Bài 9

Lúc trẻ đi du lịch vùng nhiệt đới

Năm 1993, nguồn nước cung cấp cho một vùng rộng lớn ở chung quanh Washington. DC bị vẩn đục. Do nỗi lo sợ nguồn nước này bị một loại ký sinh trùng đường ruột tên Crytosporidium nhiễm độc, người ta phải cấm dân chúng uống nước máy trong nhiều ngày và tạo nên một nỗi lo sợ đáng kể trong quần chúng.

Ký sinh trùng này thường cùng lắm chỉ gây ra một bệnh tiêu chảy ói mửa nhẹ ở người bình thường; chúng chỉ gây bệnh nặng ở người mang những bệnh làm sức đề kháng (resistance) của cơ thể yếu đi như bệnh liệt kháng (Aids).

Mặt khác cơ may để một dịch của bệnh này có thể xảy ra cũng rất thấp. Thế mà sau khi cân nhắc lợi hại kỹ càng các cơ quan thẩm quyền về sức khỏe đại chúng (public health) vẫn quyết định bắt buộc quần chúng ngưng dùng nước có thể bị nhiễm độc. Cuối cùng các thử nghiệm phức tạp cho thấy nước máy vẫn an toàn, xài được.

Trường hợp trên cho thấy chúng ta và con cái chúng ta đang sống trong một môi trường hoàn toàn khác hẳn với những nơi kém phát triển hơn về kinh tế (nói chung là thế giới thứ ba trong ngôn ngữ của thời chiến tranh lạnh)

Thật vậy, những vi trùng lởn vởn trong không khí (như vi trùng bệnh lao, tuberculosis), lởn vởn trong nước uống, trong nước đá lạnh, trong cây cà rem (như vi trùng thương hàn, typhoid fever, dịch tả, cholera), những ký sinh trùng như sán lãi, sán sơ mít thường gặp ở Việt Nam, v...v... những món này đều là những thứ rất xa lạ đối với cơ thể của các em lớn lên ở đây và xa lạ luôn đối với những bác sĩ hành nghề tại xứ này.

Kết quả là gì? Trước hết, trừ những bệnh trẻ đã được chích ngừa chống một bệnh trong chương trình chích ngừa phổ cập ở Mỹ (như bệnh yết hầu, ho gà, uốn ván, sốt tê liệt), trẻ con sinh ra và lớn lên tại Mỹ hầu như chưa bao giờ tiếp xúc với những bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam và thường không được miễn nhiễm (immunity) đối với những bệnh đó.

Ví dụ bệnh sốt rét, tiếng Anh gọi là Malaria. Nếu bạn đi du lịch ở Ðông Nam Á châu, Nam Mỹ hoặc Phi châu và bạn đi ra khỏi các vùng đô thị lớn thì bạn có thể mắc bệnh này vì những vùng đó có con muỗi tên là muỗi Anopheles. Muỗi này đốt người và truyền cho chúng ta những con ký sinh trùng nhỏ li ti, phải quan sát bằng kính hiển vi (microscope), gọi là Plasmodium.

Ký sinh trùng này sinh sản ở trong gan của bệnh nhân rồi vào máu xâm chiếm các hồng cầu (red blood cells) và phá vỡ các hồng cầu.

Một cho tới ba tuần sau khi bị muỗi cắn, người bệnh sẽ phát bệnh: Nóng sốt, lạnh run, ói mửa, v...v... Nếu là một người từ nhỏ lớn lên trong địa phương có sốt rét, bạn lần lần đã quen dần với bệnh sốt rét vì có thể bạn đã thực hiện một mức đề kháng (immunity) nào đó chống lại ký sinh trùng sốt rét, và do đó dù có mắc bệnh ít khi bệnh sốt rét làm con bệnh chết. Ðương nhiên, những đứa trẻ sinh tại địa phương đó mà chịu không nổi cơn bệnh thì các trẻ đó đã ngã gục lúc còn thật nhỏ tuổi rồi; đây là một sự chọn lọc tự nhiên để sống còn.

Bây giờ nếu bạn dắt con đã năm mười tuổi đi du lịch về Việt Nam đến những vùng tương đối xa xôi thăm ông nội ông ngoại, con của bạn mặc dù cao lớn hơn, bảnh trai hơn các cháu lối xóm, sức đề kháng của chúng đối với bệnh sốt rét sẽ không thể nào so sánh với sức đề kháng của các trẻ địa phương được. Nếu cháu bé bị muỗi sốt rét đốt và mang bệnh, bệnh có thể nặng và nguy hiểm tánh mạng hơn là đối với một đứa trẻ đồng tuổi trong vùng. Thêm nữa, như trên đã nói, mấy tuần sau bệnh mới phát và lúc đó có thể là bạn không còn ở vùng đó nữa và không còn nhớ đến các con muỗi Anopheles nữa lúc bạn trở về Mỹ.

