PHONG KIỀU DẠ BẠC

 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

Trương Kế

 

Lời Trang Chủ: Trong loạt bài về  Niêm Luật Đường Thi , Anh Trần Tuấn Kiệt K1 có kể lại một sự tích bài Phong Kiều Dạ Bạc và thách thức "xin mời chư vị Thi Bá Thời Nay đưa ra bài dịch chơi cho vui".  Dưới đây là các bản dịch của các Thi Bá NLM và thân hữu và các tham luận rất ly thú: Phí Minh Tâm K2, Trần Tuấn Kiệt K1, Chu Hữu Tín K2, Phan Diên , Nguyễn Quí Định K1, Hoàng Vũ K2, Lê Quang Thưởng K5, kết thúc của Trang Chủ NLM.   Ngoài ra c̣n có một sự tích khác về PKDB và bài thơ của Sư-Đồ Hàn Sơn để bổ túc sự tích Anh Kiệt kể. 

 

 

Ngày 21-2-2003 Anh Trần Tuấn Kiệt viết về bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc như sau:

 

Các anh thân,

 

Tôi có đọc các bài sưu tầm và các bài do anh Bân viết ra đăng trên mạng.  Bái phục, bái phục, công phu cùng kiến thức của anh Bân, nhất là bài viết về kỹ thuật chơi Đường Thi.  Trước, anh Tâm có hỏi tôi về vấn đề này và tôi có viết vài đường nét để trả lời, tuy nhiên hãy còn thiếu sót lắm!  Nay có bài anh Bân viết ra, tôi hy vọng anh Tâm đã "nắm" được vì...đúng thầy.

 

Riêng bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc, tôi được đọc lại mấy bài dịch của các Cụ thâm nho, thật là dịp tốt để nghe lại những áng thơ hay mà từ lâu mình chỉ còn nhớ loáng thoáng, mơ hồ!  Nhân đây, tôi xin kể lại cái giai thoại xuất xứ của bài PKDB mà tôi đã nghe được trong dân gian để chúng ta cùng suy gẩm xem sao:

 

Phong Kiều Dạ Bạc có nghĩa là cây cầu gạch ở bến nước có cây phong mà dạ cầu được sơn trắng.  Cảnh trí ở Hàng Châu (?) bên Tàu nổi tiếng đẹp nhờ có những con sông nhỏ dọc ngang chằng chịch, chốc chốc có chiếc cầu gạch bắt ngang nối phố này với phố kia.  Trong bài thơ 28 chữ trên không có chữ nào nói đến cầu, ngoại trừ cái tựa đề.  Người ta kể rằng, gần một cửa sông lớn có cây phong to và chiếc cầu gạch kia, một chiếc thuyền câu mà ngư phủ là hai ông cháu, một già một trẻ, đang lững lờ buông câu trong cảnh trăng tàn vắng lặng.  Hai ông cháu này, cũng thuộc giới tao nhân mặc khách, nên trước phong cảnh hữu tình, ánh đèn câu mờ tỏ cùng với tiếng quạ kêu sương, cố tìm thi tứ để dệt ra những vần thơ tiêu dao.  Không biết bao lâu thì hai câu đầu được làm ra :

 

                    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

                    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

 

Và chỉ hai câu như thế rồi thì hai ông cháu ngưng lại vì hết ý, tịt ngòi mãi cho đến lúc mỏi mòn theo cơn buồn ngủ chập chờn.  Giửa lúc ấy, trong môt ngôi chùa bên ngoài thành Cô Tô, cách khoảng xa bến sông đó, mà nhà sư trụ trì pháp danh là Hàn Sơn cùng một đệ tử cũng đang có thi hứng và đang làm thơ.  Hai sư đồ này, sau khi làm được hai câu đầu, bị mất hứng tương tự như hoàn cảnh của hai ông cháu ngư ông dưới kia, rồi buồn ngủ đi vào giấc điệp.  Cho đến khoảng canh giờ sau, chú tiểu đệ tử của sư Hàn Sơn bổng choàng dậy và đánh thức sư phụ báo rằng đã tìm được thi tứ cho hai câu cuối của bài thơ.  Thế là hai thầy trò rất đổi vui mừng, duyệt lại bài thơ  và vì quá hoan hỉ nên chú tiểu ta đỗ liền mấy hồi chuông để mừng cho sự thành công, làm xong một bài thơ vừa ý.

