Bịnh Autism, hội chứng Asperger
và chứng rối loạn phát triển bao quát.

Thiên hạ thường hay nói dại khôn
Biết ai là dại, biết ai khôn?
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại,
Dại chốn văn chương ấy dại khôn.

Thằng bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng bờm chẳng lấy trâu..
Phú ông xin đổi nắm xôi bờm cười.

                                                                        (Ca dao)
A Lưu

A Lưu là tên tiểu đồng ông Chu Nguyên Tố. Nó thật là ngây ngô không được việc gì cả. Văy mà Chu Nguyên Tố nuôi nó suốt đời.

Lúc ông bảo nó quét nhà, nó cầm chổi quanh quẩn suốt buổi mà không sạch được cái buồng con. Ông giận, mắng, thì nó quăng chổi , lẩm bẩm: "Ông quét giỏi thì phiền đến tôi làm gì"?

Khi ông đi vắng, sai nó chực ngoài cửa, dù khách quen đến, nó cũng không nhớ được tên ai. Có hỏi thì nó nói: Người ấy lùn mà béo.

-Người ấy lùn mà lắm râu.-Người ấy xinh đẹp.-Ngườ ấy tuổi cao và chống gậy". Ðến lúc nó liệu chừng không nhớ xuể, nó đóng cửa lại, không cho ai vào nữa.

            Trong nhà có chứa một ít đồ cổ như chén, lọ đỉnh, đôn. Khách đến chơi, nó đem bày ra cho xem Lúc khách về, nó lẻn đến gõ các thứ ấy mà nói: "Những thứ này có khi bằng đồng, mà sao nó đen sì như thế"?. Rồi nó chạy đi lấy cát, lấy đá, nước để đánh.

            Nhà có cái ghế gảy chân, ông sai nó đi chặt cây có chạc , để chữa lại. Nó cầm búa, cưa , đi khắp vườn Hết ngày, nó về, nó chìa hai ngón tay làm hiệu mà nói: "Cành cây có chạc đều chĩa lên cả, không có cành nào chúc xuống đất." Cả nhà đều cười.

Trước sân có vài cây liễu mới trồng. Ông sợ trẻ láng giềng đến nghịch hỏng, sai nó trông nom giùm. Ðến lúc nó vào ăn cơm, nó nhổ cả cây lên mà cất đi một chỗ.

            Công việc nó làm, nhiều chuyện đáng cười như thế cả.

            Ông Chu Nguyên Tố là người viết chữ chân tốt, mà vẽ lại giỏi lắm. Một hôm ông hòa phấn với mực để vẽ. Thấy A Lưu, hỏi đùa: " Mày vẽ được không"?. A Lưu Ðáp:"Khó gì mà không Ðược!". Ông bảo vẽ, A Lưu vẽ nét đậm, nét nhạt, nét xa, nét gần, như người xưa nay vốn đã biết vẽ. Ông thử luôn mấy lần, lần nào A lưu cũng vẽ được như ý cả. Từ bấy giờ, ông dung đến A Lưu luôn, không lúc nào rời.

            Sau A Lưu nổi tiếng là một nhà danh họa.

                                       Lục Dung

(Trích :"Cái cười của thánh nhân", tác giả Nguyễn duy Cần, trang 228).

 Ngay trong văn chương truyền khẩu của giới bình dân, chúng ta  cũng đã từng để ý và nêu lên tính  tương đối và tình trạng khó định nghĩa của cái dại và cái khôn, nghĩa  là định nghĩa thế nào là trí thông minh (intelligence), thế nào là thái độ , hành động thông minh ở một đứa trẻ nói riêng, ở một con nCâu chuyệnhung.

Câu chuyện A Lưu trên đây của một đứa trẻ tuy chậm phát triển về năng khiếu ngôn ngữ cũng như về giao tế xã hội lại có tài năng về hội họa tới mức thiên tài cho thấy đã xưa lắm rồi , các nhà văn hoặc nhà triết học cũng đã từng để ý  tớI những trường hợp phát triển khác thường (atypical) hay không bình thường (abnormal) của trẻ em, và đồng thời ghi nhận những khả năng đặc biệt nơi những đứa trẻ rất chậm, rất khờ, hoặc đôi khi đần độn trong các lãnh vực khác.