Bài học rút tỉa từ kinh nghiệm trên là chúng ta nên nhớ con cái chúng ta sinh trưởng ở Mỹ chưa được tiếp xúc nhiều với các bệnh nhiễm trùng (infectious diseases) miền nhiệt đới, và chúng ta phải rất cẩn thận trong các biện pháp phòng ngừa bệnh, đừng để bệnh xảy ra. Như trường hợp bệnh sốt rét trên đây chúng ta có thể ngừa bằng cách tránh đi đến những vùng mà ta biết có muỗi sốt rét. Nếu phải đi có thể cho các cháu uống thuốc ngừa bệnh đúng cách (nếu không đúng cách có thể ngừa không hiệu quả hoặc bị thuốc hành độc), cẩn thận dùng mùng màn chống muỗi, thuốc kỵ muỗi (repellant), v...v...

Ðối với những bệnh truyền nhiễm khác ta có thể chích ngừa cho các cháu trước khi đi như chích ngừa hoặc uống chủng ngừa thương hàn (typhoid fever), và bảo đảm rằng các liều chích ngừa căn bản của chúng đã được thực hiện đầy đủ, nhất là bệnh uốn ván (tetanus), ho gà (whooping cough), bệnh yết hầu (diphtheria), viêm gan loại B (hepatitis B).

Riêng về bệnh viêm gan, nên để ý một loại khác nữa là viêm gan loại A. Bệnh viêm gan loại A (HAV, Hepatitis A) có thể thường gặp ở một số nơi có mức vệ sinh thấp, thường do thức ăn nước uống bị nhiễm virus qua phân của một người khác (oral fecal route) hoặc có khi do ăn các đồ sò hến không nấu chín có nhiễm vi trùng của bệnh này. Trẻ nhỏ có thể bị nhiễm trùng mà không có triệu chứng gì cả. Tuy nhiên thanh thiếu niên, người lớn hơn có thể bị vàng da, mệt mỏi, nóng sốt, sưng gan, v...v... nếu bị nhiễm trùng. Những người mắc bệnh có thải virus bệnh trong phân và nếu không giữ vệ sinh (rửa tay sau khi đi cầu, lúc nấu nướng) có thể truyền bệnh sang người khác. Bạn có thể ngừa được bệnh này bằng cách chích thuốc ngừa chống viêm gan loại A trước khi đi (HAVRIX).

Ðiểm thứ hai chúng ta cần chú ý lúc đem các cháu theo du lịch ở các nước đang phát triển là một số thái độ trị liệu hợp lý ở môi trường sạch sẽ, gần như vô trùng (sterile) ở Mỹ không còn hợp lý nữa. Ví dụ, ở Mỹ nếu con bạn nóng, bạn điện thoại cho bác sĩ và thường bác sĩ nghĩ cháu bị siêu vi trùng (virus) gì đó, uống Tylenol cho đỡ nóng vài hôm sẽ khỏi. Việc này hợp lý ở Mỹ vì thứ nhất phần đông bệnh nóng ở đây thật sự do virus gây ra, không chữa cũng khỏi, chỉ cần giữ cho cháu đừng mệt quá, xuống dốc là được, gọi là trị liệu hỗ trợ, tạm dịch chữ "supportive therapy". Nếu chẳng may con bạn bị bệnh vi trùng gì đó nặng hơn, đêm hôm bạn vẫn có thể kêu bác sĩ dậy và cho con bạn nhập viện vào một bệnh viện trang bị đầy đủ nhất.

Nếu bạn ở Việt Nam, thiển nghĩ bạn phải "đề cao cảnh giác" hơn nhiều, vì một cơn sốt cao với vài đốm lấm tấm đỏ ở da dễ dàng có thể tiến triển thành một bi kịch như chơi với những "hung thần" trong giới gây bệnh cho trẻ con như: Bệnh sưng màng óc (meningitis) có thể làm trẻ chết nhanh chóng trong vòng vài giờ, bệnh sốt xuất huyết (dengue hemorrhagic fever) làm cháu kích xúc (shock) mê man nhanh chóng, v...v... Ngoài ra, lúc cần đến sẽ khó tìm được điện thoại, cuốn "yellow pages" để tìm ông bác sĩ nhi khoa, hoặc tìm cho ra được chai nước biển và cái ống dây chuyền nước còn mới cho con mình. Cho nên, bạn nên cẩn thận thăm hỏi trước và nếu cần tìm thầy chữa chạy sớm, đừng quen thái độ từ tốn như lúc ở Mỹ. (Ngược lại lúc ở Mỹ có lẽ không nên lúc nào cũng sợ cháu "ra ban", sưng màng óc, sốt xuất huyết như lúc còn ở Việt Nam).