 

Cả dân thành  Cô Tô đêm ấy rất đổi ngạc nhiên vì tiếng chuông chùa đỗ liên hồi.  Nhưng một nỗi vui mừng to lớn khác đồng thời lại đến với chiếc thuyền câu dưới bến phong kia. Tiếng chuông chùa Hàn Sơn vang dội nửa đêm đã đánh thức và giúp hai ông cháu ngư phủ lấy lại được ý và hoàn tất bài thơ độc đáo:

 

                      Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

                      Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

CƯỚC  CHÚ  :

  • Có người hiểu lầm là ngôi chùa nằm trong giải núi Hàn Sơn nên gọi là Chùa Hàn Sơn. Thật ra là tên của nhà Sư trụ trì.

  • Rất tiếc là người đời không được truyền cho bài thơ của hai sư đồ nói trên.

  • Nếu có sự thật như vậy, Cụ Trương Kế có bài thơ này trong trường hợp nào?

  • Có ai thấy và giải thích được khoảng gián đoạn giửa bốn câu thơ?

       Rất mong được chỉ giáo!

 

Thân chào, Trần Tuấn Kiệt

 

 

Ngày 27-2-2003 Anh Phí Minh Tâm viết:

 

Thưa quư Anh,

Từ ngày 17-2-2003 đến nay thấy chưa bạn nào thử dịch bài Phong Kiều Dạ Bạc, tôi chép lại đây một vài bản dịch hay: 

 

Trần Trọng Kim dịch:

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây băi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

 

Tản Đà dịch:

Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

 

Ngoài ra tôi cũng đánh liều khai pháo bằng 2 bài TNBC phỏng dịch dưới đây. Cho vui mà thôi, chứ về niêm luật th́ c̣n phải duyệt lại lắm lắm.  Ước mong có sự đáp ứng và và chỉ dẩn thêm.

 

Quạ kêu, sương bủa khắp đêm đông
Thập tḥ nàng nguyệt nép bên song

Đèn thuyền leo lét, bầu thơ cạn
Khuất cầu trắng dạ, bóng cây phong. 
Đêm khuya quá nữa, c̣n thao thức
Xa xa thanh thoát, hồi chuông vọng
Từ chùa Hàn Sơn, Cô Tô bến
Gợi hồn thơ, giúp khách trên sông.

Sương rơi, quạ ới suốt canh thâu

Bóng thố thập tḥ xế băi dâu

Đèn dầu leo lét, sầu thơ cạn

Cội phong đợi gió dưới chân cầu.

Đêm khuya khắc khoải, chưa yên giấc

Chuông chùa dồn dập, đổ v́ đâu?

Từ ngoại thành Cô Tô, vọng lại

Chùa Hàn Sơn, ấp ủ thơ bầu. 


Thân mến, Phí Minh Tâm K2

 

Ngày 27-2-2003 Anh Trần Tuấn Kiệt đáp:

 

Anh Tâm,

Cho tôi chút thì giờ tôi sẽ có ý kiến về hai bài Thất Ngôn Bát Cú anh vừa đưa ra. Ý thì OK, nhưng mà cấu trúc thì cần xem lại, nếu anh thích! Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi, tôi đưa ra cái mẩu mực về kỹ thuật phải như thế này, chữ lẫn ý cũng từ hai bài của anh ra : 

 

Quạ kêu sương bủa suốt đêm đông , 
Nguyệt nép thập thò bên líp song.

Leo lét đèn khuya, thơ đă cạn
Khuất cầu trắng dạ bóng cây phong. 
Đêm tàn quá nữa , còn thao thức
Thanh thoát hồi chuông, tiếng boỏng boong . 
Thành ngoại Cô Tô , ngôi cổ tự, 
Hàn Sơn ru giấc khách trên sông .
 


Anh cứ đọc nhiều lần để nghe âm giọng của bài thơ đúng luật cho quen cái lỗ tai, sau đó anh đọc lại bài của mình làm thì thấy có sự khác biệt ngay ! Tám câu nêu trên còn thiếu sót luật đối.  Thân, TTK

Ngày 28-2-2003 Anh Chu Hữu Tín viết:

 

Có nhận được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc.  Nay tạm dịch:

 

Trăng khuất quạ kêu vang suốt đêm
Lửa thiêng đùa với gió êm đềm
Bên ngoài thành phố Cô Tô đậu
Thuyền khách vẳng nghe chuông Núi rền.