Tuy nhiên trong nhi khoa hiện đại, chỉ mới gần đây thôi, sau một thời gian rất lâu chỉ chú trọng về sức khỏe thể chất, y giới cũng như  cha mẹ các cháu bắt đầu để ý nhiều hơn đến  sự phát triển về tâm lý gồm trí thông minh, tình cảm và tánh tình của các em.

Trong xã hội hậu kỹ nghệ càng ngày càng cạnh tranh, sự thành công ở học đường (mức học vấn, mảnh bằng cấp, tên tuổi trường  mẫu giáo cho đến trường đại học) là chìa khóa cho một tương lai sáng sủa.Trí thông minh (intelligence)  thật khó định nghĩa khách quan và chính xác, cho đến nay thường được xem như đồng nghĩa với sự mức thành công học đường (scholastic achievement) của các em, được  coi như một khả năng thiên phú, phần lớn do di truyền , một phần nhỏ hơn do hoàn cảnh quyết định. Ðứa trẻ viết văn hay, làm toán giỏi, vâng lời thầy cô thì được thầy cô chứng nhận là thông minh, lớn lên sẽ  có bằng cấp hoặc tước vị cao và làm chuyên viên cấp cao, lương nhiều.Trẻ học kém, thường được xem như không có triển vọng thành công trong xã hội lúc chúng ra đời, về địa vị cũng như về tài chánh.

Tuy nhiên càng ngày người ta càng thấy rằng căn cứ trên thành công ở lớp học để tiên đoán tương lai của chúng có thành công trong xã hội hay không lắm khi không ổn. Có những người học ở trường thì giỏi nhưng ra đời thì bị chê là có những hành động đáng gọi là "ngốc" (stupid). Có những người bằng cấp rất cao, giỏi về kỹ thuật vậy mà lúc ra khỏi tháp ngà thì ai cũng ghét vì tính tình gàn bướng, không hiểu tí gì về tâm lý người khác và  không có một ý niệm gì sự giao tiếp hợp tình hợp lý giữa con người với con người trong xã hội. Những người này thành công trong học đường nhưng thất bại lúc ra ngoài đời. Ngược lại có những kẻ học ở trường rất kém, thi cử lận đận, rớt liên miên vì không có khả năng thấu hiểu những ý niệm trừu tượng đòi hỏi rất nhiều trong học đường,  nhưng lại có những tài, những kỹ năng thu hẹp về tính toán  và trí nhớ không ai bì kịp trong một lãnh vực hạn hẹp (nhớ tên, nhớ số) giúp họ thành công trong đường đời ( như một trí nhớ ngoại hạng có thể giúp một người bán hàng nhớ tên tuổi, sở thích của mỗi khách hàng và nhờ vậy buôn bán thành công). Hoặc tuy học dỡ trong lớp, họ có thể có khiếu về giao tiếp, biết hiểu nhanh chóng những điệu bộ cử chỉ, những biểu lộ không thành lời rất quan trọng trong sự giao tiếp hàng ngày cũng như trong thương trường. Ngay những trẻ rõ ràng là kém thông minh, phát triển chậm đôi khi lại được trời cho một số tài năng (talent) độc nhất vô nhị về toán học, âm nhạc hay hội họa, như trường hợp danh họa A Lưu được nhắc ở trên. Những trường hợp này làm chúng ta nghĩ đến quan niệm bỉ sắc tư phong được Nguyễn Du nhắc đến trong chuyện Kiều, dù chúng ta nếu kém hoặc thiệt thòi bao nhiêu về mặt này thì chúng ta vẫn có thể khá hơn về một mặt nào mặt khác, hoặc ngược lại. Ðồng thời , cũng nhắc cha mẹ và các nhà giáo dục thấy tính phức tạp của vấn đề , tránh bi quan dán một nhãn hiệu (labeling), đóng dấu phê phán trên suốt cuộc đời em bé chẳng may không phát triển theo mô hình (pattern) thông thường; đồng thời giúp khai thác những điểm mạnh của nó và tích cực giúp nó khắc phục những điểm yếu kém, hầu thích ứng dễ dàng hơn với cuộc sống và có một cuộc sống phong phú hơn, có ích hơn cho xã hội.

