Bài 20

DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM

Trong những xã hội ít tân tiến hơn xã hội Mỹ, vấn đề dinh dưỡng của trẻ em tương đối đơn giản. Hầu hết gia đình đều đông con, mối ưu tư duy nhất chỉ là làm sao chúng không bị đói hoặc cảm thấy thiếu thốn, vấn đề sống còn quan trọng hơn vấn đề phát triển của đứa trẻ. Một số thí nghiệm ở thú vật cũng như ở người cho thấy con thú nhỏ cũng như đứa bé đều có một số bản năng hướng dẫn chúng lựa chọn lượng thức ăn và loại thức ăn thích hợp với nhu cầu căn bản của chúng và giúp cho cơ thể chúng giữ vững quân bình sinh lý của nó. Tuy nhiên khả năng thiên nhiên này chỉ hữu hiệu lúc khi chúng được lựa chọn giữa những thức ăn đơn giản thiên nhiên. Số lượng những thức ăn được chế biến dành cho trẻ con làm cho vấn đề phức tạp hơn nhiều. Từ các formula cho đến các cereal, các loại vitamin, sự bào chế đòi hỏi một kỹ nghệ chế biến tân kỳ và căn cứ trên một nền khoa học về dinh dưỡng tinh vi, vì vậy cách dùng cũng có những chỉ định rõ rệt và dùng những sản phẩm trên không đúng cách có thể đưa đến những hậu quả tai hại.

Năm sáu chục năm về trước, ở Mỹ trẻ sơ sinh cũng chỉ bú sữa mẹ hoặc sữa bò trong suốt mười hai tháng đầu tiên, cộng thêm một chút dầu cá thu để ngừa bệnh còi xương và nước cam để có thêm vitamin C. Hiện nay chúng ta có thể chọn lựa giữa nhiều loại thức ăn khác nhau:

Tốt hơn hết vẫn là sữa mẹ. Tuy nhiên phần đông các bà mẹ ở Mỹ trong cộng đồng Việt Nam vẫn ít khi chịu cho con bú quá một hai tháng đầu. Ðối với người Mỹ nói chung, bú sữa mẹ mang nhiều lợi ích: bé ít khi bị các hình thức dị ứng, ít bị các bệnh nhiễm trùng đường ruột nhờ một số kháng thể do sữa mẹ truyền qua. Do đó trẻ em bú sữa mẹ ít khi bị ọc sữa, ít bị đau bụng (colic), ít bị lác (eczema), ít bị tiêu chảy hơn những trẻ uống sữa formula bào chế từ sữa bò. Mặt khác sữa mẹ có những chất tự nhiên có khả năng ngăn chặn sự sinh sôi nảy nở của một số vi trùng (như Eschirichia coli) hoặc ký sinh trùng có thể gây bệnh đường ruột ở trẻ em.

Một số bác sĩ nhi khoa còn cho rằng sữa mẹ đem đến những lợi ích về lâu dài cho đứa trẻ. Bác sĩ Frank A. Oski, Giám đốc Nhi khoa ở trường Y khoa Hopkins cho rằng sữa mẹ làm cho trẻ ít bị viêm tai giữa (otitis media) trong thời gian đến 7 năm (nên nhớ hầu hết các bệnh viêm tai giữa của trẻ con xảy ra trong 7 năm đầu tiên), có chỉ số thông minh (IQ, intelligence quotient) cao hơn các trẻ khác lúc 7 tuổi và lúc 15 tuổi, ít bị bệnh đái đường và ung thư máu (lymhoma) và có thể làm giảm bệnh động mạch vành (động mạch nuôi tim, coronary artery) ở thanh thiếu niên.

