Bài 17

BA THÁNG ÐẦU ÐỜI: MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG KHẨN CẤP.

Ngày xưa ở Việt Nam ta em bé sau khi ra đời không được đặt tên ngay. Suốt ba tháng đầu người mẹ cũng như em bé ít được ra ngoài, ít tiếp xúc với người ngoài. Một số nơi người đàn bà phải sanh ở một nơi cách biệt và thăm viếng chỗ ở của người đàn bà mới sanh được coi như có thể đem đến nhiều điều không may.

Ðứng về quan điểm y học, có thể những phong tục trên cũng có lý một phần nào. Ngày xưa tỷ lệ tử vong của bé sơ sinh rất cao, nếu sau một tháng bé vẫn còn mạnh giỏi thì có lẽ hy vọng sống sót lớn lên thành người mới gọi là đáng kể. Nếu chẳng may cháu không sống được quá tháng đầu tiên có lẽ sự mất mát sẽ ít đau đớn hơn nếu cháu chưa có tên tuổi gì cả. Nhi khoa hiện đại cũng đồng ý với quan điểm trên. Hiện nay giai đoạn sơ sinh (neonatal period) được định nghĩa như là bốn tuần đầu sau khi lọt lòng mẹ, nghĩa là tương đương với một tháng âm lịch. Hai mươi bốn giờ đầu tiên là giai đoạn gay cấn nhất. Trong số trẻ phải chết trong năm đầu thì hết 40% sẽ chết ngay trong 24 giờ đầu tiên. Nói một cách khác, nếu bé được ăn đầy tháng thì cháu đã thoát được hết hai phần ba của những "cạm bẫy" của năm đầu tiên và được gần như tai qua nạn khỏi.

Lúc "đốt phùng long", lúc cháu được 100 ngày (ba tháng mười ngày) cũng là một cái mốc quan trọng đứng về phương diện y học. Bé sơ sinh không có đầy đủ những khả năng đề kháng như một trẻ ba bốn tháng. Lúc đầu một phần sự đề kháng (khả năng chống lại nhiễm trùng) tùy thuộc vào những chất kháng thể từ máu mẹ truyền qua lúc cháu còn trong bụng mẹ. Một số kháng thể cũng được truyền qua từ sữa mẹ nếu cháu được mẹ cho bú. Hệ thống phòng thủ của cơ thể em bé mặc dù có đủ các yếu tố cần thiết vẫn chưa hoạt động đúng mức và do đó em bé không đủ khả năng chống lại các sự xâm nhập của vi trùng mà đáng lẽ ra không gây bệnh trong hoàn cảnh thông thường.

Một số những vi trùng được truyền qua từ mẹ trước hoặc trong lúc sanh. Những vi trùng này đôi khi vô hại đối với người bình thường và không gây triệu chứng gì ở người mẹ. Tuy nhiên vì sức đề kháng của bé sơ sinh còn yếu, chính những vi trùng đó lại gây những bệnh chết người ở bé sơ sinh. Ví dụ Streptococcus nhóm B là một loại vi trùng thường thấy ở bộ phận sinh dục đàn bà. Một số nhỏ bé sơ sinh bị nhiễm vi trùng này gây ra sưng phổi nặng, sưng màng óc rất nguy kịch.

Một số vi trùng khác gây bệnh nhẹ ở người mẹ, nhưng lại rất tai hại ở trẻ sơ sinh. Gần đây người ta nói đến nhiều trên báo chí và ti vi về bệnh Herpes là một bệnh do siêu vi trùng gây những vết lở và những mụt nước ở bộ phận sinh dục. Nếu người mẹ mắc bệnh này lúc em bé lọt lòng em sẽ bị nhiễm siêu vi trùng herpes. Bệnh này rất nặng vì nhiễm vào hệ thần kinh của em (viêm não) và có thể chết người. Người ta ngăn ngừa bệnh ở em bé bằng cách sanh giải phẫu (cesarian section) nếu người mẹ mang những vết loét hoặc mụn nước như tả ở trên và phòng thí nghiệm xác nhận do siêu vi trùng herpes.

Ngoài ra những vi trùng từ người mẹ truyền qua, có những bệnh từ bên ngoài mang đến. Cháu có thể bị nhiễm trùng đường tiểu, nhiễm trùng đường tiêu hóa. Vấn đề quan trọng là những nhiễm trùng này có thể lan rộng và xâm nhập các bộ phận trọng yếu trong 2-3 tháng đầu tiên.

Trong mấy tháng đầu thật khó ước lượng được tầm mức nặng nhẹ của cơn bệnh mà không nhờ đến phương tiện phòng thí nghiệm. Một em bé một hai tuổi nếu bệnh nặng sẽ thường lên cơn sốt cao, bỏ ăn, kêu nhức đầu, ói mữa, v...v... và cha mẹ sẽ lo lắng tìm bác sĩ chữa chạy.

Ngược lại trong mấy tuần đầu nhiều lúc cơ thể em bé không đủ sức để tạo nên một cơn sốt mặc dù bị nhiễm trùng nặng. Thay vì sốt, đôi khi người bé lại lạnh đi. Bé có thể ọc sữa đôi chút và không muốn bú. Có thể bé chỉ hơi nóng chút ít thôi. Hoặc có thể bé ít vận động hơn, không cười nữa.

Nói tóm lại, trên lâm sàn không có triệu chứng gì rõ rệt, chỉ có một cảm giác chung chung là em bé không được khỏe. Vấn đề này rất quan trọng đối với chúng ta vì những lý do sau đây.

