LÁ THƠ NHI KHOA

BS. Hồ Văn Hiền

Năm mới, cộng đồng người Việt chúng ta lại được thêm một tuổi. Ðược vinh dự săn sóc cho hàng ngàn em và theo dõi sự lớn mạnh của các em trong mười mấy năm qua, chúng tôi xin ghi lại vài nhận xét  về quá trình phát triển của cộng đồng chúng ta về lãnh vực này.

Cách đây mười lăm năm, vùng bắc Virginia chưa có một bịnh viện Nhi đồng nào cả, bịnh trẻ em nặng cần chuyển lên DC đến Children Hospital , Georgetown University Hospital hoặc những nơi xa hơn nữa. Bác sĩ nhi khoa ngườI Việt duy nhất có phòng mạch ở thương xá Eden lúc thương xá mớI khai trương, được một thờI gian thì dọn đi tiểu bang khác. Chúng tôi mở phòng mạch tại khu Seven Corners vào tháng 6 năm 1986 và trong nhiều năm là bác sĩ nhi khoa duy nhất trong cộng đồng. Thuở ấy, ngườI Việt chúng ta vùng này khá đông nhưng chưa khấm khá như bây giờ. Thương xá Eden chỉ mới bắt đầu nhộn nhịp, phố xá cũ kỷ và chưa được tân trang lại.

Cha mẹ các cháu thời đó số đông còn nhờ vào trợ cấp y tế và ít người thông thạo tiếng Mỹ. Ða số tuy thích hoặc mừng được bác sĩ Mỹ giỏi chữa bịnh cho con cái mình ,vẫn còn trở ngại ngôn ngữ, còn xa lạ với nếp sống Mỹ và lề lối làm việc của bác sĩ cũng như nền y tế Mỹnhư thử nghiệm nhiều, nặng về chẩn đoán, tham vấn (consultation)  nhiều, quyết định tập thể. Ngược lại giới y tế Mỹ cũng còn nhìn bịnh nhân Việt nam như những trường hợp thú vị (interesting case) nhưng hiếm có ,với những bịnh xa lạ đối  với họ và những tập tục kỳ cục (như cạo gió, giác hơi, thoa chanh, thoa dầu nóng) làm họ nghi ngờ, khó chịu.  Chúng ta còn nhớ một số cha mẹ Việt thời đó còn bị kết tội là child abuse vì các vết chàm tự nhiên (Mongolian spots) trên lưng và mông của em bé Á châu.

Tài liệu bằng tiếng Việt để giải thích hướng dẫn bịnh nhân chưa có, hoặc khó tìm và ngay cả báo chí bằng tiếng Việt cũng chỉ có vài tờ, ít bài báo đề cập đến vấn đề nuôi và săn sóc trẻ em  Ðể đáp ứng nhu cầu phổ biến kiến thức y học mới, chúng tôi đã liên tục trong mười mấy năm viết những bài báo có mục đích giải thích cho độc giả hiểu bối cảnh nền y tế Hoa kỳ, những điểm khác biệt so vớI kinh nghiệm chúng ta ở Việt Nam, những quan điểm mới về y khoa, nhất là chú trọng về nhi khoa, để giúp độc giả có thể dấn thân vào việc góp phần chữa bịnh (medical care) cho con mình lúc cần thiết.

Một mục tiêu khác trong cố gắng này là tìm cách diễn tả bằng ngôn ngữ thường ngày, dễ hiểu, những ý niệm mới của y khoa,  Lắm khi những vấn đề nàyít khi hoặc  chưa từng được bàn tới trong sách vở tiếng Việt  vì những vấn đề đó chưa được đặt ra ở Việt nam , vì hoàn cảnh, trình độ y tế nước nhà, hoặc vì trong nước có những nhu cầu cấp bách hơn ( như vấn đề managed care, vấn đề tương quan giữa bác sĩ và bịnh nhân, vấn đề đức lý / ethics trong y khoa, defensive medicine, y khoa di truyền,vv). Sách báo y khoa bằng tiếng Việt từ Việt nam có thể là phong phú hơn ở hải ngoại nhưng dĩ nhiên rất khó tìm; mặt khác cái nhìn của người ở Việt nam viết về y tế tại Mỹ chưa chắc đã trung thực ,chính xác vì người đó không phải là người trong cuộc như chúng ta tại đây, Do đó, lắm khi chúng ta cần phát triển môt lối nói, một thứ ngôn ngữ y học riêng để mô tả những thực tế riêng  của nền y tế  tại hải ngoại,