Trăng lặn quạ kêu sương xuống dần
Gió sông lửa cá sầu muôn phần
Chùa Núi ngoài thành Cô Tô lạnh
Nửa đêm chuông đổ đến thuyền nhân

 

Với nỗi niềm riêng như sau:

 

Đêm trắng trên cầu Gió
Trăng vừa khuất bóng dịu dàng,
Quạ kêu văng vẳng nhớ nàng đêm thâu.
Thuyền ai bến đậu cạnh cầu,
Tâm tư uẩn khúc từ lâu đợi chờ.
Viếng chùa lên tận Cô Tô,
Chuông rung thúc giục họa thơ gieo vần.
Riêng ta đứng lặng tần ngần,
Sao cho có đủ đầy vần làm thơ?
Thi nhân nhận tiếng hững hờ,
Khi không t́m đủ ư thơ tao đàn.
Thơ thần ai thấy chẳng ham?

 

Có đúng vậy không?  Tôi: Chu Hữu Tín,  Rạch Giá ngày 28-02-2003

 

Ngày 28-2-2003, Anh Phan Diên viết:

 

Thân Gởi Anh TTKiệt,

PD tui xin góp ư với Anh một chút về bài thơ tuyệt tác nàỵ   Bai PKDB của Trương Kế không ai thích thơ Đường mà không yêu mến bài này. Không chỉ riêng người Á Đông ḿnh say mê mà cả bọn Tây trắng cũng thích lắm đó.  Bằng chứng là cho đến bây giờ ở Tô Châu Trung Quốc, họ vẫn giữ ngôi chùa và cái cầu này để đón du khách Tây Phương.

 

Theo thiễn ư tôi, khi ư thơ dâng trong đầu rồi, chữ cứ thế mà tuôn chảy xuống thành thơ.  Thường th́ không phải bài nào cũng là thơ tuyệt tác. Trương Kế đă làm cả 1000 bài nhưng lưu truyền lại được mấy bài. Ngay đến cả Lư Bạch, Đỗ Phủ hay Tô Đông Pha th́ cũng vậy.  Xem như vậy th́ bài PKDB của TKế chỉ do TKế làm một ḿnh mà thôi.   Tôi không tin là hai ông cháu cùng làm thơ được hai câu rồi hai sư đồ trên chùa cũng cảm hứng làm thêm hai câu sau. Că bốn người ở cách xa nhau như vậy mà lại làm được nên một bài thơ tuyệt tác là chuyện khong tưởng.  Ai đứng đàng xa nh́n ra thấy toàn cảnh và tâm tư của bốn người này mà gom lại thành bài thơ vậy.

 

Đó là thiển ư của riêng cá nhân tôi mà thôi.  Nếu có điều chi không biểu đồng t́nh th́ cũng là lỗi tại tôi...Lỗi tại tôi mọi đàng.... Phan Diên

 

Ngày 28-2-2003, Anh Phí Minh Tâm đáp:

 

Anh Phan Diên,

Có lẻ tôi đồng ý với anh Phan Diên về mặt thực tế.  Tuy nhiên về mặt văn chương, sự tích do Anh Kiệt kể ra làm cho bài thơ thêm phần huyền bí và ý nhị. Theo tôi hiểu, trong sự tích, chỉ có hai ông cháu ngư phủ làm cả bốn câu thơ.   Không phải hai câu đầu của ngư ông và hai câu sau của sư ông.  Sau hai câu đầu bị bí, nhờ tiếng chuông chùa nên ngư ông mới làm xong được bài thơ.  Nếu Trương Kế là ngư ông hoặc người cháu thì câu chuyện rất thật. Tâm

 

 

Ngày 1-3-2003, Anh Trần Tuấn Kiệt đáp: 

 

Anh PDiên thân,

Không biểu đồng tình thì đâu có lỗi gì đâu anh, đó chỉ là một phương cách lý giải một vấn đề mà ở đây, chúng ta đang bàn luận về một khía cạnh nhỏ của văn học . Anh thì biện minh, còn tôi thì đưa ra giả thuyết, trong đó như thêm hoa lá cành và rắc chút hương thơm cho tác-phẩm của Cụ Trương Kế mà thôi. Thật ra, tôi cũng như anh không tin câu chuyện gần như hoang đường ấy vì uy danh và sự nghiệp lưu truyền của các Cụ quá đủ để bảo đảm nguyên ủy của bài thơ, không lôi thôi lếch thếch gì cả! Nhưng mà...anh PDiên à, cái truyền thuyết này do đâu mà có? Chắc chắn là không phải do tôi tự biên tự diễn đâu và nếu có ai đó trong lịch sử đã làm ra câu chuyện này thì "ai đó " quả thật đáng được xếp vào loại nhân tài trong giới văn nghệ thi ca thời ấy.  

