Hoa Đ́nh Thuyền Tử    

     Phí MinhTâm

 

 

Vài năm trước đây tôi có thấy bài thơ dưới đây (Bài 1) trên một trang web Hoa Văn mà tôi cho là một bài thơ tứ tuyệt.  Các bạn bè trên diễn đàn Việt Kiếm có cho biết bài đó không được xếp vào nhóm thơ mà là một bài kệ của một thiền sư có tên là Hoa Đ́nh Thuyền Tử, sống vào cuối đời nhà Đường.  Hoa Đ́nh Thuyền Tử c̣n được biết đến dưói nhiều tên khác như: Thuyền Tử Ḥa Thượng, Thuyền Tử Đức Thành, Ḥa Thượng Đức Thành... Hoa Đ́nh là bến Hoa Đ́nh ở Tú Châu (nay là huyện Gia Hưng tỉnh Chiết Giang), nơi ngài tùy duyên đưa đ̣.  C̣n Đức Thành là pháp danh của ngài. Ta thường thấy người xuất thế tu luyện để cứu nhân độ thế ở nơi núi cao hay rừng sâu, it thấy các vị nầy ở nơi thị tứ đông đảo người. Lại càng ít thấy thiền sư sống ẩn thân trên sông, v́ thế nên danh phận và công tŕnh của thiền sư ít được sưu tầm và phổ biến. Tài liệu t́m được trên Internet cho biết có 39 bài “Bát Trạo Ca”(Bài ca chuyển mái chèo) của Thuyền Tử Ḥa Thượng được chép trong trong Quyển 2 của Kỳ Duyên Tập do Chùa Pháp Nhẫn ấn hành năm 1322 đời nhà Nguyên.

 

Ba trong 39 bài Bát trạo ca được ghi chép và giải nghĩa trong chương 27 của quyển “Thiền Môn Khai Ngộ Thi Nhị Bách Thủ” của Đỗ Tùng Bách do Nhà Xuất Bản Khoa Học Xă Hội Trung Quốc ấn hành năm 1993 . Quyển sách nầy được dịch ra Việt ngữ với tựa đề mới “Thơ Thiền Đường Tống” do dịch giả Phước Đức và được Nhà Xuất Bản Đồng Nai ở Việt Nam ấn hành năm 2000. 

                                               

Bài 1:

 

Dịch Nghĩa:                                                                Dịch Thơ:

Nhợ câu ngàn thước được thả thẳng xuống                   Ngh́n thước chịt chằng nhợ bủa giăng

Một làn sóng gợn lên  một vạn sóng phát sanh               Một làn sóng gợn vạn lăn tăn

Đêm êm vắng nước lạnh cá không ăn                            Đêm yên nuớc lạnh cá không cắn

Thuyền quay về chở đầy ánh trăng,                              Thuyền chở đầy khoang chở ánh trăng.

 

Bài 2:

                               

 

Dịch Nghĩa:                                                                Dịch Thơ:

Ba mươi năm qua lênh đênh trên biển                            Ba chục năm trên biển nổi trôi

Nước trong thấy cá cá không ăn mồi                             Nước trong cá lội chẳng ăn mồi

Chặt hết cần câu trồng thêm trúc làm cần                       Cần câu chặt sạch trồng thêm trúc

Kể chi công trồng trúc, miễn là được cá.                       Chi kể công lao được cá thôi.

 

Bài 3:

                               

 

Dịch Nghĩa:                                                                Dịch Thơ:

Có một con cá lớn khó đo lường                                   Một con cá lớn khó cân lường

Nó có khả năng chứa nạp thật lạ lùng                            Dung chứa vô biên rất lạ thường

Biến hoá khôn lường sanh gió và sấm sét                       Biến hóa vạn năng sanh băo sấm

Không phải xài cần câu mà câu được.                           Dùng cần câu nó khó vô phương.

 

Chú thích:

1. Trong bài 1, câu 1  ví việc học đạo như câu cá. Câu 2 “Nhất ba tài động vạn ba tùy” thường được nhắc tới trong Thiền đạo. Câu 3 cầu đạo khó khăn vô cùng.  Câu 4 đắc đạo là đạt được hư không. Hoàng Sơn Cốc tự Đ́nh Kiên, một cao thủ làm tư khúc đời Tống ngang hàng với Tô Đông Pha, rất ưa thích bài kệ này.  Đ́nh Kiên có làm một bài theo điệu Tố Trung T́nh xài câu và nhiều cụm từ của bài kệ 2 như sau:

 

Dịch nghĩa:    

Một làn sóng gợn lên một vạn sóng phát sanh

Lăo chài mặc áo tơi cầm cần câu

Cá vảy vàng ở chỗ nước sâu

Ngàn thước cũng phải câu

Nó cắn mồi rồi lại nhả ra

Nó tin rồi lại nghi ngờ

Chầm chậm kéo câu lên

Nước lạnh sông vắng lặng

Núi xanh đầy trước mắt

Chở ánh trăng trở về.