Rối loạn phát triển bao quát.(pervasive developmental disorders, PDD)

Chúng tôi trình bày sau đây một số trường hợp  tuy cùng cực  nhưng có thể giúp ta có một cái nhìn tương đối về sự đa dạng tương phản của các biểu hiện bất thường trong sự phát triển của các cháu.

Hơn một thập niên trước đây, hầu hết phụ huynh cũng như bác sĩ chưa bao giờ nghe nói đến bịnh tự kỷ (autism), bịnh Asperger và hội chứng William, thuộc nhóm bịn được gọi chung là pervasive developmental disorders, trong đó phát triển của đứa trẻ bị rối loạn ở nhiều mặt.

 Cách đây mấy năm, nhờ một cuốn phim ăn khách của Hollywood tên "Rain Man" dư luận quần chúng bắt đầu  để ý nhiều đến chứng autism và các bịnh liên hệ này. 

     Các hiểu biết về lãnh vực này thay đổi đáng kể các quan niệm về tâm lý và phát triển cũng như giáo dục trẻ em. Vì đây là một lãnh vực mới của nhi khoa và của ngành tâm lý học trẻ em, một số danh từ tiếng Việt chỉ là những đề nghị của người viết, tạm dùng để diễn tả một số ý niệm mới .  Người viết cũng xin nhắc lại là bài này chỉ có mục đích giới hạn là trình bày một số kiến thức sơ khởi, thu nhặt từ một số  tài liệu chuyên môn để giúp độc giả có một số ý niệm sơ đẳng về một đề tài rất khó, phức tạp và gây tranh luận nhiều ngay cả trong giới có thẩm quyền về tâm lý học, thần kinh học và chuyên gia thần kinh.

 Phát triển của trẻ em.

 Trẻ con mỗi người mỗi tánh, phát triển người nhanh người chậm theo nhịp riêng. Một khía cạnh quan trọng là phát triển về ngôn ngữ. Theo Hán Việt Từ Ðiển của Ðào duy Anh: yự mình nói gọi là ngôn,đáp lại kẻ khác gọi là ngữ. Ðào Duy Anh cũng như Việt nam Tự Diển của Lê Văn Ðức định nghĩa ngôn ngữ là " nói năng"; tuy nhiên ở đây chúng tôi dùng từ ngôn ngữ để dịch ý từ "language" được dùng trong y giới hiện nay. Theo nghĩa này, ngôn ngữ bao gồm những  ký hiệu (symbols) nói hoặc viết,  dùng để liên lạc, trao đổi với người khác. Lời nói (speech) là ngôn ngữ được nói ra thành tiếng.

Trong khoảng từ 6 tháng đến 12 tháng, bé bắt đầu hiểu một số chữ bé nghe được. Lúc một tuổi bé hiểu được một số câu ngắn hoặc mệnh lệnh (sai bảo). Phần này gọi là phần ngôn ngữ thụ động hoặc tiếp thu (passive or receptive language).

Lúc cháu chừng 12 tháng, bé bắt đầu nói một số chữ giản dị. Trẻ Việt nam thường kêu "ba" trước. Trẻ Mỹ nói " Mama, Dada, dog, hot, bye, bye" . Từ hai đến ba tuổi, bé có khả năng ngữ vựng từ 200 đến 400 chữ, dùng 2-3 chữ trong một câu và dùng động từ. Từ 3 cho đến 4 tuổi, ngữ vựng còn phát triển một cách nhanh chóng. Lúc cháu 4 tuổi, phần đông có thể nói giỏi tới mức một người lạ (không phải người trong nhà) có thể hiểu hầu hết những gì bé muốn nói. 