 

Không biết Cụ Trương có nghe không, Cụ buồn hay vui? Hay là....theo ý anh PMTâm, Cụ đã nghe chúng ta bàn luận om xòm, Cụ cười toét ra và phán rằng: "Tụi bây, đám hậu bối kia, chính ta và thằng tiểu đồng hay chữ của ta đích thị là hai ông cháu ngư ông kia !" Thế thì c̣n gì bằng?  Bài thơ của cụ càng sống động hơn. Tôi cũng ước mong được như thế để nhẹ nhởm người, phần còn lại là tán dương thần trí thiên tài của Cụ.  Người ta nói trong tranh có thơ và trong thơ có tranh, ở đây Cụ đã làm một lúc hai công việc ấy.  Đặc biệt hơn người khác, bức tranh PKDB của Cụ có không gian 3 chiều : tiếng quạ kêu sương, tiếng chuông chùa thanh thoát...! Tóm lại, tôi nghĩ đây là một sự bình giải văn học bỏ túi, vui tươi, đượm chút thơ mộng. Tôi cũng đã từng thưởng thức những nét họa thần sầu của anh PD trên diễn đàn e-mail này, nên ước ao có một bức tranh thủy mạc nhỏ về phong cảnh PKDB để anh PMTâm đưa lên Web hầu trang điểm thêm cho bài thơ của Cụ Trương Kế.  Sự đòi hỏi có tréo cẳng ngổng không anh ?  Thân TTKiệt.

 

Ngày 1-3-2005, Anh Tâm tiếp:

 

Anh Phan Diên ơi,

Anh Kiệt nhắc thi tôi mới thấy cái bài Phong Kiều Dạ Bạc mà tôi sắp đưa lên Trang Nhà NLM hôm nay nó hơi trơ làm sao ấy vì thiếu một cái gì trang điểm.  Nếu có một tấm hình, hay hơn nữa, một bức họa thì hay biết bao. Tuần này anh lên Trang Nhà NLM xem thì sẽ thấy ngay lời tôi nói.  Tâm

Đây là một bức tranh Anh PDiên gởi

 

Ngày 2-3-2003, Anh Nguyễn Quí Định chuyển hai bài nghiên cứu sau đây:

 

Bài của Nguyễn Trường Lâm

 

Trên đây là bài Phong Kiều Dạ Bạc của thi sĩ Trương Kế đời Đường (thế kỷ thứ 8).  Cuốn "Thơ Đường" của Trần Trọng San có ghi lại có một truyền thuyết khá lãng mạn về bài này. Một đêm trăng, sư cụ trụ trì chùa Hàn San, cảm hứng nghĩ ra hai câu thơ:

 

               Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
               Bán tự ngân câu bán tự cung

 

Thao thức mãi trong phòng mà sư cụ không nghĩ ra hai câu tiếp. Tự nhiên có tiếng gõ cửa. Thì ra là chú tiểu cũng trằn trọc vì 2 câu thơ mình mới nghĩ ra: 

 

               Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn 
               Bán trầm thủy để bán phù không

 

nhưng cũng không làm tiếp được và xin thầy giúp.  Nghe xong, sư cụ mừng quá, quỳ xuống tạ Phật. Vì quả thật 2 câu thơ của chú tiểu ăn khớp với 2 câu của sư cụ, thành bài tứ tuyệt mà Trần Trọng San đã dịch như sau: 

 

              Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ
              Nửa dường móc bạc nửa như cung trời
              Một bình ngọc trắng chia hai
              Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không

 

Làm xong bài thơ này lúc nửa đêm, sư cụ bảo chú tiểu đánh chuông tạ ơn Phật. Tình cờ đêm hôm đó trên thuyền, thi sĩ Trương Kế cũng không ngủ được vì không nghĩ được câu tiếp cho hai câu :"Nguyệt lạc ô đề...". Tự nhiên chuông chùa Hàn San đổ đến, gợi hứng cho thi nhân hoàn tất bài Phong Kiều Dạ Bạc: 

