Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay

 

KHẮC GHI NHỮNG BÓNG H̀NH

Nguyễn Thiệu Dy

 

Nghĩ măi, nghĩ măi... nhưng đành chịu, không thể nào nhớ được: Bản tin bộ Canh Nông tuyển sinh viên vào học khóa 2, Nông Lâm Mục Blao đă đến với tôi như thế nào? Do ai truyền lại? Chỉ nhớ tôi đă vui mừng bỏ học lớp 12 Chu văn An Saigon, cấp tốc đi chuyến tàu đêm về Nha Trang để xin phép cha mẹ. Những ngày sóng gió- Gia đ́nh phản đối kịch liệt. Cha tôi c̣n nặng óc phong kiến trọng sĩ khinh nông, nên đă giận giỗi bảo: "Thật nhà vô phước- Cha mẹ đủ sức lo cho ăn học đến nơi đến chốn lại gặp đứa con không muốn làm kỹ sư, bác sỹ lại muốn đi cày." Thế nhưng ai hiểu được tâm tư của tôi từ thuở ấu thơ đă luôn ấp ủ thầm kín trong tim, trong óc, một nỗi niềm, một ân hận, một ước mơ trở thành thầy thuốc giỏi chữa bệnh cho gia cầm, những sinh vật nhỏ bé mà thân thương, mà gần gũi với con người. Một kỷ niệm, một nỗi đau, một niềm tiếc thương vô vàn đă in đậm vào tuổi thơ của tôi.

Năm ấy khoảng 8, 9 tuổi, chiến tranh ly loạn, đau thương chết chóc. Theo chân đoàn người di tản, gia đ́nh tôi trôi dạt về tận quê ngoại ở Hải Lăng Phong Điền. Làng ngoại bé nhỏ có cái tên thật an b́nh, thơ mộng: làng An Thơ nằm bên bờ sông Ô Lâu mà những khi chiều xuống cả ḍng sông cuồn cuộn lấp lánh ánh vàng. H́nh ảnh ḍng sông này đă gây ấn tượng mạnh mẽ trong thâm tâm tôi và lớn lên đă lấy bút hiệu: Hoàng Giang. Tôi vẫn chưa đi vào ư chính v́ sao yêu thích ngành Thú Y chăn nuôi từ nhỏ. Năm ấy vào dịp Tết, cảm thương số phận di cư, nên bà con thân thuộc trong làng ưu ái tặng gia đ́nh tôi thật nhiều quà Tết và chúng tôi được nhiều tiền ĺ x́. Tôi không mua kẹo bánh mà lấy giữ nâng niu gần 1 đồng Đông Dương. Mùng 3 Tết theo mẹ đi chợ đầu năm ở tận Diên Sanh gần Quảng Trị. Tôi nhờ mẹ chọn mua một con gà mái tơ thật đẹp. Lông vàng mướt, đuôi dài lê thê có màu đen như đuôi phụng. 

NguyễnThiệu Dy hiền ḥa, dễ mến, đa căm và rất chiù quư bạn

 

Từ ấy tôi chăm sóc nâng niu đặt tên Kim Phụng. Rồi những quả trứng vàng đầu tiên nhỏ xíu xinh xinh lần lượt xây tròn trong ổ rơm. Một buổi sáng vừa tỉnh giấc tôi chợt nghe nhiều tiếng chiêm chiếp thật nhỏ, nghe thoảng như trong mơ, vui mừng khi thấy những chú gà con lông tơ óng vàng như kén tằm. Những năm ly loạn, củi quế gạo châu, tôi phải nhịn ăn bớt lại nắm cơm dành cho mẹ con Kim Phụng. Rồi tai ương xuống cả làng bị bịnh dịch gà. Ngoài bến sông đã thấy nhiều bà mang cả thúng gà chết ra vặt lông làm thịt. Chợ đã bày bán nhiều gà thịt thâm tím. Mẹ con Kim Phụng cũng không thoát khỏi. Tôi khóc thật nhiều, không cho làm thịt. Trịnh trọng đem chôn ở góc vườn dưới mấy bụi hoa huệ trắng. Từ ấy tôi nung nấu một ý chí phải chi mình biết chữa bệnh, biết loại thuốc gì có thể cứu gà khỏi chết dịch. Lớn lên ý tuởng ấy mỗi ngày một hình thành rõ rệt. Để rồi một buổi sáng, tôi mang giấy bút chen chân trường Lê văn Duyệt Saigon dự thi vào Nông Lâm Mục. Hơi thất vọng khi chỉ trúng tuyển dự khuyết nhưng sau đó cũng được gọi lên dự học. Buổi sáng đón xe đi Blao thật vui, mừng khi gặp lại bạn Nghiệp. Chỉ nhớ còn có bạn Tốn, bạn Khiêm. Một bước ngoặt của cuộc đời. Mai sau dù thế nào cũng mãn nguyện, vì con đường mình đã tự chọn và quyết tâm. Lên xe tôi ngồì gần một mệnh phụ thật trẻ, thật đẹp ăn mặc sang trọng quí phái. Tôi đã ngỡ ngàng thích thú gần như choáng ngợp khi xe đến đèo Chuối. Cả một thung lũng tràn ngập hàng nghìn hàng vạn cây chuối lá non xanh tươi đan kẽ vào nhau, phất phơ như lọng như cờ che rạp cả góc trời. Đẹp biết bao hình ảnh thân thương quê ngoại. 

