Bài 12

MỘT SỐ CÂU CHUYỆN VỀ BỆNH TAI

Cách đây mấy chục năm, mỗi lần em bé đi khám thường bác sĩ chú ý nhiều tới hai hạch hạnh nhân trong họng bé ("a-mi-dan") và một phần lớn trị liệu trong nhi khoa xoay quanh việc chăm sóc các hạch hạnh nhân đó. Nếu "amidan" lớn hơn trung bình, bé thường sẽ được đi giải phẫu cắt amidan. Một số lớn bệnh nhân cũng như bác sĩ tin tưởng nếu thanh toán được cái hạch đó thì sẽ giải quyết hầu hết mọi chuyện và bé sẽ chóng lớn, ăn ngon, ngủ được, v...v... Bệnh tai thường không được chú ý tới nhiều, hoặc chỉ được để ý đến lúc đã trễ, thường là lúc mủ đã chảy từ lỗ tai. Những biến chứng do nhiễm trùng tai rất thường xảy ra ở xứ ta: Bệnh nhân đau tai kinh niên, bị điếc, một đôi khi nhiễm trùng lan từ tai qua não, màng óc và gây những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

BỆNH TAI TRONG NHI KHOA HIỆN NAY

Cuộc sống tại Hoa Kỳ khác xa hoàn cảnh kinh tế xã hội tại Việt Nam trước đây, y khoa cũng thay đổi nhiều. Hiện nay ở Mỹ, khi bạn đem con đi khám, người ta sẽ rất chú trọng đến hai tai của cháu, và đôi khi bạn phải khám đi khám lại nhiều lần chỉ vì bệnh tai của cháu không khỏi hẳn. Vai trò cái hạch "amidan" không còn trọng đại như trước, người ta nhận thấy đứng về phương diện sinh lý chúng có vai trò bảo vệ cơ thể giống như hai tên gác cổng ra vào, cho nên chúng có nhiều công hơn là tội như người ta vẫn tưởng. Nếu chẳng may chúng có bị nhiễm trùng, phần lớn các trường hợp vẫn có thể dùng thuốc chữa dứt được.

XEM TƯỚNG TAI

Thật ra trong dân gian, chúng ta vẫn thường chú ý đến hai tai. Trong tướng số, hình dạng hai tai cũng quan trọng: Ta thường gọi những nhân vật "tai to mặt lớn" để chỉ những người quan trọng có địa vị, và chúng ta cũng thường chiêm ngưỡng trái tai dài và lớn và bộ tai đầy đặn của những bậc lão trượng hoặc của những bức tượng cổ. Ở Mỹ, nơi mà màu da quyết định một phần đáng kể thành công trong xã hội, người Mỹ đen thường muốn đoán trước xem em bé sơ sinh lúc lớn lên sẽ đen nhiều hay ít. Và theo một số khảo cứu, người ta nhận thấy màu sắc bờ tai ngoài của em bé lúc mới sinh tương tự màu da em bé lúc lớn lên. (Sở dĩ phải rắc rối như vậy vì đa số các trẻ sơ sinh đều hồng hào gần giống nhau dù da vàng, da đen hay da trắng nên nhìn chung màu da lúc mới sanh khó tiên đoán được màu da sau này lúc lớn lên).

DỊ DẠNG TAI BẨM SINH

Nếu bé sinh ra với dị dạng tai bất bình thường, ta phải xem tật bẩm sinh đó có đi đôi với một vấn đề gì khác nữa không. Nếu vành tai ngoài nhỏ hoặc dị dạng, đôi khi trẻ thiếu mất những bộ phận của tai giữa (middle ear, tức là phần phía sau màng nhĩ) hoặc ống tai (ear canal) của bé bị nghẽn làm cho bé bị điếc. Ðôi khi, những bộ phận khác cũng bị liên hệ: Một số trẻ có tật bẩm sinh ở thận, hoặc những rối loạn trong sự phát triển của xương hàm mặt.

Một số bé sinh ra với nhiều dị hình do nhiễm thể (chromosome) của bé bất bình thường. Một số trẻ loại này có hai tai nằm thấp hơn bình thường (low-set-ears). Ðại khái, nếu bờ trên của tai nằm dưới đường chạy ngang khóe mắt, có thể cho là tai nằm quá thấp. Một số bé trai chậm phát triển có tai lớn và dài và dịch hoàn lớn vì nhiễm thể X bất bình thường (Fragile X syndrome). Một số trẻ sinh ra với một miếng thịt dư nhỏ phía trước tai, đôi khi lại là một lỗ nhỏ phía trước tai. Những dị dạng nhỏ này là vết tích của phát triển bào thai trong bụng mẹ. Ða số có thể chữa trị dễ dàng, một đôi khi cần giải phẫu rắc rối hơn vì dị dạng chạy sâu vào những bộ phận dưới da. Một số trẻ bị tai giảo ("lop"ear) vì sụn vành tai không cong và xếp lại bình thường. Có thể giải phẫu thẩm mỹ lúc cháu khá lớn (trên 5 tuổi).

TRẺ BỊ ÐIẾC TỪ LÚC TRONG BỤNG MẸ

Ðôi khi, bé sinh ra với đôi tai bình thường nhưng cháu vẫn bị điếc. Nguyên do có thể một loại thuốc nào đó người mẹ dùng trong lúc có thai như ký-ninh (quinine), Strepto mycine (trụ sinh thường dùng để trị bệnh lao), Kanamycine. Ở Mỹ, quan trọng hơn nữa là tác dụng của xì ke, ma túy và rượu trên thai kỳ. Một số siêu vi trùng cũng gây điếc cho em bé nếu người mẹ bị nhiễm trùng lúc có thai. "Rubella" là một bệnh ban (rash) nhẹ, có thể xảy ra ở người lớn.

