Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm Kỷ Yếu Hình Ảnh 50 Năm
         
  Công ơn Thầy    

Văn Thúy Hòa

 

"...Thầy là bóng cây che mát chúng con

Thầy là ánh sáng dắt dìu lòng son"

(Bài ca GÐPT)

 

  Cứ mỗi lần dãy bằng lăng trước nhà nở rộ những chùm hoa tim tím đẹp đến nao lòng, là tôi quay quắt nhớ mái trường Quốc Gia Nông Lâm Mục yêu dấu ở tận B'lao xa xôi. Tôi lại mênh mang nhớ đến vườn cà phê với những cành hoa trắng muốt ngát hương, hay đồi trà Bảo Ðại, mây chập cùng buông xuống núi Ðại Bình. Mùa gió chướng trời se lạnh, cây Ðỗ Mai trước ngõ đơm đầy những nụ hoa xanh, nở ra tím nhạt, tôi cũng lại nôn nao nhớ đến mái trường, nơi tôi đã học tập, vui sống hơn ba năm.

 

Nhưng trên tất cả những nỗi nhớ đó, là niềm thương nhớ Thầy Cô, bạn bè mà hơn bốn mươi năm rồi đã in sâu trong tâm hồn tôi không lúc nào quên. Tôi thầm nghĩ  công ơn Thầy như ánh sáng soi rọi đời tôi. Tôi không thể tưởng tượng được đời tôi sẽ khổ sở đến đâu nếu tôi hiện hữu mà không có ánh sáng. Thầy Cô đã dạy dỗ, mở mang trí tuệ và đào tạo cho tôi một nghề cao quí để nuôi thân, giúp ích cho xã hội và gầy dựng cho thế hệ mai sau. Ngồi trong bóng

 hoàng hôn, lần dở những trang nhật ký kỷ niệm thuở học trò, từng gương mặt kính yêu của Thầy Cô hiện về trong hồn tôi như mới ngày hôm qua, tôi được sống trong tình thương yêu và bao dung của Người.

 

1/-Thầy Nguyễn Háo Ca :

Nhớ đến Thầy, tôi luôn nhớ cả hình ảnh Cô bên cạnh. Thầy Cô có vẻ người hết sức phúc hậu. Thầy có giọng giảng bài hiền hòa, chậm rãi, nụ cười đôn hậu. Ðặc biệt có hôm Thầy Cô vào trường thăm chúng tôi, Cô cho phép gọi Thầy Cô bằng "PaPa, Maman", tiếng gọi thật thân thương làm sao ! Có lần thực tập ở Ðà Lạt, Ban Canh Nông chúng tôi được hân hạnh đến viếng nhà Thầy Cô. Thầy đã đánh đàn Piano cho Cô đứng cạnh đó hát, thật đầm ấm và nên thơ, hạnh phúc.

 

Mùa hè năm thứ I, trong lúc dọn dẹp sách báo, tình cờ tôi thấy trong báo "Phụ Nữ Tân Văn" xưa, có tên Thầy : "Ông Bác vật Nguyễn Háo Ca đã góp tiền để cứu trợ..." Lòng tôn kính Thầy Cô trong tôi càng dâng cao hơn.


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

Còn có dịp may, tôi xin quá giang xe Thầy Cô chỗ trà từ Bảo Lộc lên Ðà Lạt (để thăm mẹ tôi dưỡng bệnh). Ðến gần một buông Thượng, Cô xin Thầy ghé để Cô ôm một bọc áo quần, đem cho các gia đình Thượng nghèo khổ, thiếu thốn. Dân trong buông túa ra mừng Cô, cười nói rất vui vẻ, chứng tỏ Cô đã từng đến đây để giúp đỡ, nên họ hết sức quí mến.

 

Năm 1967, tôi làm việc tại Ðà Lạt, nhiều lần đến viếng Thầy Cô, thường thấy Thầy ghép hồng hoặc chăm sóc vườn hoa, trái. Nhà Thầy Cô ở đường Quang Trung, cất theo kiểu dáng Pháp, phòng khách luôn ngập tràn hoa và những chiếc cúp của con và rễ Thầy được tặng thưởng về các môn thể thao và kiếm.

 

Mỗi lần đi chợ, Cô đều cho tiền những người hành khất từ chợ trên xuống chợ dưới và những người ở làng cô nhi quả phụ (trước giải phóng) cũng thường được Cô giúp đỡ.

Nhớ về Thầy Cô, tôi nhớ nhất về lòng nhân ái, đôn hậu và sự trang trọng,  dù ở nhà, Cô luôn luôn mặc áo dài. Ðó hình ảnh đôi chim Câu ấm áp hạnh phúc bên nhau đến đầu bạc răng long.

 Thầy mất sau giải phóng, để lại trong tôi niềm tôn kính người Thầy tận tâm, nhân hậu, chia sớt ấm no cho người khốn cùng. Xin thành kính thắp nén hương lòng để thương tiếc Thầy !

 

2/-Thầy Phạm Như Hy :

Thầy dạy môn "Cây Kỹ nghệ" với sự linh hoạt, tươi vui. Lời Thầy giảng ngắn gọn dễ hiểu. Cô là người Ðức nên các con Thầy rất xinh xắn, duyên dáng của người lai Âu+Á.

Cuối năm học thứ hai, chúng tôi được Thầy hướng dẫn thực tập. Ðặc biệt năm này có nhóm thực tập tại hãng bia BGI của người Pháp tại Sài gòn. Ða số Ban Canh Nông chúng tôi rất thích được thực tập tại đây vì là nơi thực tập mới - ở tại thành phố không đi đâu xa và có hy vọng khi ra trường được làm việc tại đó, có tương lai. Thầy chọn người rất kỹ. Trong số mấy mươi người Ban Canh Nông, mà Thầy chỉ chấm chị Băng Tâm - điều đó dễ hiểu vì chị học giỏi, siêng năng, ý tứ, sẽ thành công trong phòng Hóa học. Người thứ nhì là ... tôi. Có lẽ hơi khó hiểu phải không các bạn ? - vì tôi chỉ học khá chứ không giỏi. Tôi suy đoán có lẽ tôi


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

tuy học không giỏi nhưng chuyên cần, ý tứ và không ngại khó bao giờ. Sau sáu tháng thực tập, về trường chúng tôi muốn khóc vì Cô Kỹ sư ở hãng BGI

không hướng dẫn chi cả, nên chúng tôi chỉ học mót ở các người nhân viên trong phòng Hóa học của Hãng mà thôi. Tôi còn nhớ trong bản phúc trình thực tập, tôi đã viết "chúng con không thành công thì thành nhân vậy !"