Hiện nay thời thế đã  khác xưa. Về phiá y giới Mỹ, đã có sự ý thức mạnh mẽ hơn về yếu tố văn hóa trong y khoa (cultural medicine). Bác sĩ cũng như sinh viên Mỹ ghi tên theo học những lớp về ngoại ngữ để có thể nói chuyện  với người không nói được tiếng Mỹ, họ viết những bài báo trong các tạp chí y học giải thích cho nhau nghe các phương pháp y học cổ truyền như thuốc nam, thuốc Bắc, châm cứu, cạo gió.. cũng như tìm hiểu về những khái niệm về âm dương ngũ hành là căn bản của y lý đông phương. Những cố gắng này không phải chỉ để bắt nhịp cầu thông cảm giữa người bác sĩ với người bịnh nhân mớI nhập cư ; lắm khi đây là  một cố gắng thành thực của ngườI bác sĩ tây y (allopathic medicine) muốn học hỏi những điều mớI lạ từ những nền y học lâu đời, mà chỉ mớI gần đây thôi thường bị coi là phản khoa học hoặc lang băm (quackery) không xứng đáng để tâm đến.

Phong trào bảo vệ người tiêu thụ (consumerism) chú trọng đến quyền quyết định có ý thức (informed decision) của người bịnh trong sự chữa bịnh của mình cũng giúp chúng ta nhiều trong lãnh vực này. Nhiều tài liệu được chính phủ Hoa kỳ tài trợ cho dịch ra tiếng Việt (cũng như nhiều thứ tiếng khác) để giúp ngườI bịnh Việt nam hiểu những trị liệu cho mình hoặc con cái mình (ví dụ tất cả các mẫu giải thích các thuốc chích ngừa cho trẻ em của Center of Disease Control đều có bản Việt ngữ)

Về phía Việt nam chúng ta, như ai cũng nhận thấy, báo chí Việt ngữ xuất hiện rất đông trong những năm gần đây. Một số báo ở Cali chuyên về phổ biến kiến thức y khoa và có lẽ sống nhờ tiền quảng cáo, ra đều đặn, nộI dung phong phú và trình bày rất đẹp. Báo Việt ngữ vùng Washington cũng đăng nhiều tin tức và bài báo, phần đông là bản dịch của báo ngoại ngữ, liên hệ tới các vấn đề y tế , đáng chú ý là những tin y tế từ Việt nam, khó tìm thấy trong các báo Mỹ. Mộ số bác sĩ, nha sĩ trong vùng viết báo hoặc xuất bản sách để giáo dục quần chúng về các vấn đề sức khỏe.

Hơn thế nữa , trình độ học thức của người Việt ở  Mỹ càng ngày càng tăng và tăng nhanh hơn hầu hết các nhóm dân nhập cư nào từ trước tới nay. Phụ huynh điển hình hiện nay là  một người trung lưu trong xã hội Mỹ, có khả năng Anh ngữ khá vững hoặc rất giỏi  và sẳn sang đối thoại với bác sĩ về những ưu tư thắcmắc của mình. Phụ huynh Việt nam ngày nay đọc báo sách về những vấn đề y khoa mà mình ưu tư, đôi khi tham khảo internet để tìm tài liệu trước hoặc sau khi gặp bác sĩ, biết và đòi hỏi những tham vấn (consultation) cần thiết , nghĩa là có những đặc tính của một ngườt tiêu thụ thành thạo (educated consumer). Những cha mẹ mới đến Mỹ trong những năm gần đây, tuy kiến thức tiếng Mỹ còn nghèo nàn, thường có vẽ thông hiểu về y tế hơn các đợt  trước, có lẽ do xã hộI Việt nam hiện nay có nhiều cơ hộI tiếp nhận những tin tức bên ngoài hơn trước nhiều, một lý do khác có thể vì những gia đình đến Mỹ gần đâythuộc diện những sĩ quan mà trình độ học vấn cao hơn mức trung bình.