Những lợi ích về lâu dài vừa kể trên của sữa mẹ có thể do tác dụng của một số chất trong sữa mẹ có tác dụng trên hệ miễn nhiễm (immune system) và hệ thần kinh (nervous system) của em bé. Ðặc biệt sữa mẹ có tác dụng làm tăng hoạt động của các tế bào lâm-ba loại T (T lymphocyte) là một trong những tế bào then chốt trong sự phòng thủ của cơ thể; vai trò của tế bào cũng được báo chí khoa học phổ thông nhắc tới nhiều khi bàn về bệnh AIDS (cơ năng tế bào T lymphocyte bị giảm sút nhiều trong bệnh AIDS. Vì virus bệnh AIDS nhắm tấn công các tế bào này làm suy giảm đề kháng cơ thể).

Nuôi con bằng sữa mẹ đem đến cho người mẹ sự thỏa mãn về tinh thần như làm cho tình mẫu tử sâu đậm hơn, giúp ích một phần không nhỏ trong sự tăng cường thể chất cũng như tinh thần của đứa trẻ. Nếu người mẹ mạnh khỏe và ăn uống đầy đủ, sữa mẹ sẽ cung cấp mọi nhu cầu của đứa trẻ ít nhất trong sáu tháng đầu. Trong mấy tháng đầu có thể bác sĩ sẽ thấy cần phải cho em bé một số vitamin phụ trội hoặc sau đó cho thêm khoáng chất Fluor để che chở cho răng của em bé về sau này. Tuy nhiên đây không phải là một nhu cầu tuyệt đối.

Ðiều cần nhớ là một số thuốc men người mẹ uống hoặc chích có thể được tiết ra trong sữa ở mức đáng kể và ảnh hưởng tới sức khỏe của cháu bé. Một số người Việt chúng ta phải uống thuốc ngừa lao INH, thuốc này được tiết ra trong sữa và một số chuyên gia khuyên không nên cho con bú lúc uống thuốc này, tuy nhiên bạn cần hỏi ý kiến bác sĩ của mình. Những thuốc cảm thông thường mà người mẹ uống đôi khi làm cho bé ngái ngủ, đờ đẫn hoặc có thể làm cho bé khó chịu, khóc quấy. Một số thức ăn như sô-cô-la, nước trà, cà phê đôi khi cũng có tác dụng trên sức khỏe của em bé. Tại Mỹ một số bác sĩ khuyên người mẹ nên uống một ly rượu bia mỗi ngày lúc cho con bú để có nhiều sữa hơn; lý do có thể liều rượu nhỏ trong bia làm cho người mẹ thoải mái, dễ chịu và tiết ra nhiều sữa hơn, lý do khác có thể rượu bia chứa một chất kích thích vú sản xuất sữa; vấn đề chưa ngã ngũ còn tranh luận. Tùy theo phong tục mỗi nơi và sở thích mỗi người sẽ có thái độ khác nhau đối với việc uống bia nêu trên, chúng tôi chỉ nhắc đến để các bạn khỏi ngạc nhiên nếu bác sĩ của bạn đề nghị cho bạn uống bia lúc cho con bú.

Như trên đã nói, nhờ các kiến thức mới về dinh dưỡng trẻ em cũng như các tiến bộ của kỹ thuật điều chế sữa nhân tạo (formula), những formula ngày nay được điều chế rất thuần nhất về phẩm chất và đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu của đứa trẻ đang phát triển. Nếu gia đình em bé có trình độ kiến thức vừa phải để dùng sữa formula đúng cách sức khỏe toàn diện cũng như phát triển của cháu bé sẽ không thua kém gì trẻ em được mẹ cho bú đầy đủ.

