Bài 24

LÚC BÉ SANH THIẾU THÁNG

Bé Kristin nặng 650 gram lúc mới sanh. Nay cháu được ba tuổi, mạnh khỏe hoạt bác. Bác sĩ của cháu kể lại câu chuyện như sau:

"Kristin sinh ngày 7 tháng 6 năm 1981, mẹ cháu mang bầu chỉ được 25 tuần thì sanh cháu. Mẹ cháu 26 tuổi, tự nhiên vỡ nước đầu ối, bị sốt 102 độ, đau bụng sanh. Lần này là lần sanh đầu. Cháu Kristin sanh ngược, rất yếu. Chỉ số Apgar (xin xem đoạn nói về chỉ số Apgar trong bài trước) chỉ được 2 lúc một phút và lúc năm phút thì được 4 điểm. Tim cháu đập chậm lúc ban đầu, cháu chỉ thở thoi thóp và da dẽ xanh xao. Bác sĩ đặt ống thở bằng plastic vào khí quản (trachea) của cháu, và gắn vào máy thở. Cháu không thể tự mình thở một cách hữu hiệu được. Vì cháu ra đời quá sớm, phổi của cháu chưa phát triển đầy đủ, trong phế nang thiếu chất surfactant là một chất làm tăng sức căng mặt ngoài, giúp cho các phế nang giữ được vị trí nở căng. Thiếu chất này các phế nang sẽ có khuynh hướng xẹp xuống, không khí sẽ vào phổi rất khó khăn lúc bé hít vào, do đó dưỡng khí không vào phổi và phổi không thể cung cấp đầy đủ dưỡng khí cho máu đem đi nuôi dưỡng thân thể. Ngược lại, thán khí (CO2) cũng không được đào thải đúng mức và làm tăng độ acid trong máu. Do đó, bé Kristin cần dùng đến máy thở để bơm không khí trộn với oxy vào phổi cháu, làm cho phổi nở ra đúng mức. Lúc đầu máy phải chạy rất nhanh, phải bơm không khí vào phổi đến cả trăm lần một phút, và phải dùng một sức ép (áp suất) cao. Dần dần, phổi bé nảy nở hơn, máy chỉ phải bơm chậm hơn và sức ép đem hơi vào phổi được hạ xuống mức thấp hơn. Dần dần bé có thể tự mình thở được rồi. Người ta rút ống trong khí quản ra và bé chỉ cần một ống đem oxy thêm vào lồng kiếng cho bé dễ chịu.

"Lúc đầu, bé không ăn uống gì được. Lúc này, nguồn dinh dưỡng duy nhất là một dây nước biển chuyền vào tĩnh mạch, đem liên tục những chất dinh dưỡng cần thiết trực tiếp vào máu của cháu.

"Mỗi ngày bác sĩ phải tính toán lượng nước, lượng muối, lượng đường, mỡ, vitamin cũng như lượng chất khoáng mà cháu cần đến và theo đó dùng máy điện tử viết ra công thức của dung dịch được bào chế. Dung dịch nhân tạo này được bào chế trong điều kiện tuyệt đối vô trùng vì bất cứ ô nhiễm nào hoặc một loại vi trùng nào lọt vào giòng máu của bé cũng có thể đe dọa tính mạng của bé được. Dung dịch được truyền vào máu liên tục 24 giờ một ngày, trong suốt hai tuần lễ. Sau đó, người ta thấy cháu đủ sức để tiêu hóa thức ăn qua đường ruột. Người ta đặt một ống cao su nhỏ luồn vào miệng xuống bao tử em bé và nhờ một máy bơm nhỏ bơm liên tục một giòng sữa nhỏ vào ruột em bé.

Bây giờ lại nảy sinh một vấn đề khác. Vì não bộ của em chưa phát triển hoàn toàn, nhịp tim cũng như nhịp thở vẫn còn bình thường, khi nhanh khi chậm. Người ta phải cho cháu theophylline là một chất lấy trong trà và cà phê để kích thích não bộ của cháu, nhờ đó cháu thở mạnh hơn, tim đập nhanh hơn.