Người đàn bà có thai mắc bệnh này không thấy triệu chứng gì nhiều. Hơi nóng, mệt, nổi hạch sau tai. Ban tựa như ban đỏ xuất hiện ở mặt xuống cổ rồi lan qua mình mẩy. Ba ngày sau thì các vết đỏ biến mất. Tuy nhiên bệnh lại rất tai hại cho bé còn nằm trong bụng nếu bệnh xảy ra trong ba tháng đầu của thai kỳ. Thai có thể bị chết hoặc nếu sống sót có thể mang những tật bẩm sinh nặng ở tim, mắt, tai hoặc bị đần độn hoặc những bệnh nặng về máu huyết. Cũng may khoảng 90% phụ nữ đã từng bị bệnh này lúc còn nhỏ nên không bị mắc bệnh lúc có thai; nghĩa là những phụ nữ này đã được miễn nhiễm tự nhiên (immune). Hiện nay lúc bạn đem con đi khám bác sĩ nhi khoa lúc cháu được 12 tháng, bác sĩ chích ngừa MMR cho cháu để ngừa ban đỏ (measles), quai bị (mumps) và Rubella là bệnh của chúng ta đã bàn ở trên. Mục đích chính là làm cho tất cả các trẻ em gái được miễn nhiễm trước khi các em lớn lên.

NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHÁC

Một số nguyên do khác cũng có thể làm cháu bị điếc. Những trẻ sơ sinh thiếu tháng, những trẻ sinh khó khăn (kiềm, hút, sanh lâu) có thể bị ảnh hưởng đến thính giác. Trong bệnh vàng da trẻ sơ sinh, chất bilirubin trong máu quá cao có thể ảnh hưởng đến tai của bé.

Qua khỏi giai đoạn sơ sinh, bệnh sưng màng óc (meningitis) là một nguyên do quan trọng làm cho trẻ em bị điếc do tổn thương ở những dây thần kinh thính giác. Những trẻ này phải được theo dõi về thính giác (khả năng nghe) để điều trị nếu cần.

NHIỄM TRÙNG TAI GIỮA (OTITIS MEDIA)

Thường gặp hơn, những bệnh nhiễm trùng tai ở trẻ em là một mối nhức đầu thường xuyên của các bậc cha mẹ nhất là trong những tháng mùa đông. Nhiễm trùng dai dẳng ở tai có thể ảnh hưởng đến thính giác của cháu bé, và do đó ảnh hưởng đến phát triển tâm lý của cháu. Vấn đề phức tạp và đặt nhiều câu hỏi chưa giải quyết về phương pháp trị liệu và về tầm quan trọng của bệnh.

Phần lớn trẻ bị sốt, khó chịu, than đau tai, đôi khi ói mửa, đi tiêu chảy mặc dù vấn đề chính nằm ở tai. Thường bác sĩ sẽ dùng đèn soi tai (otoscope), chẩn đoán ra bệnh viêm tai (otitis) căn cứ trên sự sưng đỏ của màng nhĩ và khả năng di động (nhúc nhích) của màng nhĩ lúc thay đổi áp suất trong tai (lúc bác sĩ bóp vào trái banh cao su thông vào tai). Phần lớn các trẻ sẽ thuyên giảm sau vài ngày đến vài tuần. Lắm khi phải chữa đi chữa lại nhiều lần bằng nhiều loại thuốc khác nhau, theo dõi bằng các máy móc phức tạp hơn (như làm tympanogram để thăm dò tình trạng tai giữa) hoặc giải phẫu đặt ống thông tai giữa (ear tube) và phải cần đến sự giúp đỡ của bác sĩ chuyên về Tai Mũi Họng, chuyên về bệnh dị ứng (allergist), và một số chuyên viên khác về tai. Mục đích là làm sao cho em bé giữ không bị ảnh hưởng, vì thính giác (hearing) đóng một vai trò tất yếu trong sự phát triển ngôn ngữ cũng như tâm trí và tình cảm. Mặt khác, trong y giới vẫn còn tranh luận sôi nổi về căn bệnh tương đối đơn giản này. Những câu hỏi như: Vai trò của vi trùng trong bệnh viêm tai như thế nào, dùng trụ sinh (antibiotic) có ích lợi gì trong việc thanh toán bệnh này không, dùng trụ sinh lâu dài có hại gì cho bệnh nhân hay không, đặt ống thông tai giữa có lợi hoặc có hại gì về lâu dài; sự hiện diện của nước trong tai giữa (middle ear effusion) có làm cho đứa bé lãng tai và học kém hơn những đứa trẻ khác hay không, v...v...

Người bác sĩ trị bệnh trẻ con lắm khi phải đắn đo cân nhắc giữa những môn phái khác nhau, tránh phó thác hoàn toàn bệnh nhân cho những chuyên gia mà không để ý đến từng hoàn cảnh riêng từng cháu một. Ðây cũng là một trong những lãnh vực của y khoa ở đó khoa học chữa bệnh và nghệ thuật chữa bệnh đóng vai trò quan trọng như nhau.

 

Bài11 Về đầu trang Bài13