Hiện nay trên thị trường có chừng trên bốn chục thứ sữa bào chế (formula) khác nhau, do những hãng khác nhau sản xuất và cạnh tranh ráo riết với nhau. Một số sữa formula thịnh hành ở Việt Nam như Guigoz hiếm thấy ở Mỹ. Sự cạnh tranh giữa các hãng sữa đưa đến những chiến dịch quảng cáo rầm rộ, đôi khi làm cho các bà mẹ bị lầm lạc. Chúng ta vẫn còn nhớ những cuốn lịch quảng cáo sữa ở Việt Nam với những bé da trắng hoặc da vàng (sữa Guigoz với bé da trắng tóc quăn, sữa Morigana với bé Nhật Bổn) bụ bẫm dễ thương đi vào tiềm thức của người mẹ những nước thế giới thứ ba nghèo khó và, không ít thì nhiều làm cho người mẹ nghĩ rằng nếu dùng những formula đó mình cũng sẽ có được đứa con mập mạp, bụ bẫm như trẻ trong hình. Người mẹ xứ nghèo do đó không tin tưởng vào khả năng của mình có thể nuôi con bằng sữa mẹ, và do đó ý chí dùng sữa mẹ cũng kém đi, người mẹ không cố gắng cho con bú thì sữa sẽ cạn dần và tiếp tục vòng lẩn quẩn. Mặt khác, như trên đã nói, cho con bú sữa mẹ đòi hỏi một mức kiến thức căn bản ở người cha mẹ cũng như đòi hỏi khả năng tài chánh để mua sữa formula trong suốt một năm trời. Ở những xứ thế giới thứ ba, lợi tức đầu người chừng vài trăm đô la, tất nhiên không thể nào một người đàn bà trung bình có thể chi ra trên một ngàn đôla tiền sữa cho con được. Từ những hoàn cảnh đó, đưa đến những hiện tượng đau lòng như lợi tức cả gia đình dồn vào formula, pha loãng formula, pha loãng formula cho bé bú để đỡ tốn kém, và do đó tạo nên suy dinh dưỡng, đầu cơ formula lúc nguồn cung cấp bị giới hạn, v...v... tạo nên những khó khăn về y tế cũng như về kinh tế cho một xứ vốn nghèo nàn. Cách đây mấy năm một hãng sữa bị quần chúng và các hội đoàn và các hội đoàn Mỹ tẩy chay vì quá hăng say cổ võ dùng sữa formula ở các nước chậm tiến và gây nên những hậu quả tai hại. Do đó hiện nay các hãng sản xuất sữa đều ý thức đến hậu quả tai hại của việc quảng cáo quá lố các loại sữa công thức formula, hãng nào cũng chịu khó phổ biến các tài liệu đề cao sữa mẹ và hướng dẫn các bà mẹ cho con bú sữa mẹ, và luôn luôn ở đoạn cuối sẽ nhắc nhở độc giả rằng sữa formula của họ là gần giống sữa mẹ hơn cả. Cho nên dù trực tiếp hay gián tiếp, người mẹ cũng không thoát được ảnh hưởng của quảng cáo dẫn dụ mình cho con bú formula thay thế sữa mẹ.

Mấy năm nay, lại thêm một cuộc "chiến tranh" nho nhỏ xảy ra giữa các hãng bào chế sữa formula sau khi một hãng sữa "xé rào" rầm rộ quảng cáo formula trên TV, nghĩa là trực tiếp với quần chúng mà không qua trung gian của giới chuyên môn như bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng. Gần đây, một hãng khác cũng quảng cáo formula của mình trên các truyền thông đại chúng và gặp nhiều phản đối trong giới y khoa cũng như từ các hãng sữa khác. Cũng nên để ý đây là một hiện tượng điển hình của chiều hướng lớn hơn trong y khoa Mỹ: Kỹ nghệ bào chế dược phẩm càng ngày càng có chiều hướng đi thẳng đến người bệnh để chiêu dụ, người tiêu thụ mà không qua trung gian các nhà chuyên môn, cho nên người tiêu thụ cần phải giáo dục mình để có một kiến thức căn bản vững chắc, tránh khỏi bị lôi cuốn bởi những luận điệu có tính cách phô trương để chiêu dụ hơn là thực chất khoa học.