 

3/-Thầy Khôi :

Thầy dạy môn Kinh tế Nông thôn. Ðã hơn 40 năm, bài vở học với Thầy, chúng tôi đã trả Thầy gần hết (thành kính xin lỗi Thầy) nhưng hình dáng tươi trẻ và "phong độ" của Thầy, cùng với câu nói của các bạn "Trung kỳ quốc" giọng nằng nặng "Giạo sư Khôi thặt cà vạt hợ cộ thì nộp" (*) (noble tiếng Pháp) [(*) Giáo sư Khôi thắt cà vạt hở cổ thì nốp] như vẫn còn vang vang bên tai tôi. Thật vậy, Thầy là một trong những giáo sư trẻ của Trường, Thầy hay mặc chemise trắng, ngắn tay và thắc cravate hơi hở cổ, trông có vẽ "nghệ sĩ " lắm lắm

4/-Thầy Lê Văn Ký :

Thầy dạy môn Thủy Lâm đại cương

Về Thầy Cô, quý anh chị khóa trước và các bạn đã nói nhiều. Riêng tôi, khi nhớ đến Thầy Cô, tôi nhớ người Thầy hiền hòa, từ tốn, tận tụy dạy đàn học sinh như người cha dạy con. Cô cũng là người vợ hiền của Thầy. Sau hơn bốn mươi năm tôi mới "bộc bạch" đôi lời là năm thứ I, nữ sinh chúng tôi được hân hạnh ở cạnh Thầy Cô ở "Bạch Cung". Phái đoàn Cà Chí chúng tôi gồm : Hiền, Hòa, Chi, Ðào, Xuân Mai. "ăn chưa no lo chưa tới" ban ngày thì đùa giỡn như trẻ con, nhưng ban đêm thì ... ngủ sớm (trẻ con mà lị). Còn các chị lớn như chị Chín, chị Tuyết, chị Nguyệt Ánh là chị cả của chúng tôi. Ban ngày các chị đạo mạo, ăn nói từ tốn, nhưng xin nói nhỏ với quí vị là ban đêm mấy chị thường tâm sự hay nói đùa với nhau cười rung cả giường tầng. Ðôi khi Cô Ký có nhắc nhở, nhưng có lẽ Cô ngỡ là "phái đoàn cà chí  giỡn "... Thưa Cô ... oan lắm ạ".

Ở phòng đầu tiên của giảng đường B, Thầy có thiết kế một chiếc cầu bằng gỗ mà chúng tôi thường gọi đùa là "Cầu sông Kwai" 


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

Ôi chiếc cầu mới xinh xắn làm sao !  Ðã bao lần tôi dán mắt vào cửa kính để nhìn ngắm chiếc cầu duyên dáng đó. Một hôm, ai đã mở cửa phòng mà quên đóng lại. Tôi đi ngang thấy vậy mừng quá - một cơ hội bằng vàng để được "leo" lên cây cầu, đi qua, đi lại, còn miệng thì lẩm nhẩm hát bài "Cầu sông Kwai" rất "phấn khởi". Tôi đâu ngờ là ở một  phòng gần đó, Thầy thấy và trợn tròn mắt sợ hư cầu. Thầy bảo mấy anh khóa IV gọi tôi xuống. Tôi vừa cụt hứng, vừa lấm lét nhìn Thầy rồi "cút thẳng" trong khi Thầy vẫn còn "kêu khổ" và các anh Ban Thủy Lâm khóa IV được một phen cười cho con bé "petit poucet" dám chọc Thầy. Xin Thầy hiểu cho là tính trẻ con nghịch ngợm của con. Cũng may lúc ấy con có tầm vóc rất "khiêm tốn" nên cầu vẫn an toàn. Sau giải phóng, chúng tôi rất vui được gặp lại Thầy Cô. Hiện Thầy Cô rất hạnh phúc với con, cháu đề huề. Cầu xin ơn trên cho Thầy Cô được an vui khỏe mạnh đến trăm tuổi.

 

5/-Thầy Nguyễn Văn Mừng :

Câu "Ðằng sau sự thành đạt của đàng ông, có bóng dáng của người đàn bà" thật đúng với trường hợp của 

Thầy Cô. Trong tâm hồntôi, Thầy Cô luôn ở bên cạnh nhau, với lời giảng bài nhỏ nhẹ, từ tốn. Y phục của Thầy luôn giản đơn. Còn Cô luôn nở nụ cười tươi và đặc biệt ánh mắt Cô sáng long lanh, hiền hòa. Tôi nhớ có lần Thầy dạy về tế bào thực vật nên có đem theo hộp phấn màu để vẽ. Giờ chơi Thầy lên Văn phòng. Ðột nhiên, tính nghịch ngợm nổi lên trong tôi. Tôi vội hốt hết một đống phấn màu, "nhét" vào "cartable" của Thầy. Vào học Thầy bận giảng bài nên không để ý. Tới giờ về, Thầy cất sách vào "cartable" mới phát hiện đống phấn không chân mà chạy vào cặp hết. Thầy có vẽ giận, không cho chúng tôi về hỏi :"Cậu  nào chơi trò này đây ?" vì phải chi Thầy hỏi "Ai chơi trò này" thì tôi còn can đảm nhận tội. Ðàng này Thầy chỉ nghi ngờ "Cậu" mà không nghĩ rằng "Cô" còn có thể nghịch ngợm hơn "Cậu" nữa ! Thầy lại gằng giọng "Cậu nào ?". Cả lớp im lặng đến "ghê sợ". Thầy nhìn khắp lớp rồi buông từng tiếng, tuy chậm rải nhưng không kém phần nghiêm khắc : "Ai làm trò này hãy can đảm nhận đi !"  "Ðược lời như cởi tấc lòng!".  Thầy đã dùng từ "ai" chứ không dùng chữ "cậu" nữa ! Thế là tôi - cô nữ sinh đang

CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

mặc áo dài trắng hẳn hoi - từ từ đứng dậy nói : " Thưa Thầy, con làm !" Cả lớp bật cười cái rần, rồi tiếng cười cứ nối tiếp nhau từ đầu dãy đến cuối lớp. Thầy thật sự bị bất ngờ cũng như các bạn tôi. Thật không thể tưởng tượng nỗi cô bé cà chí mà nghịch hơn con trai ! Nhờ tiếng cười rần dòn tan, nhờ yếu tố bất ngờ và nhất là nhờ lòng bao dung, Thầy cười thật tươi rồi chỉ tay vào tôi mà lắc đầu, trong lúc tôi lí nhí lời xin lỗi Thầy. Sau 40 năm, nghĩ lại tôi cũng "ngán" tính nghịch ngợm của tôi luôn. Năm 1967 tôi làm việc tại "Trung Tâm Rau Hoa" Ðà Lạt, tôi rất vui sướng khi được gặp lại Thầy đang nghiên cứu về phóng xạ nguyên tử trên thực vật của TT Nguyên Tử Lực và Cô dạy ở Nữ Trung học Bùi thị Xuân. Bây giờ xa nửa vòng trái đất, không biết Thầy Cô còn nhớ con bé thích múa hát và nghịch ngợm vô tư này không ? Riêng con khi nghĩ về Thầy Cô, là nghĩ đến một gia đình hạnh phúc có sự hổ trợ và tương kính nhau thật tuyệt vời !