Chậm phát triển về ngôn ngữ.

Một số bé phát triển về ngôn ngữ (khả năng nói và hiểu lời người khác nói) chậm hơn các trẻ khác. Ðây là một lãnh vực y khoa còn đang vòng khảo sát và nghiên cứu nhiều. Một số trẻ tuy bắt đầu nói chậm hơn trẻ khác, từ từ cũng sẽ phát triển được khả năng ngôn ngữ ngang với các trẻ khác. Một số ít chậm nói vì chúng bị điếc hoặc lãng tai ở mức nhẹ hơn (hearing loss) làm cho chúng không nghe rõ được lời nói của người khác và do đó trở ngại lúc tập nói theo. Do đó hiện nay luật ở Virginia cũng như phần lớn tiểu bang khác qui định phải kiểm soát xem bé sơ sinh nghe có rõ không và theo dõi khả năng nghe của đứa trẻ mỗi khi khám định kỳ. 

Chứng tự kỷ (autism).

Ở một số hiếm trẻ con ,  chứng phát triển chậm về ngôn ngữ  là triệu chứng đầu tiên của chứng tự kỷ.Các bé này có những dấu hiệu đặc biệt như không bặp bẹ ra tiếng (babble) lúc em bé được 7-8 tháng, hoặc chỉ nói được có ba bốn chữ lúc đã lên ba, ai hỏi gì thì chỉ trả lời bằng cách lập lại những chữ người ta hỏi (echolalia), hoặc chỉ dùng những tiếng mà người khác nghe không hiểu bé muốn nói gì ( một số người lớn gọi đùa là bé  "nói tiếng Á Rập ").

 Nếu chú ý hơn, chúng ta sẽ thấy rằng ngôn ngữ chỉ là một mặt của vấn đề. Bé có vẻ như luôn luôn hững hờ, không muốn và không thích tiếp xúc với người khác, kể cả người thân thích như cha mẹ anh em chúng. Lúc còn mới mấy tháng, các bé này không thích nhìn vào mắt người bồng ẵm rướn lêng thích đưa tay ra đòi bồng, đụng đến chúng thì người chúng đơ lại hoặc rướn lên, có vẽ như không muốn người ta đụng chạm tới chúng.

Lớn lên chúng chỉ muốn chơi một mình, nhìn vào không trung như sống trong một thế giới riêng biệt  của nó, tách rời khỏi xã hội chung quanh (lack of interest in social relationships). Do đó tiếng Mỹ mơi gọi là autism, do chữ autos là tự mình, tiếng Việt dùng gốc Hán Việt tự (tự mình) để dịch ý này. Một số triệu chứng khác có thể có  như bé có những động tác bất bình thường,  lập đi lập lại như múa, vỗ tay, búng ngón tay, quay đĩa đồ ăn xoay tròn lúc ngồi lên bàn ăn. Một số trẻ hầu như bị ám ảnh bởi một khía cạnh nào đó của một món đồ vật  (như ngửi hít mùi các đồ vật, sờ mó say sưa một cái áo, quần). Một số trẻ lại chăm chú vào một đồ vật lạ lùng nào đó như như trường hợp một đứa trẻ chỉ thích sưu tầm cây thọc hầm cầu, đến nhà ai là chạy ngay vào phòng tắm để tìm cái đồ lạ lùng này. Chúng rất chú ý vào trật tự sắp xếp của các món tầm thường chung quanh mà người khác không thấy có gì quan trọng và có thể nóng giận, mất bình tĩnh lúc thứ tự của các đồ vật của chúng bị ai đó quấy rầy, xáo trộn. Chúng cũng rất gắn bó với một thói quen, tập tục (routine) nào đó, nếu thay đổi bất thần có thể làm cho chúng rất khổ sở và nóng nảy. Ví dụ nếu đi shopping thì phải đi theo một lộ trình nhất định nào đó, đổi lộ trình sẽ làm chúng bị stress và chướng lên. Một trẻ khác thì chỉ mở lon coca lúc cái vòng của nắp hộp phải hướng về một phía nhất định nào đó.