 

Cây chuối đã gắn liền với cuộc sống gia đình tôi ở miền quê đói nghèo ly loạn. Không thương sao được khi hình ảnh của mẹ tôi ngồi suốt buổi xắt chuối. Những bẹ xanh già bên ngoài xắt cho heo. Phần lõi non trắng chính giữa dành cho người. Gia đình tôi đã từng ăn trừ bữa mỗi người một bát chuối non nấu với mắm ruốc và ớt bột thơm lừng bốc khói. Những trưa hè oi ả tôi thường cắt những tàu lá chuối non còn cuốn cờ, mở ra màu xanh phơn phớt nõn nà như lụa Hà Đông. Áp má vào có cảm giác thật êm thật mát. Nằm gọn trong đống rơm, đắp tàu chuối lên mặt thiu thiu lắng nghe trong nhà mẹ ru em nhỏ, những câu hát thật buồn với hình tượng cây chuối: "Mẹ già như chuối bà Hương, như cơm nếp mật như đường mía lau". Mẹ già như chuối chín cây - Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi." Đèo chuối lùi dần về phía chân dốc và tôi ước mơ sẽ trở lại nơi này một ngày nào đó. Lúc xe dừng trước cổng trường có tấm biển lớn đề: Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao, tôi thật ngỡ ngàng hồi hộp và vui thích. Càng ngạc nhiên hơn khi mệnh phụ ngồi bên cạnh cũng cùng xuống xe. Bà nhìn chúng tôi và bảo: "Các em đi thẳng vào khi đến nhà sàn đầu tiên bên trái thì kêu người nhà ra xách hành lý cho bà kỹ sư Ký." Tôi chột dạ nghĩ thầm hóa ra là giáo sư của mình. Sau khi ghé nhà bà Kỹ Sư, chúng tôi đưa nhau đến dẫy nhà sàn đồ sộ dành cho khóa II. Các bạn đến trước từ khi khai giảng, nhao nhao, chào đón, thăm hỏi,xách hộ hành lý, hướng dẫn tận tình. Bên trong căn nhà giường kê san sát. Tất cả 50 sinh viên đều ở chung. Tôi chọn giường cạnh bạn Nghiệp, gần bên có bạn Tốn - Khiêm - Xuân Trung.

 

Cuộc sống mới bắt đầu -Ba năm còn trước mặt. Rồi đây- trường lớp- nhà ăn, nhà ngủ. Sân chơi - thầy cô - bạn bè- tất cả những gì thuộc Blao sẽ khắc ghi đậm nét theo tôi như hành trang của cuộc đời, mãi mãi không nhạt phai, không quên lãng. Trước mặt tôi là một vùng hoang dã tràn ngập cây xanh. Từ cổng trường vào hai hàng cây cổ thụ cao vút. Rải rác đó đây vài bụi cỏ, dăm bụi cây, lấm tấm hoa dại đủ màu đủ sắc. Có nơi hoa vàng rơi rụng ngập cả lối đi khiến con đường được mang tên Hoàng Hoa Lộ. Nhiều nhất là những luống hoa Kim Châm, lá xanh non dài như lá lan, hoa nở hình hoa kèn năm cánh đậm màu cà rốt. Tôi đã ngồi ở bực cấp phòng ngủ để ngắm hàng giờ không chán. Buổi sáng sương muối xuống dày đặc nhè nhẹ, vương vương như phấn rắc, xòe bàn tay có cảm giác như hứng được sương rơi rụng. Khí trời man mát, nóng dần khi mặt trời lên cao cũng như lành lạnh khi màn đêm buông xuống. Đẹp nhất những buổi chiều có lẽ không nơi nào có được như Blao. Nắng không đậm sắc, chói chang vướng đầy bụi bặm, vẩn đục như nắng Saigon. Không nặng nề oi ả chứa đầy muối mặn biển khơi như nắng Nha Trang. Không gay gắt rát bỏng, khô sông, cạn hơi, úa lá vàng cây như nắng Quảng Trị mỗi khi ngọn gió Nam từ Lào thổi về. Ở đây nắng dịu dàng, trong suốt có màu vàng chanh phơn phớt, nhạt nhòa trên cành cây ngọn cỏ. Mây ở đây như trắng hơn, nhẹ hơn, lãng đãng bay bay trên nền xanh bích ngọc. Khi mặt trời lặn hẳn xuống triền núi, xa xa về phía chân mây, đỏ rực bừng bừng ngọn lửa ngả dần sang màu hồng nhạt rồi tím thẫm hoàng hôn. Màn đêm dần buông, sương lại rơi dày đặc thế nhưng trên tầng cao vẫn lấp lánh ngàn sao và những đêm rằm trăng vẫn treo cao, vằng vặc tỏa sáng như ngọn đèn trời. Còn một thứ ánh sáng thật lạ, khó quên trong đêm đen khi anh sinh viên dân tộc Y Tăng Phóc đưa tôi đi dạo chơi ven rừng. Anh đã chỉ cho tôi xem những gốc cây khô mục hay những khúc xương gia súc vương vãi lâu ngày trong đất phát ra ngọn lửa lân tinh xanh lè, sáng ngời, ma quái, chập chờn theo đàn đom đóm lập ḷe thoắt hiện thoắt mất. Trong đêm đen đôi mắt Y Tăng Phóc cũng ngời sáng như mắt beo rừng hơn cả ngọn đèn pin. Màu sắc này gợi nhớ ngày xưa mỗi lần về quê ngoại, khi chuyến đ̣ dọc vượt Phá Tam Giang mênh mông nước trời lồng lộng. Nh́n theo mái chèo quẫy mạnh ḍng nước mặn chung quanh nhấp nhô ngọn sóng lân tinh như muôn ngh́n con rắn bạc. Ngoài những màu đặc trưng Blao c̣n một loạt âm thanh lạ lẫm mà người dân thành phố không bao giờ nghe thấy. Đó là tiếng chim, tiếng vượn. Âm thanh thay đổi tùy theo sáng chiều. Buổi sáng tiếng chim ríu ra ríu rít nghe như vui mừng chào đón cùng bay ra sưởi nắng, bắt mồi. Trái lại buổi chiều thì khắc khoải dập dồn như vội vàng thất thanh, sợ hãi, hoảng loạn tìm nhau cùng về tổ ấm. Bình minh vừa ló dạng, sinh viên vừa thức giấc đã nghe từng đàn vượn kêu kéo dài thánh thót vui tươi vang dội núi rừng. Lúc trầm đục khàn khàn lúc thanh thanh cao vút như gió lùa kẽ lá, như suối đổ thác tràn. Thế nhưng khi hoàng hôn buông xuống lại trở thành tiếng hú thê lương ai oán, dằng dặc thảng thốt đớn đau khiến ta chạnh lòng nghĩ đến cảnh vợ xa chồng, con lạc cha mẹ, tuyệt vọng gọi nhau trong cảnh bom rơi đạn lạc.