 

6/-Thầy Quan Hữu Kim :

Thầy có dáng vóc và tính tình đặc trưng của người Nam bộ. Lời nói thật chất phác, chân tình, nụ cười hiền hòa. Có một câu nói của

Thầy mà chúng tôi còn ghi trong tâm khảm mãi :  "Canh Nông  c'est un art"  khi Thầy say sưa giảng bài. Kể từ đó, mỗi lần các chị ban Mục súc ban đêm phải đi canh heo đẻ, chúng tôi liền đùa :"Em ơi ! học chi ban Mục Súc, nửa đêm gió bấc lạnh lùng phải rời chăn ấm nệm êm. Các em thấy không, "qua" đi ban Canh Nông sướng như tiên. Sáng bắt bướm hái hoa, chiều ra vườn ăn quả ngon trái ngọt - tối đi ngủ sớm. Các em biết không "Canh Nông  c'est un art" cũng nhân câu nói này, chúng tôi lắm lần trêu nhau là ban này sướng ban kia khổ. Ban Thủy Lâm có hai chị Ngọc Anh và chị Hà, thỉnh thoảng cũng đùa, tự xưng là "quan Kiểm cái" vui đáo để.

 

7/-Cô Nguyễn thị Bình Minh :

Khi được học môn Kinh tế Nông Thôn với cô, tôi rất mừng vì được gặp lại Cô yêu thương hồi học ở Nữ Gia Long. Mỗi lần nhớ về Cô, tôi không thể quên được hai việc quan trọng.

* Cô là một phụ nữ yêu nước, yêu đồng bào nồng nàn. Hồi ở trường Gia Long, Cô dạy chúng tôi về nhạc. Tôi được Cô chọn hát trong ban đồng ca của Cô, biểu diễn trong


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

những ngày lễ phát thưởng trọng đại. Cô đã gởi hết tâm hồn vào những lời ca mà Cô đã dạy cho chúng tôi : "Ngày mai tươi sáng ! quyết lòng tin tưởng tương lai. Ngày mai tươi sáng, ta cười trong ánh vinh quang ... Cuộc đời nhân dân tận hưởng trong tự do ... Ta đấu tranh vì  dân thì gian khổ ta đâu sờn ..." - Vâng ! Cô đã vì lý tưởng mà thật sự dấn thân hy sinh !.

** Ðiều thứ hai tôi nhớ về Cô là cuộc Bãi thi có một không hai của khóa V chúng ta.

Số là vào năm thứ hai. Cô dạy môn Kinh tế Nông thôn. Có lẽ môn này hơi khô khan, nên đa số chúng tôi cũng hơi ngán. Cô có phát biểu là Cô sẽ cho thi môn KTNT sau Tết, dù nhà trường có cho thi trước Tết. Tất cả chúng tôi yên trí như vậy nên chỉ lo học thi những môn khác. Cận ngày nghỉ Tết, Cô lên dạy và cho biết là sẽ cho thi vào ngày hôm sau. Chúng tôi "chết đứng" và lo "sốt vó". Sau giờ học, chúng tôi họp lại cử đại diện để xin Cô giữ lời hứa. Có lẽ vì một lý do gì quan trọng lắm, Cô không nhận lời và khẳng định là hôm sau sẽ thi môn KTNT. Tất cả chúng tôi không ai học bài nào của Cô nên

hết sức lo lắng. Chúng tôi họp bàn và cùng quyết định là đêm đó không ai được học bài của Cô, nếu không sẽ bị xé tập, rồi đồng tâm nhứt trí là trong buổi thi, chúng tôi ghi tên và đề thi xong thì "nộp bài" là giấy trắng, không làm một chữ nào hết. Trước sự việc xảy ra bất ngờ. Cô phản ứng thật nhanh, Cô đến đóng cửa lớp và nói :"Các em ngồi yên, tôi sẽ cho các em thi vấn đáp". Tuy sự việc quá bất ngờ đối với chúng tôi, nhưng khi đã nhất trí, vả lại trong đầu óc chúng tôi không ai nhớ bài, nên lân lượt "em" nào cũng được kêu lên bảng bóc thăm cũng đứng im lặng "chào cờ" 5 phút rồi về chỗ để cho "em" khác lên tiếp diễn màn kịch câm. Riêng tới phiên tôi, tôi còn có "sáng kiến" viết lên bảng "Ði thi mà chẳng làm bài

Vì bài Kinh tế nó dài làm sao !"

Bây giờ nhớ lại, tôi nghĩ chắc Cô cũng buồn học trò cũ "phản" Cô. Ðã nghe nói Cô đã cho điểm chúng tôi từ 1-2-3-4-5 rồi 5-4-3-2-1 chứ không cho điểm 0 để chúng tôi gánh chịu số điểm dưới trung bình này mà không được thi lại. "May" sao qua Tết chúng tôi được tin là không ai bị điểm xấu


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

hoặc thi lại. Có tin Cô bị tạm giữ vì lý do chính trị. Tất cả đều thở phào ! Riêng tôi, nghĩ mình là đứa học trò "phản Thầy" là "đoản hậu" vì Thầy bị tạm giữ mà mừng vì khỏi phải thi lại. Có lẽ chỉ mình tôi cảm thấy niềm tôn kính Cô dâng lên ngập hồn vì nhớ tới những lời ca Cô dạy " Ta đấu tranh vì dân, thì gian khổ ta đâu sờn - đời ta dấn thân hy sinh ...

Cô ơi ! hơn 40 năm không gặp lại, bây giờ Cô ở đâu ? Dù sao, con vẫn cầu chúc và tin rằng Cô đang "Cười trong ánh vinh quang !"