Ða số chúng ta đều nói được tiếng Anh, người nói giỏi, người nói kém hơn. Một số người không nói được tiếng Anh. Khi người mẹ đem con vào phòng cấp cứu vì thấy con mình không được khỏe lúc nửa đêm hoặc đem đến phòng mạch tư, người bác sĩ sẽ hỏi một số câu hỏi căn bản như : Bé bệnh từ lúc nào, có ói mữa không, có bú được không, có "fussy" không, có "lethargic" không, v...v... Ðây mới là lút kẹt. Vì một phần lơn của định bệnh sẽ tùy thuộc vào hai tiếng fussy và lethargic này. "Fussy" có thể dịch ra là "quấy", "khóc", "nhõng nhẽo", "cự nự", "khó dỗ", "băng hăng". "Lethargic" là "lờ đờ", "mê", "mệt". Thêm nữa, một số bác sĩ phòng cấp cứu tại các bệnh viện chưa bao giờ có con và không thật sự biết con nít bình thường "fussy" tới mức nào và lúc bệnh chúng sẽ "lethargic" đến mức nào. Theo sách vở hể sốt và "lethargic" thì nghĩ tới nhiễm trùng hệ thần kinh. Vậy thì phải cho nằm nhà thương, thử máu, thử nước tủy sống, v...v.... Cha mẹ bệnh nhân có thể cho rằng như vậy là quá cẩn thận. Tuy nhiên vì lứa tuổi đặc biệt của bệnh nhân, làm vậy vẫn hợp lý, đúng với tiêu chuẩn y khoa hiện nay, vì như chúng ta đã bàn ở trên, một sơ sót nhỏ cũng có thể rất tai hại đối với bệnh nhân lẫn bác sĩ. Ðiều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là chúng ta phải ý thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong khi trình bày bệnh trạng của em bé. Nếu chúng ta không chắc người bác sĩ hiểu rõ những điều chúng ta muốn diễn đạt, chúng ta không nên ngần ngại đòi hỏi một người thông dịch có đủ khả năng trước khi ta quyết định, trừ trường hợp tuyệt đối khẩn cấp. Người thông dịch đôi khi cũng không nắm vững những từ ngữ chuyên môn, nếu ta không đồng ý phải yêu cầu dịch lại cho rõ.

Một trong những trường hợp dễ hiểu lầm nhất là lúc bé vặn mình, trợn mắt hoặc giật mình, hoặc co giật làm kinh. Ngay cả người Mỹ nhiều khi cũng không kể lại được rành mạch bằng tiếng Anh chuyện gì đã xảy ra. Một đôi khi người cha mẹ chỉ thắc mắc tại sao con mình ngủ đưa tay lên giật mình (thông thường ở trẻ con) thì bác sĩ lại hiểu rằng bé làm kinh. Ngược lại đôi khi bé làm kinh thật sự, mắt trợn trắng, tay chân co rút hoặc duỗi thẳng cứng, thì cha mẹ không biết phải mô tả ra sao bằng tiếng Anh nên ngại không nhắc đến. Gần đây một bệnh nhân đem con vào bệnh viện. Cháu sốt ba ngày, làm kinh nhiều lần nhưng bố em không đủ khả năng giải thích cho bác sĩ rõ, bác sĩ cứ đinh ninh em bị sốt thường vì nhiễm trùng tai. Ngày hôm sau em trở lại với những triệu chứng rõ ràng hơn và làm kinh ngay trong pòng mạch của bác sĩ vì em bị sưng màng óc.

Tóm lại, chúng ta nên chú ý những điểm sau đây:

Trẻ dưới 3 tháng có sức đề kháng rất yếu và dễ bị nhiễm trùng hơn các trẻ khác.

Bé có thể bị bệnh nặng mà không có triệu chứng gì rõ rệt.

Nên đem cháu đi khám bác sĩ quen thuộc với lứa tuổi này lúc cháu đang sốt đáng kể (thường là trên 100 độ F ở nách hoặc có vẻ khác thường như lừ đừ, bỏ bú, không chơi.

Tùy theo trường hợp, sau khi hỏi bệnh và khám bác sĩ sẽ quyết định nên thử nghiệm nhiều hay ít.

Quyết định này tùy theo bác sĩ có quen thuộc với bệnh nhân và gia đình bệnh nhân hay không. Nếu bác sĩ nghĩ rằng có thể theo dõi an toàn ở nhà được, cách chữa trị có thể từ tốn hơn, ít ào ạt hơn là trường hợp bác sĩ lo ngại không chắc sau khi rời khỏi phòng cấp cứu bệnh nhân có được săn sóc kỹ lưỡng hay không.

Nếu nghi ngờ cháu bị nhiễm trùng thật sự, bác sĩ sẽ cho cháu nhiều thử nghiệm để xem bệnh ở đâu, nhất là xem cháu có bị nhiễm trùng máu, đường tiểu và hệ thần kinh (như viêm màng não hay không) (to rule out sepsis, urinary tract infection and meningitis).

Do đó bác sĩ có thể đề nghị một số thủ thuật hơi rắc rối như: Thông đường tiểu hoặc chọc bọng đái (suprapubic tap), chọc lấy nước tủy sống, làm cho bạn đắn đo.

Hiện nay (1999), so với mấy năm trước, bác sĩ có khuynh hướng ít cho bệnh nhân nằm nhà thương hơn trước nhiều, bác sĩ tư của em bé sẽ theo dõi em những ngày sau đó.

Phần cha mẹ bệnh nhân nên diễn tả rõ ràng, chính xác. Dùng thông dịch viên nếu cần. Tốt hơn hết nên nhờ bác sĩ riêng em bé tiếp xúc với bác sĩ cấp cứu và phối hợp với họ nếu có thể được.

 

Bài16 Về đầu trang Bài18