 Lớn lên, tương quan của đứa trẻ này đối với những người chung quanh cực kỳ rối loạn (extreme and extensive disturbance in relationship with other people). Chúng có vẻ như người máy, nét mặt không tình cảm vì chúng không đọc được tình cảm vui, buồn giận dữ trên nét mặt, điệu bộ người khác và chính đứa bé cũng không có khả năng diễn tả những tình cảm nếu có trên nét mặt hoặc trong điệu bộ của chúng. Ngoài ra chúng ăn uống, ngủ thất thường và có những  tật làm tự tổn thương cơ thể như đập đầu (head banging) vào vách, tự cắn vào tay mình (hand biting).

  Ðứa trẻ cô độc, không bạn bè , không muốn tiếp xúc với người khác, chỉ thích bám víu vào một món đồ vô tri vô giác. Sở thích của chúng giới hạn trong một lãnh vực eo hẹp nào đó. Chúng có thể sưu tầm một loại đồ vật nào đó (như sưu tầm cây thụt hầm cầu nêu trên). Một số trẻ vì có trí nhớ ngoại hạng (trí nhớ như là chụp ảnh, photographic memory), có thể trở thành một loại tự điển sống nhớ vanh vách từng chi tiết của các bản tin thời tiết hoặc hàng trăm con số điện thoại trong niên giám như trường hợp nhân vật trong phim  Rain Man do Dustin Hoffman đóng cách đây mấy năm. Một số thiên tài loại này trong lãnh vực âm nhạc và hội họa chỉ cần nghe bản nhạc hoặc thấy một cảnh nào đó một lần là đàn hoặc vẻ lại ngay , y như máy thu âm hoặc máy thu hình.  Cũng going như danh họa A L? mà chuyện do Lưu Dung kể được nhắc ở đầu bài này, các trẻ này có một tài nghệ xuất chúng trong một phạm vi hạn hẹp nào đó, cùng một lúc với một trí thông minh tổng quát thấp kém và một khả năng sinh hoạt bất bình thường trong đời sống xã hội. Những người có hiện tượng tương phản này trước đây thường được gọi là idiot-savant, nhà bác học đần độn, nay người ta thay bằng từ autistic savant cho bớt vẽ miệt thị đi. Các autistic savant thường được nêu lên trong các sách vở, bài báo hoặc show truyền hình khai thác mẫu chuyện những con người khác thường.

 Hội chứng Asperger.

Tuy nhiên những người rất khác thường và rất hiếm có này chỉ là những trường hợp cùng cực . Có những người cũng mang những triệu chứng tương tự như trẻ bị chứng tự kỷ, nhưng nhẹ hơn nhiều , va  điều quan trọng nhất là mặc dù họ có trở ngại trong khả năng giao tiếp với người khác và thiếu khả năng cảm thông tình cảm (empathy) cũng như bộc lộ tình cảm của họ, trí thông minh của họ vẫn ở mức bình thường hoăc đôi khi trên mức trung bình. Ðấy là những người mắc hội chứng Asperger.

Hoặc Hans Asperger là một bác sĩ nhi khoa người Áo ở Vienna đã mô tả hội chứng mang tên ông trong luận án tiến sĩ y khoa năm 1944. Không mấy ai để ý đến khảo cứu này cho đến ba mươi năm sau đó thì Lorna Wing mới bắt đầu làm giới khoa học để ý đến chứng bịnh này và đặt tên là hội chứng Asperger.

Theo Lorna Wing thì chứng này có những điểm chính như sau:

1.      Lack of empathy: thiếu cảm thông đối với tình cảm của người khác, không biết mình đang làm người khác khó chịu, bực mình chẳhỗn láoúc mình ngồi nói chuyện quá gần người ta..Ðứa trẻ có thể bị hiểu lầm là hỗn láo, đường đột, mất dạy, bất lịch sự..