 

8/-Cô Huỳnh thị Phấn :

Cô dạy nữ sinh chúng tôi môn sinh hoạt gia đình, nhớ đến Cô tôi liên tưởng đến người Mẹ. Cô thật dịu dàng, nhỏ nhẹ, mà sao cô khéo tay thế ! Cô nấu ăn 

ngon, làm bánh khéo và thêu cũng rất đẹp. Thuở ấy tôi hơi băn khoăn là tuy Cô cười song rèm mi rất đẹp của Cô thoáng buồn. Hồi ở trường, tôi không được hân hạnh gặp con của Cô, mà chỉ thấy Cô sống với chị Út và xót xa vì sự cô đơn của Cô. Tôi rất thích môn học của Cô dạy nên cũng thương mến luôn người dạy môn này. May mắn cho tôi vào năm thứ hai trong những giờ làm thêm,

tôi được làm trong phòng Sinh hoạt gia đình của Cô. Cô chỉ bảo tôi sắp đặt lại cho thứ tự tủ đựng các nguyên liệu, dán nhãn các lọ, keo đựng đường đậu, các loại bột v.v...

Tôi vốn khéo tay (mèo khen mèo dài đuôi) nên những việc này rất thích hợp với tôi. Rồi Cô lại đọc cho tôi ghi chép cẩn thận cách làm tất cả các loại bánh. Nhìn Cô, tôi nhớ Má tôi lắm, nên tôi thương Cô thật lòng. Tôi cũng sung sướng cảm nhận được Cô cũng thương tôi. Trong khi nữ sinh học làm bánh trong phòng ấm áp, thì  các nam sinh học cơ khí, vừa ở ngoài trời lạnh lẽo, tay chân quần áo lấm lem dầu nhớt. Lúc các anh về, đi ngang phòng học, thấy chúng tôi đang thưởng thức thành quả học tập của mình : khi thì cơm gà, khi thì bánh bông lan, chou crème, xu xoa Các anh thầm "tủi thân tủi dậu" lắm.

Hiện giờ các con Cô ở nước ngoài, có rước Cô đi du lịch và báo hiếu cho Cô, con mừng cho Cô hết vất vả, con thành tâm cầu chúc Cô an vui khỏe mạnh.


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

9/-Thầy Nguyễn Phẩm Phúc :

Nhắc đến Thầy, chúng tôi nghĩ ngay đến người Thầy vui tính và "ga lăng", với những bài toán Thủy Nông khó khăn, nữ sinh chúng tôi "thua" nên thường sắp xếp đặt chỗ ngồi để "cọp dê" cho có "hệ thống". Hôm đó, thi Thủy Nông tại Ðại Giảng đường. Bài toán "răng mà khó rứa" . Ðề thi đã viết xong mà đám nữ sinh chúng tôi ngồi cắn bút, chỉ có bên nam sinh linh động hơn. Cả giờ sau, bên nữ sinh mới bắt đầu "hoạt động". Phái đoàn cà chí chúng tôi tuy nhỏ con, nhưng khá lanh lợi, đã "chép" được phần nào kha khá. Chỉ có chị Phỉ Cúc là hơi chậm. Thầy đi vòng vòng coi thí sinh làm bài. Thầy dừng lại ở chỗ chị Phỉ Cúc (Chắc Thầy ngạc nhiên vì giấy thi của chị hãy

còn "trinh bạch") Thầy trở về bàn giáo sư, rồi như an toàn về cô học sinh này, Thầy lại trở xuống nhìn, Chắc Thầy nghĩ "Giời ạ, sao cô ấy chưa làm được câu nào !" Thầy băn khoăn đừng nhìn, rồi lại đi vòng vòng qua chỗ khác, nhưng mắt vẫn đăm đăm lo lắng nhìn chị Phỉ Cúc. Còn phần chị, tuy cúi mặt xuống nhưng cũng len lén nhìn Thầy, thấy Thầy quan tâm hơi nhiều đến chị, 

nên chị e ngại không dám "thả cọp" Thầy nôn nóng đưa tay xem đồng hồ. Chỉ còn nửa giờ thôi, mà cô ấy vẫn chưa có chữ nào. Thầy thở dài, về chỗ ngồi. Chỉ còn chừng 15 phút nữa ! Thầy xăm xăm bước xuống dãy ghế nữ sinh ngồi, Thầy thấy giấy thi của chị Phỉ Cúc vẫn chưa có chữ nào. Xem đồng hồ tay lần nữa rồi Thầy nói to gần như hét "Giời ơi ! chỉ còn 15 phút mà cô chưa viết chữ nào à ?" Rồi Thầy chỉ vào bài của anh bạn bên cạnh rồi nói to "đây này, chép đi ! chép nhanh lên !" Chị Phỉ Cúc hoảng hồn, ngỡ Thầy biết "ý đồ" của mình nên "mỉa mai" thế. Chị không giám nhìn lên. Không ngờ Thầy rối rít đập tay lên trang giấy thi của anh bạn cạnh chị rồi nói to "Giời ơi  ! đây này ! chép đi ! chép cho nhanh lên ! còn 15 phút nữa thôi !"

 Chừng đó chị Phỉ Cúc mới hoàn hồn rồi chép lấy chép để trong tiếng cười cố nén cả lớp. Ðoạn kết chuyện này là tôi nghe một anh nói với một chị "mai mốt tui không cho bà chép nữa đâu ! Mấy bà "khôn" quá, tui làm bài đôi khi có gạch xóa trong giấy nên thấy dơ, được 19 điểm, trong khi mấy "bà" chép lại "sạch boong" nên được 20 điểm !


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

Nhớ Thầy Phúc, tôi muốn thêm một chữ ở cạnh đó là ..."Phúc Hậu" và nhớ biết bao một kỷ niệm vui của thời học trò.

 

10/-Thầy Trương Ðình Phú dạy môn Thổ Nhưỡng :

Tuổi trẻ vô tư, thích nô đùa, hiếu động nên chúng tôi rất khổ tâm khi phải học những giờ Thổ Nhưỡng đất đá khô cằn do Thầy dạy (xin Thầy nếu có đọc những dòng chữ này, hãy tha thứ cho những tâm hồn non dại 40 năm về trước).