 

               Quạ kêu, trăng lẩn sương trời

               Buồn hiu giấc ngủ lửa chài, bến phong

               Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông

               Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều

                                                          Trần Trọng San dịch

 

Dĩ nhiên là những sự trùng hợp lạ lùng trong truyền thuyết này tương đối khó tin. Học giả Trần Trọng Kim có một quan niệm khác về bài này. Trong cuốn "Đường Thi", cụ viết:

 

"Cô Tô thành là thành Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô, gần Thượng Hải, có một con sông ra đó từ Trường Giang. Trên bờ con sông ấy có cái chùa tên gọi Hàn Sơn Tự, cách Tô Châu độ 10 dặm Tàu, tức là 6,7 cây số. Chùa ấy thấp nhỏ, chẳng có cái gì đặc biệt. Ở cái vườn sau chùa có cái gác chuông và cái chuông. Có lẽ thi nhân đời Đường nghe tiếng chuông đánh ở chỗ ấy. Cảnh vật biến thiên, nay người du lịch đến đây không thấy cây phong đâu cả, vào chùa thì thấy bài thơ này do Khang Hữu Vi đời Thanh mạt viết ra, chữ to ba, bốn tấc, khắc ở trên bia. Bài thơ này hay ở âm điệu, ít khi làm được như thế. Tả tâm tình một người khách xa, đêm nằm một mình trên chiếc thuyền, nghe tiếng chuông chùa xa xa." Sau năm 1946, cụ Trần Trọng Kim đã qua Trung Quốc một thời gian.. Có lẽ cụ đã đi qua chùa Hàn San trên đường đến Thượng Hải, và đã "bực dọc" vì thấy cảnh thật không phù hợp với cảnh trong tưởng tượng. Tuy nhiên cụ vẫn cảm âm điệu bài này mà dịch theo thể lục bát : 

 

               Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi

               Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co

               Con thuyền đậu bến Cô Tô

               Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

 

Cũng phải nói thêm là bài Phong Kiều Dạ Bạc có "thủy" mà không có "sơn". Vùng Tô Châu rất bằng phẳng, nên chùa Hàn San nằm gần bờ sông. Hàn San chỉ là tên vị tăng sáng lập chùa. Thời điểm cụ Trần đến viếng chùa Hàn San là ngay sau thế chiến thứ hai, nên chắc cảnh trí còn rất tiêu điều. Theo lời một người bạn Trung Quốc của tôi, quê quán vùng Thượng Hải, thì nay khuôn viên chùa Hàn San đã được trùng tu lại. Hàng năm đến lúc Giao Thừa, phật tử vùng Tô Châu vẫn tập trung gần chùa Hàn San dể nghe tiếng 
chuông chùa. Hình như vào khoảng 10 thế kỷ trước, một vị tăng Nhật Bản đã đưa chuông chùa Hàn San về Nhật, và chính phủ Nhật mới trao lại chuông này cho Trung Quốc. Nên có thể chuông chùa Hàn San bây giờ chính là chuông đã gợi hứng cho Trương Kế vào khoảng 12 thế kỷ trước. 

 

Nói đến dịch thơ Đường, ta không thể quên Tản Đà. Sau đây là bản dịch của người thi sĩ sông Đà núi Tản: 

 

               Trăng tà tiếng quạ kêu sương

               Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

               Thuyền ai đậu bến Cô Tô

               Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

 

Như thế, tôi vẫn chỉ tìm được 3 bài dịch bài Phong Kiều Dạ Bạc theo thể lục bát. Hy vọng sẽ có người tìm được bản dịch theo thể thất ngôn luật. Để tạm chấm dứt bài này, tôi xin đăng bản dịch tiếng Anh của Witter Bynner (trích từ cuốn Three Hundred Poems of the Tang Dynasty), mặc dù bản dịch này có vài điểm sai (câu 2, và chùa Hàn San không nằm trên "Núi Lạnh") : 

 

           A night mooring near Maple Bridge

          While I watch the moon go down, a crow craws through the frost

          Under the shadows of maple trees a fisherman moves with his torch

          And I hear, from beyond Su Chou, from the temple on Cold Mountain

          Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.

