Bệnh Viêm Tủy

Liệt Mềm Cấp Tính Trẻ Em 

(ACUTE FLACCID MYELITIS/AFM)

 

 

 

 

Cuối mùa hè, đầu mùa thu là lúc xảy ra một loại bịnh trẻ em đang được giới y tế công cọng, dịch học chú ý đặc biệt. Các trẻ em đột nhiên bị liệt tay chân, hay có những dấu hiệu như bị đột quỵ (stroke).

Giới y tế công cộng Mỹ đang yêu cầu các bác sĩ cảnh giác với bệnh viêm tủy liệt mềm cấp tính (Acute Flaccid Myelitis/AFM) và báo cáo nhanh chóng khi mùa dịch bệnh bùng phát. (Trong chứng  liệt mềm/flaccid paralysis, cơ yếu và teo lại, giảm trương lực , phân biệt với liệt co cứng /spastic paralysis, cơ co rút lại và cứng lên).

 

Hội chứng AFM hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, triệu chứng đặc trưng là yếu chân tay đột ngột và thường theo sau bệnh hô hấp hoặc bịnh gây sốt. Một số người bị AFM có thể thấy đau nhức. Trong một số trường hợp, AFM có thể ảnh hưởng đến các dây thần kinh kiểm soát các cơ đầu và cổ, gây ra yếu cơ mặt (facial droop, weakness), mí mắt rủ xuống (drooping eyelids) và khó nuốt, nói (slurred speech), hoặc di chuyển tròng mắt (eye movements). Biến chứng nghiêm trọng nhất của AFM là suy hô hấp nếu các cơ liên quan đến hô hấp bị suy yếu. Hầu hết các trường hợp AFM xảy ra ở trẻ em, nhưng đôi khi có thể xảy ra ở người lớn.

 

Cho đến nay, trong năm 2019 đã có 11 trường hợp ở tám tiểu bang và các viên chức cho biết tìm hiểu thêm về AFM là ưu tiên hàng đầu.

 

Kể từ năm 2014, đã có 570 trường hợp ở 48 tiểu bang, thường xảy ra vào cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu. Các dịch lớn nhất đã xảy ra hàng năm, nhưng các chuyên gia CDC (Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật của Mỹ - Centers for Desease Control) vẫn đang cố gắng xác định nguyên nhân của vụ dịch và nói rằng không có gì đảm bảo rằng AFM sẽ theo cùng một mô hình, có nghĩa là cách biểu hiện các triệu chứng có thể thay đổi theo thời gian..

 

Trong một báo cáo mới, CDC (Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật) đã phân tích các trường hợp từ năm 2018, trong đó vụ dịch lớn nhất bao gồm 233 trường hợp được xác nhận ở 41 tiểu bang với độ tuổi trung bình là 5 tuổi. Chỉ dưới một nửa mẫu bệnh lấy từ đường hô hấp và phân là dương tính với enterovirus hoặc rhinoviruses. Người ta nghi ngờ vai trò của các virus, nhất là enterovirus (siêu vi đường ruột).

 

Nếu bác sĩ nghi ngờ bệnh nhân bị AFM, nên tiến hành một loạt thử nghiệm đầy đủ (work up), bao gồm MRI não bộ và tủy sống,  thu thập các mẫu hô hấp, phân, huyết thanh và dịch tủy sống (cerebrospinal fluid) để xét nghiệm. Họ cũng cần báo cáo các trường hợp nghi ngờ cho sở y tế tiểu bang hoặc địa phương.

 

Một số mẫu bệnh phẩm có thể đã thử âm tính vào năm 2018 do sự chậm trễ trong việc thu thập chúng. Thời gian từ khi bịnh nhân bắt đầu yếu chân tay đến lúc bác sĩ thu thập bệnh phẩm (lấy máu thử, lấy đàm nhớt, nước tuỷ sống) trong các trường hợp năm ngoái là 2 đến 7 ngày, trong khi báo cáo với CDC mất đến 18-36 ngày. CDC kêu gọi các bác sĩ thực hiện hai việc này nhanh hơn.

 

Khi bệnh phẩm được thu thập càng sớm càng tốt sau khi xuất hiện triệu chứng, CDC sẽ có cơ hội hiểu rõ hơn về nguyên nhân gây ra AFM, những đợt bùng phát tái phát và phát triển một xét nghiệm chẩn đoán mới. Báo cáo nhanh chóng cũng giúp CDC xác định và ứng phó với dịch bệnh sớm và cảnh báo cho các bác sĩ lâm sàng khác và  cho cộng đồng.

 

Gần đây, Hội đồng các nhà dịch tễ học của các lãnh thổ và tiểu bang Mỹ (Council of State and Territorial Epidemiologists) đã cập nhật định nghĩa “cas bệnh” (case definition) và quy định MRI phải bao gồm bằng chứng về tổn thương tuỷ sống với ít nhất liên quan một phần nào đến chất xám (MRI should include evidence of spinal lesions with at least some gray matter involvement). Tuy nhiên, CDC lưu ý định nghĩa của bác sĩ về chẩn đoán có thể không giống với định nghĩa được sử dụng bởi các viên chức y tế công cộng và các bác sĩ không nên trì hoãn chẩn đoán và điều hành chữa trị trong khi chờ phân loại của CDC.

 

Để ngừa nhiễm trùng bởi các vi-rút liên quan đến AFM, nên cập nhật các loại vắc-xin bại liệt (polio vaccine)và giảm thiểu tiếp xúc với muỗi (một số bịnh như West Nile virus được muỗi truyền sang người). Không có điều trị cụ thể cho AFM. Các phương pháp điều trị đã được thử bao gồm immunoglobulin, corticosteroid, trao đổi huyết tương (plasma exchange) và điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, nhưng không có bằng chứng rõ ràng cho thấy bất kỳ phương pháp điều trị nào ảnh hưởng đến sự phục hồi.

 

Điều trị khác là hỗ trợ và phụ thuộc vào các triệu chứng. Vật lý trị liệu và occupational therapy (trị liệu dùng các hoạt động thường nhật để phục hồi hay cải thiện chức năng sinh hoạt hay làm việc của bịnh nhân)  đặc biệt quan trọng trong quá trình phục hồi. Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng sớm và tích cực hứa hẹn rất tốt, và cũng vì vậy càng định bệnh sớm càng tốt.

Mức độ phục hồi khác nhau. Mặc dù một số người có thể phục hồi hoàn toàn, hầu hết bịnh  nhân tiếp tục bị yếu cơ ngay cả sau một năm. Không rõ kết quả lâu dài.

 

Các bác sĩ lâm sàng có thể được giúp đỡ trong chẩn đoán và quản lý AFM thông qua dịch vụ tư vấn 24 giờ mới với các chuyên gia của University of Texas Southwestern và Johns Hopkins University, được các nhóm sau đây thành lập để đối phó với bịnh AFM đang gia tăng gần đây: the Acute Flaccid Myelitis Workgroup and the Transverse Myelitis Association (Để tham khảo ý kiến ​​chuyên gia,  các bác sĩ có thể truy cập https://bit.ly/2Y2U3VR.)

 

 

References:

1)      https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/13142/acute-flaccid-myelitis

2)      AAP news

3)      https://www.cdc.gov/acute-flaccid-myelitis/afm-investigation.html

 

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Ngày 1 tháng 8 năm 2019