 

Xung quanh trường là những đồi chè xanh bạt ngàn thoai thoải từ thấp lên cao hàng hàng lớp lớp trông xa như cổ loa thành uốùn vòng trôn ốc. Phố xá như cheo leo hai bên bờ dốc. Chợ nghèo rải rác, sườn đồi cỏ mọc, dăm túp lều tranh, đôi ba quán gió. Toàn cảnh trông như bức tranh thủy mạc vẽ cảnh phố chợ miền núi SaPa Bắc Việt. Nơi đây đáng nhớ có hàng phở Bắc Hải, hiệu sách báo của bạn Tuyền, chùa Phật giáo. Trong trường phải kể đến những vườn ươm thực nghiệm. Vườn chè đang đâm chồi trổ lá, nơi đây chúng ta được nghe kể chuyện khỉ thắt quả bồng buổi sáng được cho ăn thuốc phiện hăng hái trèo lên núi cao hái trà thật nhiều để chiều về lại được ban thưởng nàng tiên nâu. Hoặc chuyện trảm mã trà, giết ngựa lấy trà trong bao tử. Rồi đến những vườn cam quả nặng trĩu cành, vườn quít chín vàng sai trái. Mê nhất là vườn hướng dương (SunFlower). Hoa to như chiếc đĩa xòe bốn cánh. Mỗi bông hoa là một mặt trời chói hang rực lửa. Khắp vườn hàng nghìn hàng vạn bông hoa chen lá cũng là hàng nghìn hàng vạn mặt trời chen mây. Nhắc đến vườn cam tôi lại nhớ đến những đêm phập phồng đứng ngồi không yên chờ đợi bạn Tú, bạn Sáng, và anh Tài đang đi náo loạn vườn cam với những túi vải lớn. Tôi vừa vui vừa dạo vừa trông. Tâm trạng của kẻ đợi chờ người thân đang làm chuyện phi pháp. Không phản đối vì tất cả đều là bạn thân cùng phòng, hơn nữa chỉ để đùa nghịch vui chơi không nghiêm trọng nhưng vẫn sợ ban giám đốc kiểm tra phòng. Thở phào nhẹ nhõm khi các bạn trở về hả hê cười rúc rích với những túi cam đầy. Công phu hồi hộp như vậy nhưng ăn chẳng bao nhiêu. Mấy hôm sau lén lút mang cam đi đổ. Vườn hướng dương cũng ghi lại trong tôi một kỷ niệm. Một người bạn không biết trong chúng ta những ai còn nhớ: Bạn Tuấn, tóc thi nhân, cao bồng bềnh, mắt đăm chiêu sâu thẳm, giọng miền Bắc trầm trầm thật ấm. Bạn vào trường chậm nhất, là sinh viên dự thính và cũng ra trường sớm hơn chúng ta. Hôm ấy tôi bị ốm vắng mặt giờ thực hành của thầy Phú. Nằm nhà một mình thật đơn côi, thật buồn. Bỗng bạn Tuấn cũng trốn học về trước, tay cầm đóa hướng dương thật lớn. Bạn trìu mến bảo: "Ở nhà một mình buồn lắm phải không? Tuấn mang đến tận giường một mặt trời để sưởi ấm đấy." Tôi thật cảm xúc nhưng cử chỉ này lại gây cho tôi vô cùng phiền phức, áy náy không yên. Mang vứt đi thì phụ lòng bạn, để lại đầu giường sợ giám thị Long kết tội phá hoại vườn ương. Hơn nữa hoa đẹp thế nhưng phảng phất mùi hăng hắc khó chịu nhất là đối với người ốm. Còn có một vườn thực nghiệm ở tận ven rừng, nơi có ngôi nhà sàn của mẹ con chị Sáu nấu bếp. Chị không có chồng, sống với cô gái khoảng 9, 10 tuổi chi mát giây và sinh thêm một con nhỏ. Nơi đây có một dòng suối nhỏ lượn qua. Nước xanh trong suốt như pha lê, lạnh buốt như băng tuyết. Cá tung tăng bơi lội hàng đàn, vảy lấp lánh sáng bạc. Ở nơi hoang dã hình như chúng không biết đến sự chết chóc do con người gây ra. Chỉ cần ngâm bàn tay xuống nước là chúng xúm lại uốn lượn, rúc rỉa trong tay mình, tỉnh bơ không sợ hãi. Với hai bàn tay bụm lại tôi đã bắt được nhiều cá nhỏ mang về phòng nuôi trong lọ thủy tinh. Ôi đẹp biết bao trường xưa cảnh cũ.

 

Những ngày đầu 1956-1957 lớp học khóa II đơn sơ chỉ một nhà sàn, thấp vài bực cấp. Vách là những thân cây còn nguyên vỏ bọc, xẻ dọc ghép lại. Mái tôle ban ngày tỏa nhiệt, ban đêm phát hàn, Thỉnh thoảng có thể nghe sương rơi nhè nhẹ trên mái. Buổi chiều ngồi học có thể nhìn qua khung cửa sổ, bầu trời lãng đãng mây bay. Giờ học hết, khung cửa sổ lại là nơi đón gió núi hắt hiu thổi về lồng lộng. Đậm nét trong tôi, hình ảnh những buổi chiều học nhạc chỉ có tôi và bạn Tốn trong căn nhà vắng lặng. Tôi thường liên tưởng đến túp lều cỏ hoang sơ biệt lập giữa rừng sâu, chim đậu trên mái, sóc chạy ven thềm của Robinson. Sau này lớp được chuyển đến căn nhà gạch, cửa lộng kính, ghế liền bàn cá nhân riêng biệt. Tiện nghi hiện đại nhưng tim tôi vẫn dành trọn cho căn nhà gỗ đơn sơ mà xinh đẹp. Phòng ngủ năm đầu tiên là nửa căn nhà ngăn vách với phòng ăn. Cao khoảng bốn bậc cấp, sơn màu xám. Năm mươi giường san sát cạnh nhau chỉ chừa một lối đi nhỏ hẹp. Một số bạn có giường trên bục cao có lẽ lúc trước dự trù làm sân khấu. Ban đêm các bạn chỉ cần bước xuống là có dịp đánh thức cả phòng. Sàn gỗ lộp cộp khua vang theo bước chân đi. Chật chội không sao quét dọn được nên không khí ngập tràn bụi bặm. Sống chen chúc chung đụng nên môi trường rất thích hợp cho sự lây nhiễm truyền bệnh cảm cúm. Có lúc sinh viên phát bệnh hàng loạt khiến cho chúng ta hoang mang lo sợ, ban đêm kéo đến nhà Giám Đốc Báu cương quyết đòi dọn sang nhà mới. Kết quả thắng lợi nhưng hôm sau chịu phạt chép bài, cuốc cỏ. Nhà mới có phòng riêng biệt dành cho 4 người xanh lục, xanh dương, hồng, vàng, trắng, mỗi phòng có màu vôi quét tường khác nhau. Phòng nào cũng có vách toàn cửa kính có thể nhìn ra ngoài rừng cây. Phòng 4 chúng tôi cạnh song cửa có một cây xoài cao sai trái. Tôi vẫn thích gọi quả muỗm theo tiếng bạn Doanh. Hai chúng tôi vẫn thường nhặt quả xanh rơi rụng ăn với muối ớt. Đêm đêm có thể lên sân thượng đón gió, ngắm trăng. Đặc biệt hàng đêm khi toàn nhà điện tắt bắt buộc, có bạn tinh nghịch dùng xô sắt, ca nhôm đập vào nhau chan chát thật đinh tai nhức óc. Có lúc lại đứng ngay trước cửa mỗi phòng, đọc to chuyện thầm kín lứa đôi không mấy thanh lịch dù cho ai không muốn nghe cũng không được. Đúng là nhất quỉ nhì ma thứ ba sinh viên Nông Lâm Mục.