Thầy là người miền Trung nên giọng nói rất "nặng", đã vậy Thầy còn có giọng rất trầm hết sức đặc biệt, đã làm cho chúng tôi đa số là "Nam kỳ cục" nghe rất khó hiểu. Thêm vào đó, Thầy dạy vào buổi trưa (khoảng 13g30 - 15g30) ôi ! cái giờ buồn ngủ đặc biệt. Ðã vậy, Thầy dạy về đất đá khô khan. Tất cả 3 yếu tố : môn học, giọng nói, thời gian, thật bất lợi cho môn học này. Thường thì sau mỗi nửa giờ ghi ghi chép chép theo "phản xạ" (vì hai mí mắt đã "jour" nhau) ở cuối lớp nổi giọng nói "cứu tinh" . "Thưa Thầy ! chị Băng Tâm muốn nói". Các bạn vẫn còn nhớ chị Băng Tâm vừa đẹp vừa

hiền, lại học giỏi nên Thầy có phần "cưng" chị lắm. "Bắt mạch" được điều này, các anh thường lợi dụng điều đó để có dăm phút thư giản cho đỡ buồn ngủ. Cả Thầy và trò đều thấy vui tươi thoải mái. Lúc ấy cả khóa lập tức "tỉnh ngủ" để chuẩn bị ... cười. Thầy cười thật tươi hỏi. "Cô Băng Tâm muộn nọi gì ?". Phía cuối lớp vang lên "Thưa Thầy, chị Băng Tâm nói Thầy mặc bộ veste đẹp quá !" cả lớp cười "cái rần" !

-"À, bộ veste này  đặc biệt lặm đọ ! Cả nước Việt Nam này chỉ có 2 bộ, Tộng thộng (lúc ấy là ông Ngô Ðình Diệm) một bộ, tôi một bộ thôi". Cả lớp lại thêm một trận cười nghiêng ngã. Toàn là những câu đặc điều để chọc phá Thầy, rồi các anh lại gán cho chị Băng Tâm, trong lúc chị mắc cỡ ngồi cố thu người lại và chống tay lên ghế bàn che mặt đang đỏ lên như gấc,  nhưng cũng không nén được những nụ cười "xiêu hồn lạc vía" các đấng nam nhi, trong đó có cả ... Thầy Phú ? Và có một điều đặc biệt nữa là sau mỗi trận cười thỏa thích, cả lớp đang im lặng chờ một câu "tếu" tiếp theo thì bỗng nghiên có một tiếng cười "hi ! hi" lẻ loi nổi lên ngay sau lưng tôi. Cả lớp lại được dịp


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

cười nôn cả ruột. Xin thưa, đó là giọng cười "đặc sản" của anh Ðặng Ðức Long.

Sau khi tốt nghiệp, tôi được "may mắn" làm việc dưới quyền Thầy (thầy làm Chánh sự vụ Sở Thổ Nhưỡng - Nha Khảo Cứu). Sau một tháng ở tại Nha tôi được về Thí điểm Phân Bón Bải Sàu Ba Xuyên (Sóc Trăng). Trước khi

đi, tôi vào chào Thầy, nhận sự vụ lệnh và việc làm cụ thể. Thầy giao nhiệm vụ cho tôi phải thành lập và điều hành mười thí điểm phân bón ở 10 quận huyện khác nhau, cộng với một thí điểm vĩnh viễn ở Bải Sàu gồm cả trăm công thức phân bón. Thú thật, vào thời kỳ chiến tranh, tôi, đứa con gái bé nhỏ phải xa gia đình, đến một nơi xứ lạ quê người đã là một sự can đảm vì lòng yêu nghề, nhưng với trọng trách trên vai, mười thí điểm ở mười chỗ khác nhau ở nơi mình chưa hề đặt chân đến, với bao công việc phải lo từ A đến Z, kể cả phải ứng tiền bạc từ đắp bờ đến gieo, cấy, gặt. Tôi có hơi sợ làm không tròn nên đã nhỏ nhẹ thưa để Thầy thông cảm, bớt vài thí đểm để khi tôi "quen nước quen cái" thì sẽ làm đủ.

Ðã chẳng thông cảm, Thầy lại nổi giận và "gia hình" cho tôi phải 

làm gấp đôi, tức là 20 thí điểm ở hai mươi chỗ khác nhau - mà mỗi chỗ là mấy mươi công thức phân bón phải thực hiện thật chính xác. Tôi vội chào Thầy, bước nhanh ra hiên để ... "khóc mếu" một mình, kẻo Thầy mắc công vỗ ... bàn, la mắng. Chắc sáng nay, trước khi đi làm Thầy đã bị Cô "ăn hiếp", nên vào Sở Thầy đã "giận cá chém thớt" (đó là điều nhân viên Nha Khảo Cứu hay kháo nhau khi thấy Thầy đi làm mà ... mắt đỏ ngầu).

"Ở hiền gặp lành", tôi đang "khóc mếu" lặng lẽ thì ông Chủ sự Phạm Hữu Anh đi ngang, hỏi cớ sự tôi bèn "bộc bạch" sự việc vừa rồi. Ông cười hiền từ an ủi và trấn an tôi là "Cô chỉ lập 5 thí điểm Phân bón - ngoài thí điểm Phân bón vĩnh viễn ở Bải Sàu mà thôi. . Như sắp chết đuối mà vớ được phao, tôi đổi miệng méo xệch thành nụ cười "tươi rói", cám ơn ông rối rít và cáo từ ông. Về Sóc Trăng, tôi được cấp một xe Jeep cũ từ đời ... Pháp thuộc, một bác tài xế hiền hậu, chuyên cần. Theo bác thì các bác tài xế rất sợ đi công tác với Thầy, vì rất sợ lòng yêu nghề của Thầy. Thường Thầy đi công tác đến những chỗ "chó ăn đá gà ăn muối"


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

vắng vẻ hoặc "khỉ ho cò gáy" Thầy lặn lội lo làm việc quên đường về và giờ giấc. Ðã 1, 2 giờ chiều các bác tài đói "muốn xỉu" vì quanh đó không có hàng quán nào cả mà chỉ là "đồng không mông quạnh". Thế mà Thầy ngồi giữa "đồng vắng nắng cháy", bốc đất rồi "phun phèo phèo", tay vò vò để "nghiệm" độ dẻo của đất, thành phần cát, sét, mùn gì gì đó. Tới chừng Thầy sực nhớ đến bác Tài thì Bác đã ngủ cho "đỡ đói". Thức dậy Bác phải phụ bưng xách bao nhiêu là bao nylon đựng ... "đất cát" chớ không có gì "nhá" được cả. Chiều tối bác Tài chở Thầy đi ăn cơm và đến quán giải khát để ngồi tới khuya, uống ... xá xị, nước ngọt, ngắm nghía người đẹp trong các quán bar rồi ... cười "mím chi" rất có duyên rất thoát tục ...tới khuya.

Ðến bây giờ mỗi lần nhớ đến Thầy, tôi hết sức thán phục lòng yêu nghề của Thầy - dẫu sao, tôi vẫn còn "nhợ" nào là "đạ granịt, pọzolịque" do Thầy dạy.