Ðối với cộng đồng chúng ta, các ảnh hưởng kinh tế lại càng quan trọng hơn nữa. Theo kinh nghiệm của kẻ viết bài này, số trẻ em Việt Nam ở vùng này bú sữa mẹ lại càng ít hơn mức trung bình của Mỹ. Có lẽ phần đông các bà mẹ hoặc tương đối đông con hơn, hoặc làm việc nhiều giờ hơn, cũng có thể vì một số người được chương trình WIC tài trợ mua sữa nên thấy ... cho con bú formula tiện hơn. Mặt khác, việc cho con bú sữa mẹ cũng làm cho người mẹ phải tự giới hạn việc ăn uống của mình cũng như phải gò bó tránh một số thuốc men lúc mình bị bệnh.

Nói chung, cũng như đối với mọi thức ăn khác, formula gồm ba thành phần chính: Các chất đường (hoặc bột, carbohydrates), chất béo (hoặc chất mỡ, lipids, fats) và chất đạm (proteins). Tùy theo nhu cầu của đứa trẻ, ta có thể chọn một trong những formula trên thị trường. Những trẻ thiếu tháng, một số trẻ bị rối loạn về tiêu hóa cần dùng những formula đặc biệt, không cần bàn thêm ở đây. Ðối với đứa bé bình thường có thể xét đến hai loại formula khác nhau: Loại formula mà protein được lấy ra từ sữa bò (như Similac, Enfamil, v...v...) và formula mà protein được chế biến từ đậu nành (soybased formula) như Isomil, Prosobee, Soyolac. Một số trẻ bị dị ứng với protein của sữa bò (cow milk protein), chịu sữa làm bằng đậu nành hơn, ví dụ chúng sẽ bớt bón hơn, bớt đau bụng hoặc bớt các phản ứng ngoài da. Về phương diện các chất đường (carbohydrates) sữa mẹ cũng như Similac, SMA, Enfamil đều chứa lactose. Một số trẻ nhất là trẻ con Á đông không đủ enzyme để tiêu hóa chất đường này, lúc đó có thể dùng những thứ formula khác dùng sucrose (đường ta thường ăn) hoặc corn syrup. Chất mỡ trong các formula thường được rút ra từ dầu dừa hoặc dầu đậu nành (soy oils).

Nói chung các formula có giá trị dinh dưỡng gần giống nhau. Nếu cháu bú formula đã pha sẵn, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ về việc cho uống thêm Fluor để bảo vệ ngà răng cho cháu lúc lớn lên. Cũng có thể xem cháu có cần uống thêm vitamin hoặc chất sắt hay không, nói chung nếu cháu uống một số formula đầy đủ và formula được tăng cường thêm sắt (iron fortified) thì ít khi phải cho thêm thuốc bổ.

Lúc cháu được bốn đến sáu tháng, có thể cho ăn những thức ăn khác như baby foods, cháo, thịt, v...v... Mục tiêu là làm sao cho cháu bé có thể ngưng formula vào khoảng 12 tháng và uống sữa thường cộng với các thức ăn khác.

Ta có thể cho cháu ăn tuần tự như sau:

5-6 tháng: Cereal và trái cây.

6-7 tháng: Thịt và rau (vegetables)

7-8 tháng: tròng trắng trứng.

Trên đây là thứ tự thêm các thức ăn vào thực đơn của cháu bé chứ không phải thức ăn xếp theo tuổi, chỉ có tính cách hướng dẫn mà thôi.

Phần đông trẻ con Á đông đến tháng thứ 7 hoặc tháng thứ 8 thì không còn lớn nhanh như trước nữa, và số đông chiều cao, cân nặng không còn ngang mức trung bình của trẻ em Mỹ. Qua đến một tuổi cháu thường ăn ít hơn trước làm cho lắm cha mẹ lo âu. Nếu được theo dõi kỹ và không có bệnh gì đáng kể, và nếu cháu vẫn tăng trưởng tuy chậm hơn trước, trong hầu hết các trường hợp chẳng có gì phải lo lắng. Thường cháu sẽ ăn uống nhiều trở lại vào lúc 4 tuổi và lớn nhanh hơn trước.