 

Về phía y giới, bác sĩ  nhi khoa Việt trong vùng không còn  hiếm hoi như trước nữa, chừng năm sáu người. Các bác sĩ gia đình có khám bịnh cho trẻ em cũng đông hơn trước nhiều. Chúng ta còn thiếu các subspecialist  chuyên về trẻ em, chỉ có thưa thớt một vài chuyên gia  trong các ngành như pediatric   dentistry, pediatric psychiatry, pediatric allergy là những lãnh vực đòi hỏi một số bịnh lớn hơn cộng đồng chúng ta nhiều mới nuôi sống nổỊ

Trên bình diện lớn hơn, vùng Hoa Thịnh Ðốn, cũng giống như silicon valley của California, phát triển mạnh về kinh tế trong những năm gần đây, nhất là về kỹ nghệ tin học và điện tử trong các vùng ngoại ô (suburbs). Tác dụng kinh tế này giúp cho các bịnh viện và phương tiện y tế khác phát triển mạnh trong những khu như Fairfax, Arlington; đặc biệt hệ thống INOVA gồm nhiều nhà thương như Fairfax Hospital for Children, Fair Oaks Hospital làm ăn thịnh vương, thu hút một số lớn các chuyên gia về y tế nói chung, về Nhi khoa nói riêng về hoạt động tại vùng này. May mắn thay ,vùng Bắc Virginia cũng là một trong những nơi tụ hội của ngườI Mỹ gốc Việt mà rất đông ngườI chuyên về computer, làm cho trẻ em của chúng ta tại đây được hưởng những dịch vụ y tế từ cơ bản đến tối tân nhất hiện có trên thế giớI ngay tại nơi mình cư ngụ.

Phòng cấp cứu tại Fairfax Hospital for Children luôn luôn có mặt bác sĩ chuyên về Nhi khoa túc trực và có một nhóm chuyên khám và xét nghiệm những trẻ bị ngược đãi về tính dục (sexual abuse). Những vụ giải phẩu tim trẻ em (pediatric heart surgery), những đơn vị săn sóc đặc biệt (PediatricIntensive Care Unit), được trang bị tối tân cho những bịnh tình hay tai nạn nặng nề nhất, trước đây phải lên DC hay Baltimore mớI có thì trong mườI mấy năm nay được đem về gần chúng ta hơn, tại Bịnh viện Fairfax, và sang năm mớI, Bịnh viện Arlington.

Tóm lại, trong mườI mấy năm vừa qua, rất đông ngườI Việt đã chọn vùng ngoại ô chung quanh Washington làm quê hương mới, và rất may mắn cho chúng ta thờI gian này cũng là thời gian mà vùng này phát triển một cách bộc phát về kinh tế, văn hóa nói chung, về y tế nói riêng, nhất là những dịch vụ về Nhi khoa chưa từng có lúc chúng ta mới đến đây.

Những điểm nêu trên cho thấy, về mặt săn sóc sức khỏe các em, chúng ta được nhiều thuận lợi từ lúc đến đây: thiên thời, địa lợi, nhân hòa giúp cho chúng ta có những tin  mừng lúc chúng ta tính sổ thờI gian qua lo nuôi con Việt chúng ta trên đất Mỹ.

Theo thiển ý, nói chung trẻ con chúng ta trong vùng có tình trạng sức khỏe rất tốt, không những so vớI trẻ em tại Việt nam, mà so vớI trẻ các nhóm  dân khác. Trong muờI bốn năm vừa qua, chúng tôi nhận thấy trẻ Việt nam rất hiếm khi bị những chứng nan y thuờng thấy trong quần chúng Hoa kỳ. Những bịnh như cystic fibrosis (các chất tiết, đàm nhớt dày đặc lại trong  phổI, trong ruột làm em bé nghẹt phổi, rối loạn tiêu hoá và chết trước khi trưởng thành), bịnh hồng huyết cầu hình lưỡI liềm làm thiếu náu và nghẽn mạch máu (sickle cell anemia), bịnh Crohn làm sưng ruột kinh niên (bowel inflammatory disease), bịnh tiểu đường (diabetes) thường làm điêu đứng các giống dân khác thì lại rất hiếm hoặc không có ở trẻ Việt nam. Lý do một phần có lẽ do tổ tiên chúng ta có tục cấm bà con họ hàng lấy nhau (consanguinity) như trường hợp dân Do thái hoặc một số nơi ở Châu Âu . Ðối vớI một số bịnh nhiễm trùng thường thấy ở Việt nam và ngay tại Mỹ trong những nhóm dân thiểu số khác như ngườI Mỹ la tinh, Mỹ gốc châu Phi, trẻ em Việt nam tại vùng này có tỷ số nhiễm bịnh rất ít oi. Nhyững bịnh như sưng màng óc, sưng phổI nặng, nhiễm trùng nấm (fungal infections) , ghẻ lỡ (scabies), ký sinh trùng đường ruột rất ít khi thấy. Có lẽ những yếu tố sau đây ảnh hưởng phần nào:

?        Số lượng bác sĩ trực tiếp phục vụ ( trái vớI các bác sĩ các bịnh viện hay dành phần lớn thì giờ cho khảo cứu, dạy học) trong cộng đồng cao so vớI các cộng đồng khác.

?        Trình độ văn hoá của cha mẹ, dù là học vấn đạt được ở Việt nam.

?        Mạng lướI văn hóa xã hộI của cộng đồng đói vớI những ngườI chưa hộI nhập nhiều vào xã hộI  Mỹ,

?        Những liên hệ gia đình chặc chẽ bao quanh, đùm bọc đùa trẻ(lá lành đùm lá rách)

?        ÐờI sống gia đình lành mạnh: ít hút thuốc, ít rượu chè.

?        Tắm rửa sạch sẽ, vệ sinh cá nhân trong truyền thống đói cho sạch, rách cho thơm,

Một ví dụ khác, trẻ em Việt nam, cũng giống như trẻ em Á châu tại Mỹ nói chung, thường học rất giỏi, thành thạo tiếng Mỹ rất nhanh, hơn một số trẻ em thiểu số khác . Xong trung học, đa số trẻ chúng tôi được tiếp xúc đều có chí hướng học lên cấp đại học hoặc đi xa hơn nữa. Các em cũng hoạt động tích cực trong nhiều lãnh vực đa dạng và phong phú, phá bỏ những sterotype cũ về trai gái, về tự ti dân tộc: rất nhiều học trò xuất sắc điểm rất cao trong các kỳ thi như SAT, nhiều cô cậu tham gia các đoàn hướng đạo kể cả một số em bị tật nguyền, có bé đã từng đóng vai trong musical  Ms Saigon của Mỹ,  cô bé mớI mườI hai tuổI đã đoạt nhiều giải quốc gia về võ thuật, vân vân.

Chúng rất ít khi bị chứng thiếu chú ý và qúa hoạt dộng (attention deficit hyperactivity disorder, viết tắt ADDH) làm trẻ con không ngồi yên theo dõi lớp học được, mặc dù trí thông minh chúng có thể bình thường. Ở Mỹ, chừng 10% trẻ mắc chứng này, kinh nghiệm bản thân  cho thấy ở trẻ Việt tỷ lệ này thấp hơn nhiều so vớI dân số toàn quốc. Ngoài ra, xì ke ma tuyù, huùt thuốc lá là những vấn đề trầm trọng ở các bà mẹ mang bầu Mỹ làm ảnh hưởng tai hại đến trẻ sơ sanh, theo kinh nghiệm chúng tôi , rất hiếm ở các bà mẹ Việt nam.

Tóm lại, nhìn về quá khứ mười mấy năm qua, chúng ta có thể mừng và tự hào là thế hệ mớI con cháu chúng ta có vẽ lành mạnh hơn, được săn sóc chu đáo , kỹ lưỡng hơn thế hệ chúng ta rất nhiều. Con hơn cha là nhà có phước. Năm mới , ước mong mọi ngườI cha, người mẹ trong chúng ta ý thức được cái phước lớn của mình, để rồi bằng lao động, bằng học hỏi, bằng mọi cố gắng tinh thần cũng như vật chất giữ  cho cho con cháu chúng ta khỏe mạnh về thể chất cũng như tinh thần, giúp cho chúng có một niềm tin, không sa ngã để còn đi xa hơn nữa, có một tương lai sáng lạng, xứng đáng với tiền nhân, xứng đáng làm con ngườI tự do của thế kỷ, thiên niên kỷ mới.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền  
Ngày 14 tháng 12, năm 2000

 

Về đầu trang