Một ví dụ khác là bệnh đi tiêu chảy ở trẻ con. Ở Mỹ phần lớn bệnh đi tiêu chảy của trẻ con là do siêu vi trùng (virus) gây ra. Phần lớn những bệnh do siêu vi trùng này thường sẽ tự giới hạn (self limited), có nghĩa là sau một thời gian nào đó, thường là vài ngày, cơ thể của đứa trẻ sẽ tự mình thanh toán được con virus đó và lành bệnh. Người bác sĩ nhi khoa thường chỉ có việc theo dõi em bé và hướng dẫn cha mẹ cháu cho cháu uống nước, ăn thức ăn nhẹ sao cho vượt qua khỏi lúc cấp kỳ đó một cách yên thắm. Cháu được cho uống nước Pedialyte, uống nước trái cây, v...v... và phần đông không dùng những thuốc "cầm ỉa" phổ biến ở Việt Nam hoặc các thuốc trụ sinh (chống vi trùng).

Nếu bạn bị chứng tiêu chảy lúc đang ở Việt Nam, có thể bệnh nguy hiểm hơn là bạn thường tưởng như lúc ở Mỹ. Cháu có thể bị những vi trùng ít gặp ở Mỹ như vi trùng kiết lỵ (dysentery), ký sinh trùng a-míp, bị ngộ độc vì nước bị nhiễm độc. Mới đây ở New Delhi, Ấn độ, nhiều trẻ em chết nhanh chóng chỉ vì ống nước máy và ống cống (sewage) dẫn nước dơ bẩn phế thải được xây dựng song song với nhau (cũng như những thành phố như Saigon được người Pháp xây) lúc ống hư hỏng thì nước dơ bẩn dồn vào ống nước máy.

Cuối cùng, lúc bạn đã trở về tới Mỹ rồi chưa chắc tất cả mọi việc đã êm xuôi. Một số bệnh chỉ phát triệu chứng một thời gian khá dài sau khi con vi trùng vào người bệnh nhân. Những vi trùng như kiết lỵ do vi trùng có thể sẽ làm cho bạn có những triệu chứng tiêu chảy đau bụng vài ngày sau khi ăn phải thức ăn nhiễm vi trùng đó. Ngược lại bệnh ghẻ từ ngày con ký sinh trùng ghẻ xâm nhập người bạn đến ngày bạn bắt đầu ngứa ngáy lở lói cũng phải mất đến từ hai đến sáu tuần. Bệnh sốt rét cũng vậy, mất vài tuần lễ trước khi bệnh phát ra.

Thời gian chờ đợi này gọi là thời gian ủ bệnh (incubation period), hoặc thời kỳ tiềm ẩn, lúc chưa có triệu chứng mà mầm bệnh đã ở trong người mình. Thành ra lúc phát bệnh có thể bạn đang đứng trước một bác sĩ từ trước đến nay hành nghề ở Mỹ và chưa bao giờ thấy các loại bệnh kiểu "hương xa" (exotic) này và không khéo sẽ định bệnh lầm bạn bị bệnh khác nếu bạn không nhắc cho người chữa bệnh biết rằng bạn vừa ở xứ nào đó xa xôi về và lúc đó bác sĩ sẽ đề cao cảnh giác hơn và nghĩ đến những chuyện chỉ thường gặp ở y khoa nhiệt đới (tropical medicine).

Ðôi khi chuyện xảy ra hàng năm trước cũng còn quan trọng. Thời kỳ tiềm ẩn có thể kéo dài cả năm đối với bệnh dại; bệnh nhân có thể đã quên rằng mình bị con dơi, con chó dại cắn cả năm trước. Những bệnh như sốt rét có thể là nguyên do của một cơn sốt run lạnh cả năm sau chuyến đi chơi ở vùng có bệnh sốt rét do ký sinh trùng Plasmodium malaria, cả mấy chục năm có khi bệnh còn trở lại được (relapse, tái phát).

Tóm lại, chúng ta cần chuẩn bị cẩn thận trước khi đem con cái theo lúc du lịch hoặc thăm nhà ở những xã hội kém phát triển, chúng thường có đề kháng tự nhiêm kém đối với những bệnh tật nhất là bệnh nhiễm trùng tại các vùng này. Chủng ngừa đầy đủ trước khi đi, cẩn thận tối đa đối với thức ăn uống, tránh những nguồn bệnh như kim chích không khử trùng đúng mức, muỗi mòng, kiểm soát các hoạt động tình dục bừa bãi của thanh thiếu niên, chữa chạy do những giới y khoa có thẩm quyền và khả năng ở địa phương, và cho bác sĩ cháu biết rõ chi tiết về các hoàn cảnh sống trong chuyến đi nếu bệnh phát ra sau khi đã trở về. Ða số người đi về đều khỏe mạnh, ước mong những hướng dẫn trên đây sẽ giúp tránh hoặc giảm thiểu những điều đáng tiếc có thể xảy ra.

                                                                                                                                  Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Ngày 19 tháng 8, 1996.

Bài 08 - Tập 1 Về đầu trang Bài 10 - Tập 1