 

Phòng ăn chung cho cả hai khóa. Bàn gỗ kê hàng dài, mỗi mâm 4 người thường là cùng phòng. Đến sớm có thể xem bích báo dán trên tường. Tôi đóng góp 3 tiểu thuyết dài bằng tranh mầu: tình sử Mạc Tuyết Lan. Xóm nhỏ dân chài. Hận tình Mỹ Nhân Ngư. Cơm nóng sốt, thức ăn ngon được thay đổi mỗi ngày. Sinh viên cũng có dự phần vào việc nấu ăn. Luân phiên mỗi sáng một sinh viên theo mấy người nhà bếp ra chợ mua thức ăn và về xuống bếp kiểm tra chế biến ghi vào sổ trực. Khoái nhất là được ra phố dong chơi trong khi các bạn phải học. Suốt ngày được rảnh rang ngồi xem truyện hoặc viết thư thoải mái. Lúc ấy thật vô tư không biết phân biệt lợi ích của phiên trực. Sau này ra đời mới thấy trách nhiệm của người trực theo dõi kiểm tra việc mua bán của nhân viên nhà bếp với người bán hàng ngoài chợ vô cùng quan trọng. 

 

Lòng yêu kính và tri ân đối với các thầy cũng chiếm phần không nhỏ trong tâm khảm tôi. Thầy Báu, thầy Tân, thầy Phú, thầy Điện, thầy Mừng, thầy Thục, thầy Tâm. Riêng thầy Thân mãi mãi ghi trọng thâm ân. Ngày các bạn nhận sự vụ lệnh bổ nhiệm nơi này nơi khác riêng mình tôi bị Bộ bác đơn xin việc với tội danh kích động sinh viên bãi khóa. Gặp tôi ở Nha Học Vụ đang buồn khổ tuyệt vọng, Thầy đã hết lòng an ủi, mua vé xe cùng tôi trở lại trường, năn nỉ Bác sĩ Tân lúc này là Giám Đốc, xác nhận tôi bị kết tội oan. Thầy đích thân về Bộ nộp lại đơn xin việc kèm dấu xác nhận của BS Tân. Nhờ vậy gần 1 năm sau tôi mới được trở lại đúng ngành đúng nghề đã học.

 

Thầy Báu dạy Pháp văn. Luôn tươi cười với dáng vẻ nhân từ rộng lượng bao dung nhưng lại vô cùng nghiêm khắc và khi trách phạt thì cứng rắn thẳng tay không chút động lòng.

 

Thầy Ký dáng cao mảnh khảnh, nuớc da luôn xanh tái. Nghe nói thầy đi rừng nhiều nên nhiễm chứng sốt rét kinh niên. Vợ thầy là thiếu phụ trẻ đẹp mà tôi gặp trên xe. Suốt buổi thầy luôn tằng hắng sau mỗi câu giảng. Thầy thực sự hiền vui, thương mếân học trò. Thích nhất là những giờ thực hành Thủy lâm cùng thầy băng rừng nghe giảng giải, nhận xét cách tìm từng loại cây: Sao, vàng tâm, lim, xẹt, chò chỉ và cây cỏ hạ tầng. Mãi mãi nhớ thầy với câu: "Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong." Buổi đầu tiên thầy đưa sinh viên vào rừng thực tập nhiều bạn rất sợ hãi.

 

   Đi rừng với Thầy Kư

 

Được các anh khóa I thông báo trước nên mọi người đều nai nịt kỹ càng như chiến sĩ ngày xưa xuất trận. Áo tay dài, cài khuy cổ, khuy tay. Đeo găng mang ủng phòng chống lũ vắt rừng khát máu. Chúng ẩn nấp trong lùm cây bụi cỏ có lóng lánh giọt sương mai hoặc trong thảm lá thu vàng của Lưu trọng Lư dài khắp lối đi. Ngửi thấy hơi người là lúc nhúc bò ra. Leo lên thành ủng chui vào chân, vào cổ găng tay, vào kẽ hở khuy áo. Các bạn luôn tay phủi lia lịa. Các cô la hét bắt giùm,sợ đến phát khóc. Riêng tôi vẫn thản nhiên vì vắt ở đây so với vắt ở Truông mây, rú lồ ô ngoài Quảng Trị thì chẳng thấm vào đâu. Vắt Blao đen thui nhỏ xíu như cọng tăm. Lúc bò thân gập, duỗi như sâu đo. Vắt Quảng trị to bằng ngón tay út màu vàng xơ mít, nấáp trong kẽ lá trên cành cao. Động bước chân người là rào rào phóng xuống. Chỉ cần nghe tách một cái đã có cảm giác lành lạnh ở cổ, ở mặt rồi đau nhói như kim châm, dao cứa. Lúc đi luôn mang theo gói vôi ăn trầu bôi lên chỗ đau là vắt co mình, giãy dụa rơi ngay xuống đất. Một vết cắn hình chữ thập máu đỏ ứa ra.