 

Ghi Thêm: 

 

Gần đây hơn, một du khách Việt Nam đã có dịp đến thăm chùa Hàn San và đã ghi lại cảm tưởng như sau (báo Ngày Nay Minnesota, số 137, 28/2/1995) : "...Hàn Sơn không phải là một núi lạnh, mà là tên một vị. sư kiêm thi sĩ trụ trì tại ngôi chùa này, xây từ thế kỷ thứ VII, sau có được tu sửa lại. Tường chùa màu vàng áo cà sa trên nền cây xanh, trông rất đẹp khi đứng nhìn từ trên chiếc cầu vồng, cầu Phong Kiều, tuy rằng hiện nay không còn cây phong nào bên cầu, mà chỉ còn hai hàng cây phong hai bên con đường nhỏ dẫn tới cầu này..."   

 

Bài của Đông A

 

Cách đây ít lâu tôi có được đọc một bài viết về "Phong Kiều dạ bạc", nhưng không còn nhớ chính xác. Theo tác giả bài viết đó, ông ta đến thăm chùa Hàn San và được sư cụ của chùa giải thích về bài thơ này. Và theo như vậy, hai câu thơ đầu phải viết là :

 

               Nguyệt lạc Ô Đề sương mãn thiên

               Giang phong, ngư hỏa đối Sầu Miên

 

có nghĩa là: Trăng lặn sau thôn Ô Đề, sương kín trời Cây phong bên sông, lửa thuyền chài, đối với núi Sầu Miên Ở phía ngoài thành Cô Tô, gần chùa Hàn San, có thôn Ô Đề, và núi Sầu Miên. Chữ Hán đã gây ra không biết bao nhiêu trường hợp nhầm lẫn rắc rối giữa danh từ và danh từ riêng, với dấu chấm, phẩy ngắt câu... Tuy nhiên, tôi vẫn thích "tiếng quạ kêu sương" hơn.

 

                    Cảm tác đêm đông

                    Nào có chuông đâu tỉnh giấc sầu
                    Trời sương tiếng quạ lạnh đêm thâu
                    Mơ mơ trăng lạc Phong Kiều bến
                    Chỉ thấy mây đen phủ kín đầu.

 

 Ngày 2-3-2003, Anh Kiệt viết tiếp:

 

Cám ơn bạn Định đã chuyển  cho anh em tài liệu mới  nhất và chính xác hơn về bài PKDB của cụ Trương Kế,  cái quý nữa là tìm được bài thơ của sư đồ Sư Hàn Sơn. Đọc qua tài liệu này tôi thấy nội dung không khác mấy với ý nghĩa chúng ta đưa ra và bàn luận hổm rày,  khoái nhất là anh PMTâm đã nhất thời đoán đúng y chang lão Ngư Ông kia chính là cụ Trương Kế.  Vậy đề nghị anh Tâm xem lại coi có thể bổ túc thêm bài thơ  và cả bản dịch của hai Sư Đồ Hàn Sơn trên Web không ?  TTKiệt.

 

Ngày 5-3-2003, Anh Hoàng Vũ viết:

 

Tham dự cùng các bạn cho vui, nhưng chưa được chỉnh lắm:

 

Quạ kêu, trăng khuất lẩn mù sương

Sông vắng, rừng phong, tỉnh giấc nồng

Đậu bến Cô Tô buông mái đợi

Nửa đêm chuông đổ vọng Hàn Sơn.

 

 

Ngày 9-3-2003, Anh Lê Quang Thưởng viết:

 

Tôi xin gởi bài phỏng dịch:

 

Trăng tàn nghe tiếng quạ kêu sương

Cổ tự Hàn Sơn vẳng tiếng chuông

Ánh lửa thuyền chài sông lấp lánh

Cô Tô thuyền khách dạ sầu vương

 

 Để kết thúc bài nầy, Trang Chủ Nông Lâm Mục mến tặng quư độc giả bản dịch thất ngôn tứ tuyệt dưới đây:

 

Quạ kêu trăng lặng sương phủ mờ

Đèn chài leo lét rặng phong mơ

Chùa Hàn Sơn chuông khuya vọng lại

Vẳng đến thuyền ai gợi ư thơ.

Ngày 15-5-2003                                 

 

Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm Kỷ Yếu H́nh Ảnh 50 Năm