Nói chung, dinh dưỡng của mỗi em bé tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội cũng như những đặc điểm sinh lý của mỗi em. Nếu cháu ăn được ngủ được, tăng trưởng đều đặn và phát triển tốt về tâm trí thì cha mẹ gần như chẳng còn gì để lo lắng nữa.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Cước chú về dinh dưỡng trẻ em:

Fluor được cho thêm vào nước uống công cộng (fluoridation of community water) để che chở răng khỏi bị hư. Hiện nay, fluor không còn được dùng cho trẻ dưới 6 tháng. Trẻ trên 6 tháng chỉ cần uống thêm fluor nếu không có fluor trong nước uống (như trường hợp chỉ dùng nước bán trong chai/ bình plastic, hoặc ở vùng dùng nước giếng có mức fluor thấp). Nên nhớ, kem đánh răng thường có lượng fluor đáng kể, lúc dạy cháu bé đánh răng chỉ nên dùng một lượng kêm càng ít càng tốt (bằng hạt đậu nhỏ, chỉ đủ trét trên đầu bàn chải). Nhiều fluor quá có thể làm răng bé bị lốm đốm, xấu và dễ hư (fluorosis). Cho nên dùng fluor thêm hay không phải xét từng trường hợp.

Trẻ con bú sữa formula lắm khi gặp nhiều vấn đề do bé không chịu một chất nào đó trong formula. Hiện nay những sữa formula không? chứa lactose thường được kèm theo tên lactofree hoặc lactose-free. Một số trẻ phản ứng với chất protein của sữa bò (cow milk protein) làm cháu đi cầu ra máu, đau bụng, cần dùng những sữa formula được chế biến cao độ hơn (các phân tử protein sữa bò được bẻ ra từng đơn vị nhỏ hơn, ít gây dị ứng hơn). Nên hỏi ý kiến bác sĩ nhi khoa của cháu về bệnh này vì định bệnh phân biệt (differential diagnosis) với các bệnh khác khó. Không nên nhảy từ formula này qua formula khác, làm rối loạn định bệnh và có thể lỡ cơ hội chẩn đoán một số bệnh quan trọng và nguy hiểm.

Trẻ con Việt Nam ở Mỹ lúc mới biết đi có khuynh hướng uống quá nhiều sữa bò mà không ăn uống những thức ăn khác như thịt, cá, rau. Do đó các cháu thiếu nhiều chất quan trọng, đặc biệt là chất sắt (iron) gây ra bệnh thiếu máu do thiếu chất sắt (iron deficiency anemia). Thiếu chất sắt cũng ảnh hưởng đến phát triển của nhiều bộ phận khác và nhất là của tâm trí, trí thông minh của đứa trẻ.

Về mật ong: Nên nhớ đừng cho bé ăn uống mật ong (honey) trong 12 tháng đầu. Một số trường hợp tuy hiếm nhưng có thể xảy ra, một vi khuẩn tên Clostridium botulinum có thể nhiễm vào ruột em bé và gây bệnh ngộ độc botulinum (infant botulism). Vi khuẩn sinh sống trong ruột bé và thải ra một chất độc (toxin) làm bại liệt em bé, không ăn uống và không thở được, khó chữa và kéo dài. Một số bé dù không ăn mật ong cũng có thể bị bệnh này. Nên cẩn thận đi khám bệnh ngay nếu bé bỏ bú, không nút được hoặc không cử động linh hoạt như thường ngày.

(Muốn biết thêm chi tiết, xem bài CHẤT SẮT VÀ BỆNH THIẾU MÁU VÀ NHIỄM TRÙNG DO THỨC ĂN, trong cuốn Nuôi con Việt trên đất Mỹ, số 1).

 

 

Bài 19-Tập 2 Về đầu trang Bài 21-Tập 2