"Có lúc cháu ăn không tiêu, nhiệt độ cơ thể hạ xuống thấp, người ta nghi cháu bị nhiễm trùng. Nào là thử máu, thử nước tiểu, thử phân, thử nước tủy sống, chụp hình phổi, chụp hình bụng, siêu âm (sono), biết bao nhiêu thứ cháu phải chịu đựng để sống sót. Có lúc cháu bị nhớt nghẹt phế quản (các ống thở nhỏ trong phổi) làm cháu ngộp thở, tím ngắt. Người ta phải nối cháu vào máy trở lại. Cả tuần sau cháu mới lấy lại sức. Cháu mất nhiều vì ăn uống không được, vì phải thử nghiệm liên miên. Phải truyền máu cả chục lần, mỗi lần chỉ mấy phân khối, tương đương với vài muỗng cà phê máu vì cơ thể bé xíu. Cũng may cháu không gặp rắc rối gì sau khi truyền máu. Cũng may là cha mẹ cháu đồng ý cho truyền máu. Ðôi khi cha mẹ bé thuộc về một giáo phái cấm tuyệt đối việc truyền máu và bệnh nhân đành chịu chết hoặc phải xin án lịnh của tòa án mới được truyền máu cho bệnh nhân. Ngày 24 tháng 7, cháu không cần ống thở nữa và thức ăn chuyền vào bao tử cũng không gây một vấn đề gì. Sau đó cháu lớn nhanh. Vì phải nằm bất động trong nhiều ngày, cháu bị lở loét ở lưng. Tuy nhiên nhờ săn sóc kỹ lưỡng vết thương lành tốt.

Ngày 24 tháng 9, cháu được phép về nhà. Nếu cháu không bị sinh non, hôm nay cũng là ngày cháu đủ ngày đủ tháng. So với một em bé mới sinh bình thường Kristin vẫn còn nhỏ con lắm, tuy nhiên nói chung cháu mạnh khỏe, không có vấn đề gì quan trọng.

Ngày nay, cháu vẫn nhỏ con nhưng cứng cáp lắm rồi. Cháu đi nhà trẻ mỗi tuần ba ngày và có một lô búp bê, trong đó có một búp bê thiếu tháng (trích báo Pediatric Annals).

Bé Kristin thuộc loại may mắn. Không phải trẻ thiếu tháng nào cũng thành công như vậy. Hiện nay trẻ sinh ra nặng dưới 500 gram kể như không hi vọng sống sót. Trẻ cân nặng 500-750 gram hi vọng sống chừng 10%. Nếu trẻ cân nặng trên một kílô, với các phương tiện của y khoa hiện nay hầu hết đều được cứu sống. Một số ít trẻ sống sót bị những dư chứng do những biến chứng gây ra bởi những kỹ thuật hồi sức tân tiến. Máy thở có thể làm phổi bệnh nhân bị hư hại và làm em bé khó thở kinh niên, gây ra những rắc rối về tim mạch. Những mạch máu não có thể vỡ ra trong lúc chúng ta bơm máu và nước biển vào mạch máu bệnh nhân để trị sốc (shock, kích xúc) làm cho một số khu của não bị hủy hoại, sau này đứa trẻ có thể bị những dư chứng về thần kinh. Trường hợp nhẹ, em bé chỉ phát triển chậm đôi chút, học hành không bằng bạn bè hoặc tính tình hơi khác thường. Các trường hợp nặng hơn, đời sống tinh thần của bé có thể bị giới hạn, một số cháu bị tàn tật và cần đến sự chăm sóc đặc biệt tại các trung tâm chuyên môn về nuôi và dạy trẻ em chậm phát triển. Tuy nhiên phần lớn các cháu tương đối sẽ có một mức phát triển thể chất và tâm lý bình thường. Sự phát triển này tùy thuộc vào những sự hư hại gây ra lúc cháu bệnh, mặt khác môi trường sống cũng như cố gắng của các nhà giáo dục phối hợp với cố gắng của cha mẹ để tạo những điều kiện tối ưu cho sự phát triển của em bé cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Ý chí cũng như sự lạc quan tin tưởng của cha mẹ và nhà giáo dục có thể đem đến những tiến bộ không ngờ được.