 

Thầy Trực hiền lành, đạo mạo. Vào lớp luôn ngồi trên bục giảng. Chăm chú nhìn vào sách, chậm rãi như dò từng chữ, từng câu đọc bài thực vật cho sinh viên chép lại. Thầy luôn ví chúng mình nhí nhố như bầy lợn con. Thường gọi chúng mình là các anh, nhất là hay gọi anh Kiểm có vẻ ưu ái riêng tư hơn mọi người. Khi giảng thầy không bao giờ nhìn xuống lớp học, ngồi yên một chỗ như pho tượng, khiến nhiều bạn hiểu lầm sẽ dễ "quay phim" hoặc xem bài nhau trong giờ thi. Thật bất ngờ đến giờ thi thầy lại sôi động, đi lên đi xuống kiểm tra từng người từng bàn. Với thầy có những giờ thực hành thật vui như nhuộm màu xem tế bào thực vật. Trên bàn bày lỉnh kỉnh nào kính hiển vi, nào dao, nào chén, bột màu, bút lông, nước lạnh. Trong lúc cố cắt từng lát thật mỏng từ thân cây, cọng lá, tôi lại xót xa hướng về tuổi thơ đói nghèo ly loạn, gián đoạn học hành. Suốt ngày nhàn rỗi xem mẹ xắt chuối. Tôi thường chọn những lõi chuối non, tỉ mỉ xắt từng lát mỏng xếp lên ngạch cửa như những đồng tiền. Màu trắng xốp của bẹ, màu xanh non của lá khoanh tròn chạy cuốn vào nhau. Nhờ thế nên giờ đây tôi trở thành khéo tay xắt những mảnh thực tập thật đều, thật mỏng không xây xát và đã làm giúp cho nhiều bạn khác.

 

Thầy Phú cao lêu nghêu, hai gò má xương xương đỡ vành kính cận. Mắt thầy luôn gườm gườm như giận dữ. Giọng thầy đậm đà xứ Quảng Trị. Thầy giảng một thôi một hồi nào pH nào Ion nào phân tử và luôn chen mấy từ đệm vô nghĩa: Lại cái mà...

 

Thầy Tân vóc dáng oai hùng của người phương Tây. Thầy giảng bài thật hay, lưu loát, dễ hiểu, đọc từ cuốn sách dầy cộm chắc phải nặng vài ký. Những giờ thực hành của thầy rất có chất lượng ngay tại các trại chăn nuôi trâu bò heo gà. Như nói ở đầu bài tôi chọn ban Mục Súc là ước mơ là nguyện vọng nhưng có lẽ chỉ muốn cứu chữa săn sóc gia cầm chỉ vì mẹ con Kim Phụng. Bây giờ tôi lại giật mình tự hỏi mình đã đi dúng đường đúng nghề  hay chưa? Tôi không đành lòng nhẫn tâm chứng kiến cảnh thầy Tân hướng dẫn lột da thỏ. Một con thỏ xinh xinh lông trắng mượt như tuyết với đôi mắt đỏ long lanh hồng ngọc, chiếc mũi đen ướt luôn phập phồng, bị treo ngược hai chân lên cọc gỗ, đầu chúc xuống đất. Thầy bảo da thỏ quí đắt tiền hơn thịt thỏ. Cần thận trọng giữ bộ lông cho thật sạch và phải nguyên vẹn không đứt quãng cho nên khi giết thịt chỉ có thể dùng dao nhọn khoét hai mắt cho máu nhỏ giọt xuống đất. Các bạn cùng Ban chắc không quên tiếng kêu của thỏ khi giẫy chết. Không giống tiếng kêu của súc vật mà oe oe đau đớn như trẻ con. Rồi những cảnh thiến gà, thiến heo, banh da xẻ thịt, kim đâm chi chít máu chảy đầm đìa. Nào chiếc búa tạ có đầu đinh nhọn đập mạnh giữa tam tinh trâu bò. Con vật rống lên thảm thiết, chân quî xuống, dầu nghẹo sang bên. đôi mắt trợn trừng trắng dã, tuyệt vọng nhìn người cầm búa, long lanh bên khóe mắt một dòng nước trào ra như khóc. Tất cả đều gợi trong tôi cảnh chiến tranh tàn khốc, máu đổ thịt rơi. Nhiều người đang sống yên vui với gia đình, đang vô tư cười nói bỗng dưng bom đạn vô tình quật ngã. Tim tôi ngưng đập rồi vẫn ngỡ ngàng không hiểu vì sao mình chết. Nhưng tôi vẫn theo các bạn vẫn học để ra trường. Trời không phụ lòng người, năm 1960 tôi được chuyển về phụ trách trại chăn nuôi gà giống Long An. Không có Kim Phụng nhưng có New Hamshire, Plymouth, Rode Island Red, White Legoh... cũng thỏa nguyện tâm tư.

 

Thầy Tâm trẻ trung nhanh nhẹn như sóc. Ăn mặc ngang tàng như Cowboy Texas. Những giờ thực tập súc sản của thầy thật rộn ràng bếp núc. Đánh sữa lấy kem, làm bơ làm phô mát, làm jambon ướp muối với nụ đinh hương. Bị hư phải tiêm Pénicilin. Khiếp đảm ai còn dám ăn. Làm jambon hun khói. Đào đất xây lò. Đốt củi giữ khói. Đùi thịt đen như nhọ nồi.

 

Thầy Thục béo tròn. Mặt hồng hào bóng láng như thoa kem. Mắt một mí lim dim ít khi mở lớn. Không phải tham ăn nhưng cứ nhớ đến thầy lại nhớ đến hôm thầy mời cả khóa đến nhà ăn cơm tối. Thầy đãi món bao tử bò nấu sốt cà với rượu vang. Những miếng tổ ong, lá sách, cuốn dây hầm rục trong nước sôi béo ngậy óng ánh vàng, lấm tấm nhiều hạt tiêu đen tròn.

 

Thầy Điện không được như Phan An Tống Ngọc, nhưng được cái tốt của tướng ngũ đoản. Thân hình tay chân thấp ngắn. Tóc lởm chởm rễ tre, da đen sậm. Giọng nói trầm trầm khản đặc trong cổ kể cả khi cười. Thầy giảng bài không cần xem sách, thao thao bất tuyệt khiến sinh viên cắm đầu ghi chép không kịp thở. Thầy không ăn diện, sống khắc khổ và rất ghét văn thơ.