 

11/-Thầy Huỳnh Ngọc Quang dạy môn Vật lý Hóa học :

Chúng ta hãy dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ Người Thầy đã quá cố ở tuổi còn khá trẻ. Thầy có dáng người nhỏ nhắn gọn gàng. Ðặc biệt tôi nhớ Thầy có hàng mi rất dày và dài, đen nhánh. Tôi nghe nói về tướng số, người có cặp mắt như vậy hay bị "lụy vì tình" không biết có đúng không. Trong sáu tháng thực tập, hai tháng đầu tôi được Thầy hướng dẫn thực hành trong phòng Hóa Học. Thầy rất tận tâm và khá nghiêm khắc. Trong mùa nghĩ hè - trường vắng vẻ và đìu hiu. Gần như chiều thứ bảy nào thầy cũng họp mặt với các Anh phụ giáo (anh Hoàng Xuân Bé, Anh Thiệp, anh Ngôn - Riêng anh Ðiệp chắc trực ở nơi khác ...) để nói chuyện vui và ... uống bia.

Khi tốt nghiệp xong, trong thời gian chờ tuyển dụng quá lâu, tôi có xin làm tạm tại trường thân yêu trước là để học thêm kinh nghiệm ở quí Thầy, sau là để giải tỏa tâm hồn đang chán nản vì nghề "nhà báo".

Thoạt đầu, tôi được làm ở vườn Canh Nông dưới sự chỉ dạy tận tình của Thầy Thục và anh Ðỉnh.


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

 Hằng ngày Thầy dạy tôi chăm sóc cho vườn rau trong nhà kiến có trồng dưa Tây "melon" mà Thầy rất quí. Kế đó là làm "phụ giáo" cho anh Ðiệp về các giờ thực hành Thực vật. Sau đó là "phụ tá" cho Thầy Quang trong phòng Hóa Học - Lúc đó - ban giám hiệu cho tôi ở một căn trong dãy nhà phụ giáo. Có một buổi chiều, tôi đang ngồi trước cửa, nhìn mông lung để nhớ cha mẹ, chị em và ...người yêu thì thoáng thấy bóng Thầy từ đầu ngõ đang "chân nam đá chân chiêu" đi vào ngõ nhà phụ giáo. Tự nhiên tôi sợ đến hốt hoảng chạy vào nhà, nhè nhẹ đóng cửa lại. Thầy thấy và khi đi ngang qua phòng tôi, Thầy cười và nói "Cô Hòa hé ! Cô thấy tôi mà cô đóng cửa lại hé !" Tôi đứng im thin thít và dần lấy lại bình tĩnh rồi cảm thấy mình hành động thật vô lễ với Thầy. Tôi ân hận mãi.

Có một lần tôi xin quá giang xe Thầy về Sài gòn để theo dõi đơn xin việc làm. Sáng sớm chúa nhật hai anh phụ giáo kè hai bên để đặt Thầy vào chiếc xe du lịch xinh xắn của Thầy. Say thế mà Thầy lái xe tỉnh bơ về Sài gòn không gây bất cứ tại nạn nào suốt thời gian Thầy lái xe, trên đường từ Bảo Lộc  về  Sài gòn, xe ghé vào 

Ðịnh Quán Thầy đãi tôi bửa cơm trưa rất ngon, còn riêng Thầy lại thêm một chai bia, mỗi "miếng và cơm" của Thầy phải có một trái ớt hiểm để "đưa cay".

Một hôm, Thầy có một thí nghiệm đang làm dở mà đến giờ dạy khóa VIII, nên Thầy chỉ cho tôi đun hệ thống bình ballon, ống réfrigérant và một erlenmayer để hứng, Thầy dặn là : khi nào thấy hỗn hợp trong baloon sôi thì tắt lửa cho Thầy hay liền không chậm trễ. Tôi đã thực hiện y như vậy. Nhưng rủi thay, tôi không ngờ lúc ấy Thầy đang "bố" khóa VIII rất dữ. Thế là tôi bị vướng vào tình thế "quít làm cam chịu", bị bố hết sức vô lý. Buồn tình, tủi thân, tôi về làm đơn xin nghỉ việc. Ðến đây tôi xin trân trọng tưởng nhớ đến Thầy Quan Hữu Kim với tấm lòng bao dung thương học trò của Thầy. Thầy đọc đơn và an ủi tôi, Thầy vui cười cho tôi nghỉ một tuần cho bớt căng thẳng rồi đi làm lại. Nhưng rất tiếc là ngay hôm sau tôi được điện tín của chị tôi báo tin Mẹ tôi đau nặng đang nằm ở bệnh viện Grall mà không ai chăm sóc vì bận đi học và đi làm cả.

Tôi lặng lẽ giã từ Trường yêu để về săn sóc Mẹ tôi trong những ngày đau yếu, kế đến


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

tôi được bổ nhiệm ... Rồi dòng đời cuốn tôi vào mắc xích của guồng máy, tôi đã thiếu sót những lời giã từ, cảm tạ quí Thầy đã yêu thương, bão bọc tôi, nên mãi tới bây giờ tôi vẫn còn ân hận và tự trách mình quá tệ. Thưa quí Thầy, con là đứa học sinh quá tệ, nhưng không bạc, bằng cớ là mãi tới bây giờ sau hơn bốn mươi năm ra trường, con vẫn nhớ đến công ơn Thầy Cô, với tất cả lòng yêu thương tôn kính công ơn trời biển của quí Thầy Cô.

 

12/-Thầy Bùi Huy Thục - dạy môn Cây ăn trái :

Nhớ đến Thầy, tôi ngậm ngùi thương tiếc một người cha dịu dàng, lời giảng bài dễ hiểu, Thầy đúc kết bao nhiêu là kinh nghiệm của một đời giảng dạy, trồng trọt thí nghiệm tìm tòi từ phòng hóa học đến nhà kiến, hầm nấm âm dưới đất để trồng nấm Tây (champignon de Paris) di thực vật (giống Melon từ bên Pháp đem về) và biết bao công trình nghiên cứu, trồng trọt quí giá khác mà tôi không được diễm phúc biết đến.

Thầy giảng bài thật súc tích, đôi khi pha chút dí dỏm vui tươi nên học với Thầy rất thú vị. Tuy Thầy cao tuổi nhưng Thầy có nụ cười hiền hòa và duyên dáng.