2.      Naĩve, inappropriate, one sided interaction: " khờ", thái độ ngây thơ ( như hiểu câu nói người khác theo nghĩa đen, không hiểu nói bóng gió, không hiểu nghĩa bóng của câu nói, hoặc lối nói khách sáo), tác dụng đơn phương không để ý tới phản ứng của người khác, đường đột lúc giao thiệp ( ví dụ muốn nói gì mình thích, không biết rằng mình đường đột cắt ngang câu chuyện của người khác, trái với phép lịch sự) .

3.      Inability to form friendship: khó kết bạn hoặc không biết cách kết bạn, kết thân.

4.      Pedantic repetitive speech: ăn nói kiểu theo sách vở, như giảng bài, ưa lập đi lập lại một câu nào đó.

5.      Poor non-verbal communication: không biết dùng dáng điệu, điệu bộ, cử chỉ thích đáng lúc giao tiếp để truyền đạt.

6.      Intense absorption in certain subjects :say mê cao độ một số đề tài nào đó

7.      Clumsy and ill-coordinated movements and odd postures. Ðộng tác vụng về , không được phối hợp đúng mức, thế đứng kỳ cục.

Hội chứng William

 Ðây là một hội chứng hiếm có do di truyền. Ðứa bé nhỏ con từ lúc trước khi lọt lòng mẹ, dáng lùn, mặt nhỏ, dài, khác thường. Ngoài ra còn bịnh tim mạch, rối loạn chất vôi (calcium) trong máu (calcium quá cao,hypercalcemia).

Các bé này, trái ngược vớI các trẻ tự kỷ (autistic), lại có khả năng về ngôn ngữ (verbal ability) cao, ăn nói , viết văn hoa nhưng lại rất đần độn về toán, chẳng hạn đến mức không dám ra đường vì họ không ước tính được chiếc xe đang ở cách mình bao xa hầu tránh đừng bị xe đụng.

 Ðọc tớI đây có thể độc giả bắt đầu nhận ra một nét quen thuộc nào đó trong nhiều người mà mình từng gặp. Một khoa học gia nào đó tuy bằng cấp treo đầy tường nhưng lại rất "gàn", một ngườI náo đó tuy viết văn thì lưu loát văn hoa nhưng lúc đưng lên nói vài lời giản dị thì lại lọng cọng không nói được, một chàng trẻ  tuổi nào đó thì tuy học rộng , khảo cứu hay nhưng lại hơi "tốc", lập dị không ai chịu được (tốc: do tiếng Pháp toqué, khùng). Một số danh nhân có trí thông minh siêu đẳng hoặc thành công vượt bực như Bill Gate và Einstein cũng từng được "định bịnh" là mang chứng Asperger. Do đó, những hội chứng , những cái gọi là bịnh được phân loại, (classified) một cách khoa học nêu trên chỉ là một cố gắng cho thuận tiện việc định bịnh và chữa trị của ngườI trị bịnh (therapist). Thật ra , chúng ta vẫn quen với quan niệm có tật có tài ( nhân vô tập toàn) và nay  chúng ta có thể nhìn dưới một góc cạnh khác và xem cái tật và cái tài chỉ là những biểu hiệu khác nhau, ở mức độ khác nhau của cùng một bản chất thiên phú (hay do di truyền) của một người nào đó.

Nhìn vấn đề như vậy chúng ta có thể tránh bi quan hấp tấp, tránh thái độ vộ? vàng dán những "nhãn hiệu" không tốt ảnh hưởng đè nặng lên suốt cuộc đờI em bé, đồng thờI với sự giúp đỡ của các nhà chuyên môn, nâng đỡ em trong những lãnh vực được phát hiện yếu kém, khai thác những tiềm năng nhiều khi cần đến một người biết thông cảm, không thành kiến như Chu Nguyên Tố trong câu chuyện A Lưu mới khám phá ra được.

Ngày 7, tháng 5, năm 2000

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Về đầu trang