 

2. Trong bài 2, câu 1 chỉ quá tŕnh cầu đạo dài lâu. Câu 2 thấy rơ đạo nhưng chưa thấu triệt được. Câu 3 tâm cầu đạo không lùi dù phải làm những việc trông như mâu thuẫn với thế gian.  Câu 4 không kể công khó nhọc miễn đạt được đạo.

 

3. Trong bài 3, câu 1 chỉ đạo rộng lớn bao trùm.  Câu 2 nói đạo có khả năng dung chứa tất cả vạn vật.  Câu 3 đạo lại c̣n biến hóa vô thường phát sanh ra mọi hiện tượng.  Câu 4 muốn đạt được đạo không dễ dàng.

 

Thân Thế Của Hoa Đ́nh Thuyền Tử

 

Người ta ít biết được thân thế của ngài. Theo Đỗ Tùng Bách, sư là học tṛ của ngài Dược Sơn Duy Nghiễm (751-834), pháp hệ Thanh Nguyên Hành Tư, ít ai biết ngài là một thiền sư.  H́nh như ngài chỉ truyền pháp cho một học tṛ duy nhất là Giáp Sơn.

 

Chuyện rằng: Thiền sư Giáp Sơn Thiện Hội nhờ ngài Đạo Ngô chỉ điểm t́m đến ngài Thuyền Tử để tŕnh kiến giải cầu khai ngộ. Bị ngài Thuyền Tử phê b́nh: “Một câu dù lănh hội được nhưng nếu chấp vào đó th́ giống như cây cọc cột con lừa”. Thuyền Tử dạy Giáp Sơn: “Người cầu đạo giống như ngựi đi câu thả sợi nhợ ngàn thước, lúc con cá thấy mồi mà chưa ăn là thời khắc rất quan trọng ví dụ như người cầu đạo ở nơi cửa ải khẩn yếu ngộ th́ thành Phật, không ngộ th́ táng thân mất mạng, chịu trầm luân măi măi.” Giáp Sơn vừa định mở miệng đáp lời liền bị Thuyền Tử đập cho một chèo té xuống nước. Giáp Sơn lập tức khai ngộ, không c̣n bị rơi vào đám sương mù mê muội.  Mái chèo phá vỡ t́nh thức ư tưởng và lời nói của Giáp Sơn. Có khả năng triệt ngộ tự tánh mới không bị kẹt vào cơ giải của ngôn ngữ “cây cọc cột con lừa” muôn đời muôn kiếp.

 

Câu chuyện về thân thế của Hoa Đ́nh Thuyền Tử được Hoàng Sơn Cốc viết lại trong một từ khúc có tên “Ngư Gia Ngạo” ngụ nói ư thiền:

 

Dịch nghĩa:

Nhớ xưa Dược Sơn sanh một cọp

Thuyền tử Hoa Đ́nh t́m người độ.       

Giáp Sơn giải tán niêm ghế ngồi,

Tŕnh kiến giải,

Trên cọc cột lừa lời khế hợp.

Nhợ câu ngàn thước hăy nh́n xem

Xa mồi ba tấc không đường sống

Một chèo ngậm miệng t́nh con cha,

C̣n ngoái lại,

Lừa mù chôn mất lũ cháu con ta.

Sau khi Giáp Sơn khai ngộ, thầy tṛ thân thiết như cha con. Nh́n lại đoạn đường đă đi qua, Giáp Sơn xiển dương pháp yếu của thầy truyền cho và có thể nói đời đời không dứt mới bảo là “Lừa mù chôn mất lũ cháu con”.

 

Sự tích Hoa Đ́nh Thuyền Tử và Giáp Sơn được Viên Cực Lĩnh Thiền Sư nhắc lại trong bài thơ dưới đây:

 

*Theo Phước Đức dịch giả của quyển Thơ Thiền Đường Tống,  tác giả bài thơ là Viên Cực Sầm Thiền Sư ở chùa Ẩn Tinh, châu Thái B́nh, pháp tự Vân Cư Pháp Như Thiền Sư, đời thứ 16 hệ Nam Nhạc.  Tuy nhiên tôi không t́m được một quy chiếu nào cho thấy có tên Viên Cực Sầm.