 

Thầy Ngọc xuề xòa cởi mở, luôn tươi cười. Đặc trưng tính cách Nam bộ cổ xưa. Gần thầy tôi vẫn liên tưởng đến cụ Hồ Biểu Chánh. Nhớ đến thầy là nhớ đến những con chuột xám kết duyên cùng chuột bạch. Đậu láng phối hợp với đậu nhăn và những luật di truyền phản hồi tổ tông. Tôi được thầy ưu ái thương yêu hơn các bạn vì vẽ đẹp. Hết giờ học phải đến phòng riêng của thầy để vẽ bướm, vẽ sâu đủ loại côn trùng. Có lần phải ra chợ mua một con cá lóc còn sống về vẽ cho bài nghiên cứu về mực xanh của cá lóc. Cá sống quẫy trườn khắp phòng. Thầy trò cười vang rượt đuổi. Thầy còn mời về Saigon dự đám giỗ ở đường cụ Trương Tấn Bửu tộc họ Thầy. Mãn khóa Thầy đã ôm chặt tôi vào lòng mãi mãi không nỡ rời xa nhưng rồi từ đấy, 40 năm qua không một lần gặp lại.

 

Về bạn, lòng thương nhớ không những chỉ dành cho các bạn cùng khóa, mà một số bạn khác khóa, bạn sinh viên người Thượng cũng luôn luôn lởn vởn trong ký ức tôi. Nhiều anh sau khi xa trường lại có dịp gần gũi sống chung với nhau thật thân mật gắn bó như từng cùng một khóa.

 

Hồi ấy tôi thường xuyên lân la sang phòng ngủ khóa I làm quen với các anh, các anh đã gây những ấn tượng mạnh mẽ trong tôi. Một cái gì oai hùng lý tưởng khiến tôi cảm thấy mình quá bé nhỏ khi được tiếp xúc chuyện trò. Anh Thăng, anh Đỉnh, anh Châu Ô, Châu Rí, anh Định (tôi rất mê con sóc bé xíu luôn thập thò trong túi áo ngực anh Định, nhiều lúc leo cả lên vai) Những câu chuyện các anh kể tôi luôn nhớ mãi. Hồi ấy đã nghe say sưa trong cảm giác rờn rợn lạnh mình. Các anh kể hồi mới lên trường còn hoang vắng. Cây cối um tùm, cỏ lan, rậm rạp. Đêm sáng trăng, ngồi trong phòng thổi sáo bỗng nghe tiếng thở khè khè nhìn xuống giếng thấy một con rắn khoanh tròn trên sàn gỗ cất cao đầu như lắng nghe. Hoặc chuyện các gia đình nông dân trồng chè, sau giờ làm việc trở về thấy đứa con nhỏ nằm trong nôi bị lũ vắt bâu kín, hút máu đến no tròn. Mặc dù không cùng chung một khóa nhưng các bạn, các anh vẫn ghi đậm nét trong tôi một thời luyến nhớ.

 

Y tang Phoc, không hiểu sao tôi vẫn thường nghĩ tới người bạn dân thiểu số này, học song song thời gian với khóa II ở dẫy nhà phía cổng sau vào trường gần vườn quít. Tôi nhớ mãi những đêm gần mãn giờ học tối bạn thường tới phòng học khóa II, giả tiếng chim kêu thật giống, ám hiệu rủ tôi ra sân bóng rổ chuyện trò. Mặc dầu đêm sương xuống nhiều, gió núi hắt hiu lạnh buốt, bạn vẫn để mình trần, da thịt dầm sương đen bóng loang loang như tượng đồng. Đêm cuối, trước lúc chia tay bạn nói: "Mình mong được về nhậm chức ở các vùng cao nguyên giúp đỡ cho đồng bào mình có cuộc sống văn minh hơn. Biết trồng tỉa, biết chăn nuôi để cuộc sống bớt cực đói nghèo. Biết định canh định cư từ bỏ kiếp sống lang thang du mục đốt rừng làm rẫy. Rồi bạn cười nói một câu nửa Việt nửa Pháp: ước mơ đẹp nhất của mình là ngày sau được marier avec une rose Vietnamienne. Ngày nay mỗi lần có dịp xem Tivi đọc báo, sách nói về các lãnh đạo giỏi người dân tộc như những người đầu tỉnh, huyện, ngành nghề, thủy lâm, Múc Súc ở vùng cao, vùng xa tôi đều hy vọng đọc được tên bạn để có thế nối lại nhịp cầu và xem bạn có đạt được ước mơ cưới được đóa hồng Việt Nam hay không? 

 

Anh Hải khóa I, năm 1959 tôi trở lại trường với thầy Thân. Nhìn cảnh cũ lòng buồn tê tái. Bạn cùng khóa chẳng còn ai. Bạn khóa III đang đi thực tập, khóa 4, khóa 5 hoàn toàn xa lạ. Tôi đang bơ vơ lạc lõng thì anh Hải đến ôm chặt tôi vào lòng mừng rỡ. Anh đưa về phòng riêng chia phần cơm tháng, nhường nệm nhường chăn tận tình chăm sóc. Năm 1962 lại gặp anh ở Nha Thú Y quân đội Khóa 14 Thủ Đức. Ngày tôi đóng quân ỏ Pleiku anh thường ghé thăm mỗi dịp đi qua. Sau đó tôi không chứng kiến tận mắt nhưng nghe kể lại anh đã bỏ mình thân xác không toàn vẹn ở bờ biển Qui nhơn. Phút lâm chung của anh ở quân y viện thật cô đơn, thật đau đớn. Được tin tôi thiết lập bàn thờ ở đơn vị thắp nến nhang cầu nguyện cho anh nơi chốn vĩnh hằng trăm năm yên giấc. Còn tôi nhớ mãi về anh.