 

Tôi còn nhớ một lần, toán chúng tôi đang thực hành ở vườn Canh Nông, trời bỗng đổ mưa to. Chúng tôi vội chạy về vì không ai có đem áo mưa theo. Bỗng nghe Thầy gọi : "các chị hãy lên xe của tôi đi (Thầy vẫn gọi nam sinh là anh và nữ sinh là chị)

Bọn nữ sinh chúng tôi "mừng quýnh", chạy ào vào xe Thầy, lòng cảm thấy hết sức hân hạnh, gió mưa lạnh mà chúng tôi thật ấm tình Thầy trò.

Lại có một hôm, Thầy dạy về cây gòn. Bông gòn không thấm nước và 1 kí gòn có thể chịu được sức nặng 10 kí nổi trên mặt nước mà không chìm. Lúc đó Thầy nhìn tôi cười rồi bảo : "như chị Hòa thì chỉ cần 3 kg gòn là chị nổi trên mặt nước thôi" (vì lúc đó tôi rất ốm yếu)

Và làm sao tôi quên được tình thương của Thầy ban cho tôi trong câu chuyện kể sau : Một bữa nọ Thầy dẫn toán chúng tôi thực hành tại vườn cam. Thầy cho phép chúng tôi hái cam ăn tự do với điều kiện là hãy nhớ vị cam chua ngọt thế nào, để ba tháng sau khi bón vôi, cam biến đổi tốt không. Chao ơi ! một cơ hội bằng vàng của tôi, vì tính tôi rất thích leo trèo từ nhỏ. "Ðược lời như  cỡi tấc lòng" tôi "thót" lên cây nhanh như sóc, 


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

trong khi các bạn gái gần như ít ai dám leo. Tôi tha hồ hái cam "quăng" xuống máy chiếc nón lật ngữa của các chị. Hết trái chín ở cây này, tôi chớp nhoáng chuyền qua cây khác, vừa hái vừa reo hò chí chóe kêu gọi các bạn hứng cam, đã vậy tôi cũng tranh thủ lột ăn những quả cam chín nhất. Tuy cam có trái cũng chua, nhưng tôi vẫn thấy ngon ơi là ngon và "đã khát" lắm vì nảy giờ tôi reo hò khô cả cổ họng. Khi hái trái thỏa thích, tôi ngồi nghỉ mệt trên cành cây và phóng tầm mắt xuống vườn cam. Tôi Thầy đang chỉ tôi mà cười, chắc Thầy thấy tôi quá "lí lắc" và chắc có họ hàng gì với "Tề Thiên" đây. Ngày vui chóng qua, mới đó mà đã 3 tháng. Thầy định cho chúng tôi đi "nếm" cam lai xem có ngọt hơn không. Nhưng khi  biết tôi thừa cơ hội lễ Pâques nghỉ thêm vài hôm ở quê nhà, Thầy hoãn cuộc "nếm cam thử" vì Thầy bảo "chờ chị Hòa lên hãy đi" Tôi sung sướng nghĩ thầm, chắc Thầy thương tính trẻ con vô tư nhưng đầy nhiệt huyết, mỗi lần Thầy bảo cuốc đất, xén cành là tôi xung phong làm ngay chứ không phải đợi mang găng tay và khi bắt tay vào làm việc gì cũng rất hăng say, ý tứ và cả bền chí nữa, mãi đến bây giờ tôi vẫn còn thích cái tính "hơi bị tốt" ấy của tôi. - (Nói tới đây, tôi nhìn lại phía sau xem có phải ... cái đuôi tôi dài thêm không)

Bây giờ đã hai thứ tóc trên đầu mà tôi cảm thấy chưa được ăn sầu riêng ở đâu ngon bằng ở trường QGNLM Blao. Như tôi có nói là khoảng thời gian tôi về Trường để làm "phụ phụ giáo". Có vài lần, tôi được Thầy gọi vào và trao cho một quả sầu riêng tròn vo xinh xắn chừng 1kg5 mà Thầy "ca na cắp nắp" xách từ nhà lên Văn phòng (lúc đó Thầy làm giám đốc, cây sầu riêng ở sau nhà Thầy). Có rất nhiều yếu tố biến trái sầu riêng đó thánh trái sầu riêng ngon tuyệt vời nhất trong đời tôi : thứ nhất lúc đó đang "đói khổ" - thứ nhì trái sầu riêng ấy vỏ mỏng đều trái không lép, múi lớn, cơm dày, hạt nhỏ, nhưng trên tất cả những yếu tố đó là vị thơm ngọt của tình Thầy trò. Có đôi lúc Thầy gặp các anh phụ giáo xin, nhưng Thầy nói "để cho chị Văn Thúy Hòa".

Vâng, tôi không dấu các bạn là tôi rất tự hào vì được Thầy cưng như đứa con út trong nhà và cũng nhờ tình thương bao la đó của Thầy mà tôi đã cố gắng học để sau này trở thành người chăm chỉ, cố gắng trong nghề nghiệp và nhất là cho đến giờ, nhìn đâu cũng nhớ lời Thầy giảng dạy, từ cây ăn trái đến mây trời, tôi nhớ giọng Thầy giảng bài : nào là mây cirrus, cirro cumulus  còn bây giờ đôi mắt tôi hơi mờ vì mang mây nimbus đem lại những đám mưa - mưa nước mắt.


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

Thương nhớ về người Thầy kính yêu, con cầu nguyện cho linh hồn Thầy mãi an vui trên những án mây cirrus có dáng như tơ trời trắng muốt, bay cao trên bầu trời xanh thẳm. 

 

13/-Thầy Vũ Ngọc Tân : Hiệu trưởng, dạy môn Mục súc đại cương:

Ðã có nhiều anh chị viết về Thầy kính yêu, nhưng mỗi người nhớ về Thầy ở những kỷ niệm khác nhau. Riêng tôi mỗi khi nhớ về Thầy, tự nhiên lòng tôi chùng xuống, thương Thầy cô đơn trong cảnh gà trống nuôi con. Có lẽ vì nỗi  buồn này mà Thầy ít cười.

Tôi vẫn nhớ có một lần tôi được Thầy gọi lên phòng Hiệu trưởng. Tôi hết sức lo âu, không biết mình có làm gì phạm lỗi, phạm nội qui kỷ luật gì không ? Khi bước vào phòng, tôi đã thấy có một vị linh mục đang nói chuyện với Thầy. Tôi kính cẩn chào. Thầy cười tươi và bảo tôi ngồi. Như trút được tảng đá nặng đang đè trên ngực vì tôi nghĩ rằng Thầy cười thì chắc "chuyện lành" nhất là nụ cười vốn dĩ rất hiếm đối với Thầy. Thầy cho tôi biết là cha xứ Nguyễn Ngọc Lan hiệu trưởng trường tư thục Cộng Hòa đã có xem tôi "thoát y vũ" ý quên, "độc vũ" trong đêm văn nghệ của trường QGNLM của chúng ta.

