phụ Ngâm

 

 

Nguyên tác Trương Tịch

Lời Trang Chủ: Anh chị NLM lại tiếp tục nghiên cứu thêm các bài thơ Đường tuyệt tác.  Anh Nguyễn Quí Định giới thiệu bài Tiết Phụ Ngâm và tác giă;  Anh Phạm Văn Bân hiệu đính bài dịch Hán Việt của Trần Trọng Kim;  Anh Trần Tuấn KiệtPhí Minh Tâm ra sức dịch thơ noi theo gương các bậc tiền bối. 

 

Anh Dương Quang Thưởng K2 có phổ nhạc bài Tiết Phụ Ngâm và đăng trong Kỷ Yếu Khóa 2 "C̣n Đó Những Qua Đi".

 

Vài dòng về tác giả:

Trương Tịch tự Văn Xương, người đất Tô-Châu, thi gia thời Trung Đường (766-827), đậu Tiến sĩ dưới triều vua Đức Tông, năm 799, được Hàn Dũ tiến cử làm Quốc tử bác sĩ, cuối cùng lên đến chức Quốc tử tư nghiệp.

        Nguyễn Quí Định   

 

Bản Hán Việt

quân tri thiếp hữu phu

tặng thiếp song minh châu

cảm quân triền miên ư

hệ tại hồng la nhu

thiếp gia cao lâu liên uyển khởi

lương nhân chấp kích minh quang lư

tri quân dụng tâm xuất nhật nguyệt

sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử

hoàn quân minh châu song lệ thùy

hận bất tương phùng vị giá th́

 

     

 

Nhân các bạn bàn về bài “tiết phụ ngâm” trong quyển Đường Thi của cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim, tôi giở sách này ra xem, thẩy có vài điểm cần nêu ra như sau:

 

1.Các nét chữ Hán rất mờ; v́ vậy, tôi dùng nhu liệu NJStar để đánh máy ra bản chữ Hán như dưới đây và hoán chuyển thành dạng image cho dễ gửi và đọc.

 

2.Chữ Hán: Chữ Trương Tịch bị in ngược vị trí thành Tịch Trương.  In ngược vị trí là sai v́ Trung quốc viết theo thứ tự: họ, rồi tới tên.

 

3.Câu 3: Tiếng Hán Việt không có âm chiền chỉ có âm triền (quấn quanh, vây bọc).  Có lẽ do Cụ Trần Trọng Kim đọc âm triền theo giọng miền Bắc nên viết là chiền.  Nên sửa lại cho đúng.

 

4.Câu 5: Âm khỉ c̣n đọc là khởi; tôi thích dùng âm khởi hơn.

 

5.Câu 7: Chữ xuất của chữ Hán dịch ra như trong tiếng Việt là hoàn toàn sai.  Nếu cho rằng chữ Hán đúng th́ phải dịch là xuất (xuất phát); c̣n nếu cho rằng chữ Việt đúng th́ phải sửa lại chữ Hán.  Tôi thiển nghĩ rằng: “chữ Hán được viết đúng, chữ Việt chẳng hiểu v́ sao lại dịch ra là như.”

 

6.Câu 8: Chữ “sư” in thiếu dấu nặng.  Sự nghĩa là công việc, nhưng cũng có nghĩa là thờ (tử sự phụ mẫu: con thờ cha mẹ)

 

7.Câu 10: Chữ hận in lộn thành hậu.

 

Nội dung của bài có thể tóm lược như sau:

 

“Người đàn bà đă có chồng rồi nhưng có người thương yêu, tặng cho hai hạt châu.  Bà rất cảm động t́nh yêu được dành cho nhưng chỉ biết giữ t́nh cảm này tại áo lót (ngụ ư giữ kín trong ḷng- hồng: màu đỏ, la: tơ mỏng, may thành áo, nhu: áo lót, yếm).  Nhưng v́ tiết nghĩa với chồng, đă cùng thề sống chết bên nhau nên bà phải tuôn nước mắt (lệ thùy) mà hoàn trả lại hai hạt minh châu; trong luyến tiếc rằng sao không gặp trước khi xuất giá!”

 

Trương Tịch thi vị hóa nết na của một người đàn bà đă có chồng, không thể lấy thêm người chồng thứ hai; giống như việc ông từ chối không nhận lễ vật, không làm tôi cho Lư sư cổ được v́ ông không thể thờ hai chúa (ḷng trung thời xưa).

 

Xin mời các bạn đọc bản đă do tôi mạo muội hiệu đính như dưới đây.

 

Cước chú:

 (1)  nhu: v́ nhu liệu NJStar không cho đúng chữ nhu nên tôi phải lấy hai chữ ghép lại cho thành chữ nhu: bên trái là chữ y (áo) và bên phải, phía trên là chữ vũ (mưa) và phía dưới là chữ nhi (giới tự)

(2) không trích được chữ thệ nên bỏ trống (v́ NJStar không cho!)