   

Anh Huỳnh Quang Hải,     

Nguyễn Quí Định và Phạm Văn Ngọc (K5) 

 

Anh Đường sĩ Nguyên, Khóa I, lúc còn ở trường rất thân nhau. Năm 1961 được cùng anh và anh Lâm đi tham quan Phi luât Tân và Đài Loan. Thời gian này thật vui. Nhớ nhất lúc về đến Hồng Kông anh ruột của anh đưa chúng tôi đi viếng thăm danh lam thắng cảnh nổi tiếng, thiết đãi những bữa ăn ngon lạ ở nhà hàng sang trọng. Lúc về chị dâu anh cho cả 3 thật nhiều quà. Đêm trở về Việt Nam ngủ lại nhà anh được mẹ anh tiếp đón nồng hậu. Năm 1975 nghe tin tôi chạy về Saigon, trong cơn hoảng loạn mất hết của cải, anh tìm đến thăm, tặng cho tôi 2 bộ quần áo cũ của anh kèm phong bì 30 ngàn đồng (thời điểm ấy thật lớn lao quí báu). Từ đó cách biệt không bao giờ còn gặp nhau nhưng tôi vẫn nhớ anh, mang nặng thâm ân của anh. Ước mong trong chúng ta có bạn nào biết anh hiện ở đâu xin cho tôi nhắn gửi muôn vàn cảm tạ.

 

Anh Nguyễn Ngọc Lâm, khóa I, cũng như anh Nguyên thân nhau trong chuyến đi nước ngoài nhưng sâu đậm hơn vì còn gặp nhau ở Nha Thú Y quân đội, Thủ Đức, Bệnh viện quân khuyển ngã ba Chú Ía. Đã cùng đi tập sự ở Đà Naüng dưới chân núi Sơn Chà. Cùng mướn chung một phòng, chia nhau bộ ván gỗ. Đã có lần anh cùng vợ chồng tôi về thăm quê nội của tôi ở Huế, quê ngoại ở Quảng Trị. Bây giờ cứ mỗi lần nghĩ đến anh lại nhớ đoạn thơ hồi âm của anh trong tâm trạng: giận thì giận thương vẫn còn thương. Ngày đơn vị tôi ở Nha Trang bị đổi đi Pleiku tôi đau khổ báo tin cho anh và anh đã viết: Tôi chỉ thương cho vợ cậu sắp sanh con đầu lòng và bệnh ba cậu hết phương cứu chữa thôi chứ còn cậu dù có đổi ra tận Hà Nội (lúc này còn chia cắt) tôi cũng mặc kệ. Anh hờn mát vì ngày được quyền chọn lựa đơn vị tùy theo kết quả cao cấp điểm thi, anh có điểm cao hơn nhưng cũng đành lòng nhường Nha Trang cho tôi để ra tận Đà Nẳng. Tuy vậy vẫn mến thương nhau cho đến ngày xa cách. Vợ chồng tôi luôn luôn nhắc đến anh.

 

Anh Nguyễn Đình Mô, khóa I,  cứ nghĩ về anh tôi lại thấy một công tử hào hoa phong nhã. Rất đẹp trai trong bộ áo tàu cổ cao nút thắt màu lam. Những lúc sau giờ học tôi thường ngồi lại một mình để vẽ truyện tranh Mạc tuyết Lan, trong mục báo tường treo ở phòng ăn. Anh đến ngồi cạnh tận tình sửa đổi vài nét vẽ góp ý chọn một màu thích hợp. Bây giờ mỗi khi có dịp vẽ người hay hướng dẫn cho các con học vẽ tôi lại nhớ công thức người 7 đầu của anh. Anh dặn muốn vẽ người cho cân đối phải chia 7 phần đồng nhau lấy theo kích thước cái đầu, không biết bây giờ anh ở đâu. Khi có dịp vẽ có còn nhớ tôi không?

 

Anh Lê Ngọc Phương khóa IV, thân nhau ở Nha Quân Khuyển Khóa 14 Thủ Đức. Hai gia đình đối xử nhau như tình ruột thịt. Cùng mong ước kết hợp thông gia. Tôi vẫn luôn nhớ những buổi cơm trưa ở chợ Gò Vấp. Những ngày nghỉ mát ở Bàrịa Vũng Tàu. Những ngày tạm trú ở nhà anh gần cầu Bông Saigon.

 

Anh Nghiêm Xuân Thịnh Khóa III, biệt hiệu Bằng Dương. Lúc ở trường tôi rất thích mê giọng hát tiếng đàn của bạn. Mãn giờ học đã vội chạy đi tìm bạn bắt bạn hát. Nhớ đến bạn tôi lại nhớ cảm giác ngỡ ngàng kinh ngạc khi bạn được bầu làm Trưởng ban vệ sinh với số phiếu tối đa không thể từ chối. Từ đấy tôi cứ xót xa mỗi lần gặp tài năng thiên phú về ca nhạc lại lúi húi đi kiểm tra và thu dọn phòng tắm, nhà vệ sinh, hố rác v.v...Khoảng 1960-1965 thường được nghe giọng hát của bạn trên đài Phát Thanh, vẫn luôn trầm ấm vì man mác buồn thương. Sau đó bặt vô âm tín.

 

Trong một giờ thủy lâm, thầy Lê văn Ký đã dẫn chúng tôi băng rừng thật xa, thật sâu qua những đồi sim trái chín mọng, hoa tím nhạt. Màu tím thật buồn như gợi nhớ, gợi thương, vương vương câu hát ru của mẹ thuở nào: Đói lòng ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương. Chúng tôi được xem nơi thờ cúng Giàn. Một chòi tranh nhỏ chung quanh cắm nhiều cọc gỗ điêu khắc hoa văn đặc trưng miền núi. Dãy nhà mồ có nhiều chum, ché, nồi niêu, chén bát tài sản được chia cho người quá cố. Cầu treo, còn gọi là cầu khỉ. Không nhớ cầu làm bằng loại dây gì, đong đưa thật cao nối liền hai vách đá sừng sững. Choáng ngợp khi nhìn xuống, thăm thẳm thật sâu, đá nhọn chập chùng, suối reo ồ ạt cuốn nhanh bọt tung trắng xóa. Cổng vào sóc có cột gỗ lớn chạm trổ kỳ quái trên treo đầu lâu lớn xương khô trắng với hai sừng đen cao vút nhọn hoắt. Đó đây nghe tiếng long cong khua động của những chiếc mõ gỗ đeo quanh cổ trâu bò để dễ tìm khi chúng thất lạc. Heo gà lai giống rừng xanh bé xíu chạy tung tăng. Heo con lai có lông vàng, sọc đen như những quả dưa tròn trĩnh thật dễ thương. Một dãy nhà sàn cao lêu nghêu dành cho người dân Sóc. Mấy căn nhỏ vách tre đan kín để chứa lúa, bắp, đậu, mè. Từng đàn chim sẻ bay về đậu kín tranh nhau tìm ăn ríu ra ríu rít vui tai. Già làng quắc thước, vận khố, mình trần, thịt da đen bóng, cơ bắp cuồn cuộn rắn chắc. Miệng ngậm dọc tẩu dài lớn bập bập mẫu thuốc cháy đỏ tỏa khói khét lẹt. Ông tiếp đón chúng tôi niềm nở bằng giọng nói lơ lớ. Các cô thiếu nữ mặc thổ cầm đen có viền hoa văn rực rỡ đủ màu. Cô nào cũng đeo một tấm đệm đan bằng lát, phía sau, hỏi ra mới biết để khi ngồi khỏi làm bẩn váy. Các cô sàng lúa, giã gạo. Họ đang làm một loại bánh thấy ghê ghê hơn là ngon. Gạo sống còn cám giã nhuyễn với chuối chín thành một thứ bột nhão sền sệt đen bẩn. Các bà già tóc bạc phơ, mặt nhăn rúm như táo tàu đang tựa sân nhà, chân duỗi thẳng, còng lưng dệt thổ cẩm. Khung cửi bằng gỗ vông được máng qua vai và buộc chặt vào thắt lưng. Họ có những sinh hoạt và cuộc sống xa lạ khác hẳn người Kinh.