 

Dịch nghĩa:                                                                 Dịch thơ:

Chỗ không vết tích đừng ẩn thân                                   Chỗ không dấu vết chớ nương thân

Nh́n thẳng lại trong mắt chính là bụi trần                        Đáy mắt nh́n sâu chính cấu trần

Toàn cơ đập phá vở cọc cột lừa                                    Tự tánh toàn năng phá cọc buộc

Một gậy gỏ vào đầu sản xuất ngọc kỳ lân                      Gỏ đầu một gậy xuất kỳ lân.

 

Chú thích:

Câu 2 ư nói ai cũng có khả năng triệt ngộ tự tánh để không bị kẹt vào cơ giải của ngôn ngữ.

Câu 3 nhắc đến việc Giáp Sơn bị Hoa Đ́nh Thuyền Tử đánh một chèo nên tức khắc giác ngộ, ví như ngọc kỳ lần quư báu.

 

Đọc đến đây tôi và chắc một vài bạn c̣n thắc mắc về lời ngài Thuyền Tử dạy Giáp Sơn và v́ sao bị có một chèo mà Giáp Sơn tức khắc giác ngộ. Có đúng pháp thiền có ngơ tắt giúp người tu tập giác ngộ và  đắc đạo nhanh không?  Ta thường nghe nói chỉ cần khoảnh khắc là giác ngộ được, nếu không th́ không bao giờ giác ngộ. Điều nầy không có ǵ sai trái, nhưng từ lúc sơ ngộ đạt đến trạng thái tâm linh và thời điểm giác ngộ trong khoảnh khắc là một quá tŕnh tu luyện bền chí và lâu dài. Câu 1 của bài 2 “Tam thập niên lai hải thượng du” cho ta một khái niệm về thời gian mà thiền sư cho là cần để cầu học thiền đạo.  Giáp Sơn đă là một thiền sư có đệ tử của riêng ḿnh trước khi xin cầu học với ngài Thuyền Tử. Giáp Sơn đă có một quá tŕnh tu tập. Thế mà khi tŕnh kiến giải Giáp Sơn c̣n bị phê b́nh: “Một câu dù lănh hội được nhưng nếu chấp vào đó th́ giống như cây cọc cột con lừa”.  Quá tŕnh cầu đạo lâu dài đ̣i hỏi nhiều kiên nhẫn nên đưọc ví như đi câu, ví việc thấy được đạo như cá thấy được mồi, ví thấu triệt được đạo như cá ăn mồi, nhưng sao lại nói lúc cá thấy mồi mà chưa ăn là thời khắc rất quan trọng?  Thấy được đạo đă là một thành quả đáng kể.  Thấu triệt đạo là thấy được bản chất vô thường của vạn vật, thấy tự tánh và không c̣n chấp, không c̣n mê, không c̣n nương tựa bám víu vào bất cứ việc ǵ ngay cả đạo pháp để an tâm. Đó là sự khác biệt giữa thấy đạo và thấu triệt đạo,  khác biệt giữa trầm luân và giác ngộ.  Thuyền Tử biết Giáp Sơn đă sẵn sàng tâm thức để tỉnh cơn mê chỉ cần thêm một chút nhắc nhở.  Với chúng ta có lẽ ngài đă dùng cách giáo hóa khác, chứ có đánh đến 100 chèo chắc cũng không ăn thua ǵ!

 

Giác ngộ không phải là một sự hiểu biết của trí khôn con người, do đó không có lời lẽ nào diễn tả được, mà là một lối sống trong đạo đức chân chính.  Đức Thích Ca có dạy con đường 8 nhánh đưa đến giác ngộ tức trở về với Phật tánh mà mọi người ai cũng có khi được sanh ra đời.  Tám điều nầy được phân làm 3 nhóm là giới, định và huệ.  Giới giúp cho ta sống thanh khiết không bị bợn nhơ phủ lấp.  Không bị bợn nhơ che lấp, khi quán chiếu (định) nh́n vào nội tâm ta mới sáng suốt (huệ) thấy được tự tánh.  Con đường nầy ai đọc cũng hiểu và thấy được.  Nhưng chỉ có người hành tŕ theo con đường nầy tức giữ giới và thiền định th́ mới sanh ra trí huệ, mới thấu triệt đạo và giác ngộ. Không thể nói và hiểu mà giác ngộ được v́ thế ngài Thuyền Tử có nói:“Một câu dù lănh hội được nhưng nếu chấp vào đó th́ giống như cây cọc cột con lừa”.

 

Ngày 21-9-2005 lúc 10:40 PM

 

 

 

Trang Nhà NLM

Tuyển Tập 50 Năm

Kỷ Yếu H́nh Ảnh 50 Năm