 Cha hiệu trưởng muốn mời tôi giúp cha dạy ca vũ cho các em nữ sinh của trường trung học vì đang thiếu giáo sư của bộ môn này. Tôi ngại ngùng trả lời cha là sợ tôi không kham nỗi trọng trách này, vì tôi chỉ yêu văn nghệ và thích múa hát chứ chưa qua trường lớp nào về nhạc, vũ cả. Thầy Tân và cha Lan cười, trấn an tôi, đi đến thỏa thuận là : tôi sẽ phụ trách dạy vũ vào những giờ rỗi rảnh của tôi và lương bằng với giờ dạy Toán. Dọc đường về Bạch Cung tôi thấy lòng vui phơi phới vì được vui ca với các em, phát triển khả năng mình yêu thích lại có tiền bồi dưỡng và nhất là ... được nhìn thấy Thầy cười, nụ cười thật hiếm hoi; thấy Thầy như trẻ ra. Ôi ! ước gì Thầy của chúng ta tìm lại được hạnh phúc nơi cỏi vĩnh hằng !

 

14/-Thầy + Cô Lê Minh Tâm (Thầy Log và ... Colog)Cô là người Pháp nên phụ trách dạy Pháp Văn cho chúng tôi. Cô thật "mignonne" và hiền dịu. Vì ngôn ngữ bất đồng nên Cô đã hết sức cố gắng dạy chúng tôi. Chúng tôi vì thương Cô nên cũng rất cố gắng chuyên cần học tập. Sau khi ra trường, tôi không được gặp lại Cô, cho đến khi nhận được bản tin NLM của anh chị khóa IV, tôi rất đau buồn vì biết Cô đã mãn phần vì tai nạn giao thông.


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

Xin nói nhỏ các bạn nghe là tôi rất dốt toán, nhất là những thứ : nào là Sin-Cosin-Log-Colog. Vì vậy mỗi lần tới giờ Thầy dạy, thì hình như hồn vía của tôi bay lơ lửng để nhìn lại "xác phàm" của tôi "hơi bị run". Nhưng rất may thời gian học với Thầy tôi không bị điểm "âm" quí báu mà Thầy đã từng "ban cho" học trò quá dốt toán sau khi Thầy gọi lên bảng để "quay đến xì khói"

Sở dĩ tôi đậu được vào Trường QGNLM quí yêu là nhờ thi tuyển không có thi môn toán và tôi qua được các kỳ thi lục cá nguyệt là nhờ "phước đức Ông bà để lại" cho tôi ,,, cặp mắt " nhìn xa trông rộng".

Vì dở môn Toán nên dĩ nhiên là tôi rất sợ Thầy, nhất là sợ Thầy gọi lên bảng, nếu không biết, đứng "chào cờ". Ðến bây giờ, 60 tuổi đầu bạc rồi mà tôi thỉnh thoảng vẫn còn những giấc mơ hãi hùng : thấy mình đi thi Toán của Thầy mà đầu óc trống rỗng, thức dậy thấy ớn xương sống và mồ hôi vã đầy trán, đến lúc tĩnh lại biết mình chỉ nằm mơ, thì vội dậy ... thắp nhang để "hú ba hồn chín vía về ăn cơm với cá". 

Khi tôi nhận được bản tin Bảo Lộc của anh chị ở hải ngoại gởi về, thấy hình Thầy đang nhảy với Cô trong bộ trang phục "Cowboy" và nụ cười tươi roi rói, Thầy còn "phong độ" lắm. Con cầu chúc Thầy giữ mãi nụ cười tươi vui hạnh phúc ấy.

15/-Thầy Vương Ðình Xâm : dạy môn Thủy Lâm đại cương :

Thầy có dáng người thấp đậm, đặc biệt đôi mắt Thầy hơi sâu và sáng long lanh, nụ cười luôn nở trên môi. Giọng giảng bài của Thầy thật duyên dáng, hấp dẫn nên học giờ Thủy lâm đại cương của Thầy rất hào hứng. Thỉnh thoảng Thầy "pha trò" hoặc diễn tả những cử chỉ của các con thú trong giờ Thú lạp rất "tếu" làm chúng tôi cười nghiêng ngã và nhờ vậy mà bài học của Thầy ghi vào bộ nhớ của chúng tôi rất dễ dàng và sâu đậm. Thầy nói chuyện hay xưng "qua" như người  nam bộ xưa. Lòng tận tụy  của Thầy làm chúng tôi rất cảm động. Thầy là một trong những vị giáo sư vui tính nhất của chúng tôi. Năm 1998 lúc Thầy được 98 tuổi, Thầy bỏ chúng ta về miền cực lạc.

Nhớ Thầy tôi vẫn còn nghe văng vẳng Thầy ngâm thơ :

"Hồn Tổ quốc ngự nơi rừng sâu thẳm

Rừng điêu tàn là Tổ quốc suy vong"

Từ lúc ra trường tôi như con chim sổ lồng, bay xa. Rồi đi làm trong thời chiến, lập gia đình, bận bịu chồng con, rất tiếc là trong ngần ấy năm, tôi không có dịp thăm viếng quí Thầy Cô, kể cả một tấm thiệp chúc Tết cũng không có, mặc dù trong tâm hồn tôi lúc nào cũng đầy ắp hình


CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

bóng Thầy Cô và cố gắng nhớ lời Thầy Cô dạy, để áp dụng vào nghề nghiệp của mình, nhất là noi gương tận tụy, yêu nghề của quí Thầy Cô.

Kỷ niệm vô giá thời học trò cứ bàng bạc trong trí  nhớ, cứ ray rứt trong tâm hồn, để bật tiếng hát "Nông Lâm Mục hành khúc" khi ru con và khi nhớ Thầy, tôi ngậm ngùi hát :

"Thầy là bóng cây che mát chúng con

Thầy là ánh sáng dắt dìu lòng son ..."

Thầy Cô ơi, chúng con ghi nhớ mãi công ơn và hình bóng Thầy Cô.

                                                                        Trà Vinh ngày 20/11/2001

   Viết xong ngày "kỷ niệm nhà giáo"

                      Văn Thúy Hòa

 

 

Thân tặng tác giả

 

CÒN TRONG TRÍ TƯỞNG, TUYỂN TẬP KHÓA V TRƯỜNG QUỐC GIA NÔNG LÂM MỤC BLAO 1959-1962

 
Trang Nhà NLM Tuyển Tập 50 Năm Kỷ Yếu Hình Ảnh 50 Năm