 

Không biết phải cái nầy chăng?

 

Còn nhớ một buổi trưa, cả trường xôn xao nhìn đoàn người xếp hàng, nữ mang gùi, nam vác chà gạc kéo nhau băng qua sân bóng rổ, tiến thẳng về phía phòng ngủ của các anh khóa I. Già làng cầm đầu xì xồ chỉ trỏ ra dấu nói tiếng nửa Kinh nửa Thượng. Hóa ra các anh khóa I trong giờ thực tập, băng rừng đã nhổ mấy cọc gỗ cúng Giàn mang về chơi nên họ đến đòi lại. Tôi ngạc nhiên thích thú nhìn thấy trong đoàn người, một thiếu nữ khoảng 16, 17 tuổi, mái tóc đen, mượt mà như nhung, hờ hững buông trôi xuống đôi vai tròn như dòng suối chảy. Đôi mắt to với hàng mi dài đậm cong vút, sáng long lanh ngơ ngác nai rừng. Môi mọng đỏ tự nhiên nổi bật bởi màu da ngâm ngâm sạm nắng sáng hơn chủng tộc. Tôi sững sờ bâng khuâng trước vẻ man dại của cô gái rừng xanh. Buổi chiều vội tìm Y Tăng Phoc để hỏi. Anh có vẻ quen thuộc kể rằng: "người dẫn đầu là Già Làng Y Bliang nic. Người đi kế cận là bà H' Buôn Yã, vợ già làng. Tiếp theo là cô con gái của họ H' A yun. Tôi hỏi: đẹp thế sao anh không làm quen? Anh buồn buồn trả lời có vẻ bất mãn "Chúng tôi vẫn còn giữ chế độ mẫu hệ. Con gái trọn quyền hỏi cưới. Con trai chỉ lệ thuộc và không được phép định đoạt bất cứ việc gì trong gia đình. Hơn nữa, mình ở buôn lạ tìm đến họ không tiếp đón niềm nở, trái lại còn e dè nghi kî. Họ sợ có ma lai trà trộn vào hại dân làng và gia súc. Lúc mình về lỡ có người tình cờ đau ốm hay heo gà bị chết là họ đổ tội cho mình. Luật xử những người bị tình nghi đều rất oan uổng và tàn độc. Họ tự tổ chức thiêu sống tội phạm không cần thông báo với chính quyền người Kinh." Nghe sợ quá, nhưng tôi vẫn thiết tha mơ tưởng đóa hoa rừng. Giờ rảnh rỗi tôi thường chọc phá họa lại hình ảnh nàng và thầm gọi: "A Dung... A Dung!" Nét mặt cô bé nữ thần trong truyện tranh của tôi hồi ấy là nét đẹp của Ayun. Cho đến một hôm dân chúng Blao xôn xao đổ về trạm cảnh sát. Sinh viên cũng ồn ào gọi nhau ra phố xem, cảnh sát vừa bắt được quả tang hai vợ chồng người Thượng ăn thịt đồng loại. Trong nồi đất lớn còn cả cánh tay hầm rục. Họ ngây ngô khai báo đó là đứa con nhỏ của họ bị bệnh nặng lắm sắp chết rồi. Tôi bàng hoàng ghê sợ. Toàn thân phát lạnh và có cảm giác ngộp thở buồn nôn. Tôi oán giận sự tàn bạo. Kinh tởm việc làm man rợ thiếu văn minh, giận lây tránh mặt Y Tăng Phóc. Xóa bỏ các hình ảnh vẽ cô gái man dại Ayun. Vĩnh biệt một mối tình mộng mơ...bâng khuâng lãng đãng như mây chiều Blao khi tụ khi tan...

 

Ba năm rồi cũng qua đi. Bạn bè cùng khóa chia tay nhau, phân tán khắp mọi miền đất nước. Mỗi người một cuộc đời, một số phận, một dĩ vãng một tương lai mà cao xanh thăm thẳm tầng trên đã saün dành, không ai giống ai. Có bạn đạt được đỉnh cao. sáng lạng, công danh sự nghiệp sang giầu. Gia đình vợ con yên vui hạnh phúc. Có bạn đã hoặc tức tưởi hoặc an lành từ bỏ cõi đời phù du, ký gởi quay về nơi hội tụ vĩnh hằng. Có bạn chật vật, nghèo khổ lo toan, chèo chống quay cuồng trong cảnh phong ba tranh dành cuộc sống. Riêng tôi cũng mãn nguyện với cuộc sống an nhàn, vợ chồng con cháu yên vui hạnh phúc. Dù thời gian có trôi nhanh, tháng năm chồng chất, tuổi già nhuộm tóc thành mây. lưng còng, chống gậy nhưng tim óc vẫn sáng ngời để trọn đời trọn kiếp: "Khắc ghi những bóng hình."

 

Nha Trang, Mậu Dần 98


ÂM HƯỞNG BLAO  -  KỶ YẾU HẢI NGOẠI KHÓA 2 NÔNG LÂM MỤC BLAO 1956-1959

 

Trang Nhà Khóa 2 C̣n Đó Những Qua Đi NLM50 Âm Hưởng Blao Tung Cánh Chim Bay