Phạm Văn Bân     

 

Tiết Phụ Ngâm
Bản Dịch Ngô Tất Tố

Chàng hay em có chồng rồi,
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.
Vấn vương những mối cảm tình,
Em đeo trong áo lót mình màu sen.
Nhà em vườn ngự kề bên,
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang.
Như gương, vâng biết lòng chàng,
Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa.
Trả ngọc chàng, lệ như mưa,
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.

 

 

Bản Dịch Phạm Liễu

Anh hay em đã sang ngang
Tặng em đôi ngọc sáng choang làm quà
Cảm anh ý hướng đậm đà
Đeo trong yếm thắm tình ta ban đầu
Nhà em vườn ngự bên lầu
Chồng em cầm kích theo hầu đền Quang
Biết anh lòng dạ miên man
Như vầng trăng sáng ánh vàng nhớ nhung
Thờ chồng quyết giữ thủy chung
Thề đồng sinh tử đến cùng mới thôi
Trả anh đôi ngọc sáng ngời
Hai dòng lệ nhỏ nghẹn lời băn khoăn
Giận đời nhiều nỗi cách ngăn
Sau không gặp gỡ từ phen chưa chồng.

 

 

Bản Dịch: Trần Tuấn Kiệt K1

3-3-2003    

Biết rằng thiếp đã có chồng ,

Chàng còn tặng thiếp đôi hòn minh châu.

Trọng tình, nễ ý thâm sâu

Ngọc mang trong yếm đượm màu phấn hương

Nhà ta cách mấy bước đường,

Nhưng phu quân thiếp chầu Vương trong đền

Lòng chàng như ánh trăng lên,

Thiếp tình phu phụ nguyện bền khắc sâu.

Thôi đành hoàn trả ngọc châu

Rưng rưng lệ hận gặp nhau muộn màng!

 

 

Translated by John Turner


On me, a wedded wife - as well you know -
A gift of rarest pearls you did bestow;
Which, grateful for your tenderness,
I pinned upon my crimson dress.
My house is tall and with fine gardens girt;
My good man is a Halberdier at Court.
Granted your love be true to the last breath -
Yet I my marriage vows must keep till death.
Sir, I return to you each precious pearl
Yet would that I had known you as a girl!

 

 

Tiết Phụ Ngâm
Bản Dịch Trần Trọng Kim


Chàng hay thiếp có chồng rồi
Còn đem cho thiếp một đôi ngọc lành.
Cảm lòng quyến luyến không đành
Thiếp đeo vào áo lót mình màu sen
Vườn kia nhà thiếp kề bên,
Lang quân chấp kích trong đền Minh-quang
Biết chàng bụng sáng như gương
Thờ chồng thề quyết đá vàng chẳng sai.
Gạt châu, trả ngọc chàng thôi,
Tiếc không gặp gỡ đương thời còn son.

 

 

Bản Dịch Đông A

Chàng hay em có chồng
Còn tặng đôi ngọc sáng
Cảm tình chàng quyến luyến
Đeo vào yếm lụa hồng
Nhà em có gác bên vườn uyển
Chồng em chấp kích điện Minh Quang
Vẫn biết lòng chàng trong tựa nguyệt
Nhưng thề sống thác quyết cùng chồng
Hai hàng nước mắt đem hoàn ngọc
Hận lúc còn son chẳng gặp chàng.

 

 

Bản Dịch: Phí Minh Tâm K2

9-3-2003       

Anh biết rằng em đă có chồng

Nặng t́nh anh tặng ngọc sáng trong

Cảm kích tấm ḷng anh nghĩ đến

Em đem ngọc cất dưới yếm hồng

Nhà em vườn tược lầu cao vót

Chồng em làm tướng trước bệ rồng

Biết dạ ḷng anh chân thật đấy

Nhưng em phận gái chỉ một ḷng

Cặp hạt minh châu xin hoàn lại

Sao anh chẳng tặng ngày c̣n không. 

 

 

Translated by P. Demiéville

Vous saviez bien que j'avais un mari,
Et vous m'avez donné deux perles lumineuses...
Touchée de l'affection qui s'y exprime,
Je les ai cousues à ma blouse de soie rouge.
La demeure de ma famille, au parc impérial, se dresse altière;
Mon mari tient la hallebarde dans le palais de la Clarté brillante.
Je sais bien que votre dessein est pur comme un rayon venu du ciel;
Mais, au service d'un mari, j'ai juré d'être en la vie et la mort.
Je vous rends les perles brillantes; deux larmes, semblables, les accompagnent.
Pourquoi ne vous ai-je connu quand je n'avais pas encore de mari?

 

 

Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm Kỷ Yếu H́nh Ảnh 50 Năm