Gần đây, người ta áp dụng kỹ thuật siêu âm (ultra sound) rất nhiều trong các trại sơ sanh. Nguyên tắc của kỹ thuật này là phóng một luồng siêu âm vào bộ phận cơ thể. Vì thóp (fontanelle) của bé sơ sinh còn hở, người ta có thể cho một luồng siêu âm đi xuyên qua sọ để dò xét các thành phần của não bộ. Siêu âm sẽ dội lại nhiều ít tùy theo các thành phần khác nhau của các mô (tissues) mà siêu âm đi ngang qua. Do đó nếu máu bị chảy ra trong não bộ, người ta sẽ thấy được chỗ máu cháy trên hình ảnh của máy siêu âm (sonogram, siêu âm đồ). Kỹ thuật này không làm cho bệnh nhân phải chịu phóng xạ như là lúc chụp quang tuyến (X-ray, radiography) nên có vẻ vô hại. Tuy nhiên vấn đề lớn nhất là vấn đề tác dụng của kết quả sono trên tâm lý cha mẹ bệnh nhân. Một số cha mẹ cứ lầm tưởng hễ thấy máu chảy nhiều trên sono là em bé sẽ bị tàn tật nhiều và nếu không chảy máu có nghĩa là em bé sẽ lành mạnh. Thật ra, vì kỹ thuật này còn rất mới mẽ, chưa có ai có thể tiên đoán tương lai (dự hậu) của em bé một cách chính xác mà chỉ căn cứ trên kết quả sonogram. Do đó cha mẹ bệnh nhân có thể thất vọng hoặc có thái độ chủ bại không căn cứ làm ảnh hưởng đến sự giáo dục đứa trẻ, gây nên những hậu quả không tốt. Cho nên người bác sĩ nhi khoa nếu muốn cho người cha mẹ biết các kết quả thử nghiệm phải hiểu rõ những giới hạn của chính mình và của y khoa và không nên đưa ra những lời tiên đoán không căn cứ.

Mấy chục năm trước đây, lúc ngành sơ sinh còn phôi thai người ta nghĩ rằng vì em bé cần oxy nên cứ cho càng nhiều oxy càng tốt. Bệnh viện càng lớn thì oxy càng nhiều, các lồng kính lại tốt hơn nên mức oxy càng cao. Sau đó người ta đột nhiên khám phá rằng cháu bé cùng ngửi oxy nhiều lại càng dễ bị mù mắt. Dần dần các cuộc nghiên cứu cho thấy mức oxy quá cao trong máu có hại cho sự phát triển mắt của bé thiếu tháng. Từ đó người ta phải đo lường rất chính xác lượng oxy mà em bé thở và ngăn ngừa số lớn những trường hợp mù mắt nói trên. Tuy nhiên, cơ chế bệnh mắt này vẫn chưa được hiểu rõ. Những trẻ rất thiếu tháng như em Kristin ở đoạn trên cũng dễ bị bệnh mắt và cần sự theo dõi rất sát của bác sĩ mắt (nhãn khoa).

Tóm lại, mỗi trẻ thiếu tháng ra đời là một cuộc thử thách lớn cho cha mẹ cháu, cho cả tập thể bác sĩ cũng như y tá làm việc tích cực, có phối hợp để giữ cho em sống sót trong giai đoạn đầu của cuộc đời và sau đó giúp em có một cuộc sống có ý nghĩa, lúc em lớn lên. Cuộc phấn đấu rất gian khổ và tốn kém nhưng cũng đem lại niềm vui lớn không những cho gia đình của em và cho cả mọi người đã góp tay vào.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

 

Bài 23 Tập 2 Về đầu trang Bài 26 Tập 2