Bài 4

NUÔI CON Ở MỸ, NHỮNG VẤN ÐỀ
VÀ NHỮNG TIẾN BỘ TRONG NHI KHOA

Mười năm là một khoảng thời gian dài trong một đời người. Ðối với khoa học mấy thế kỷ trước mười năm chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi ít khi đánh dấu được một biến chuyển trọng đại. Tuy nhiên đối với nhịp tiến triển của khoa học hiện nay, mười năm có thể đem lại những thay đổi mà trước đây hàng thế kỷ chưa chắc thực hiện được. Theo những ước tính hiện nay, có lẽ toàn bộ những kiến thức y khoa hầu như hoàn toàn đổi mới trong vòng dưới 10 năm. Ở Mỹ hiện nay nhu cầu cập nhật hóa đối với y giới càng ngày càng mạnh mẽ. Các bác sĩ phải thường xuyên theo dõi những khóa "giáo dục y khoa thường xuyên" (continual medical education, viết tắt là CME), một số tiểu bang đòi hỏi phải có một số giờ tối thiểu CME mới cho license hành nghề tiếp, các ngành chuyên khoa cũng có khuynh hướng cấp chứng chỉ giới hạn trong một số năm nào đó, bác sĩ được hội đồng chuyên khoa chứng nhận là chuyên môn trong khoa đó (board certified) sau một số năm phải thi lại, nếu thi không lọt sẽ không còn được chứng nhận là đủ khả năng chuyên môn trong ngành đó nữa.

Bệnh nhân Việt trên đất Mỹ

Riêng đối với người Việt Nam chúng ta, mười năm qua lại càng mang những thay đổi lớn lao hơn nữa. Chúng ta trước đây sống trong thế giới "thứ ba" nghĩa là về phương diện khoa học kỹ thuật lạc hậu rất nhiều so với những nước tân tiến như Hoa Kỳ. Mặt khác dân trí của chúng ta cũng thấp hơn nhiều. Những kiến thức có vẻ như rất căn bản đối với một người dân ở Mỹ như những khái niệm về vệ sinh cá nhân, phòng bệnh, kiến thức về dinh dưỡng, về tính dục có thể rất còn ít khi được phổ biến ở Việt Nam, một phần vì giới hạn của các phương tiện truyền thông, một phần vì trình độ học vấn của chúng ta thấp hơn và có lẽ một phần do các dị biệt về văn hóa, người HK có vẻ chăm sóc đến thể xác họ nhiều hơn chúng ta và sợ chết hoặc sợ bệnh tật hơn hầu hết mọi xứ khác. Thật vậy, xã hội Mỹ có vẻ được y khoa hóa cao độ và chiều hướng chung vẫn là muốn dùng phương tiện y khoa dù là thuốc men, phẫu thuật, máy móc để giải quyết đủ mọi thứ chuyện từ chứng lo âu mất ngủ cho đến bệnh trẻ em không thích ứng với học đường, chứng suy nhược thần kinh hoặc chứng phì mập vì ăn quá độ.

Chữa bệnh tại Việt Nam

Mười mấy năm trước hành nghề tại Việt Nam trong ngành chữa bệnh cho con nít ưu tư đầu tiên vẫn là những bệnh do nhiễm trùng gây ra. Năm 1980 tại Sàigòn vẫn còn có bệnh viện dành riêng cho bệnh truyền nhiễm và trong khu Nhi (trẻ em) cũng có những khu dành riêng cho các loại bệnh lây này. Những bệnh như dịch hạch, thương hàn, bệnh dại do chó cắn, bệnh ban đỏ vẫn còn hoành hành. Các trại săn sóc đặc biệt dành cho các trẻ nặng la liệt các cháu bị sốt xuất huyết, sưng màng óc, màng phổi, sưng mủ, v...v... Phản ứng đầu tiên của các cha mẹ lúc con bị sốt là nghĩ ngay đến sự đe dọa của các căn bệnh truyền nhiễm nói trên và trong phần lớn các trường hợp công việc đầu tiên của bác sĩ là cho cháu bé một thứ thuốc trụ sinh nào đó để hy vọng chặn cơn bệnh càng sớm càng tốt, thường không đủ thì giờ và không đủ phương tiện để dùng những phương pháp thử nghiệm (testing) để xem cháu có thật sự nhiễm trùng (infection) hay không. Người y sĩ ở phòng mạch chủ yếu dùng khả năng "bắt mạch" của mình dựa trên những triệu chứng lâm sàng (clinical signs) và theo hoàn cảnh bệnh lý cũng như tài chánh, xã hội của bệnh nhân, chữa trị cho hợp tình hợp lý, hợp với khả năng tài chánh của gia đình bệnh nhân. Lương tâm chức nghiệp hướng dẫn người bác sĩ và đa số gia đình bệnh nhân chấp nhận mọi kết quả dù tốt dù xấu có thể xảy ra.

Khoa học kỹ thuật trong y khoa Mỹ

Bối cảnh trị bệnh trẻ em tại Mỹ khác xa. Y khoa Mỹ đặt nặng vai trò các phương tiện khoa học kỹ thuật trong việc tìm ra nguyên do chứng bệnh. So với cả những nước tân tiến khác như Anh, Pháp, bác sĩ ở Mỹ có khuynh hướng dùng "test" để tìm bệnh nhiều hơn gấp mấy lần. Như vậy có khi bệnh nhân sẽ không được xài thuốc men gì cho đến khi bác sĩ đã hoàn tất một số khảo sát sơ khởi, và cha mẹ bệnh nhân đôi khi sốt ruột nhìn con mình bị "hút máu" năm lần bảy lượt mà cháu bé vẫn "chưa được một viên thuốc" nào cả, và lắm khi hỏi bác sĩ thì cũng được trả lời một cách ngay tình rằng bác sĩ chưa biết cháu bị bệnh gì rõ rệt. Sự sốt ruột của cha mẹ càng tăng hơn nữa nếu chúng ta nhớ rằng ở Việt Nam chúng ta thường nghĩ rằng (ít ra trong giới không chuyên môn) sốt đồng nghĩa với nhiễm trùng và cứ sốt là phải "chích một mũi" thuốc mới khỏi, và ngoài ra một quan niệm rất phổ biến trong dân gian cho rằng cơ thể chỉ có một lượng máu nhất định, nếu thử nhiều máu sẽ làm cho cháu "hết máu" hoặc suy nhược lâu dài về sau này. Người Việt chúng ta ngoài ra cũng có nghi ngờ khả năng của những bác sĩ thẳng thắn cho bệnh nhân biết giới hạn của khả năng chuyên môn của mình (expertise) và nếu được giới thiệu đến một bác sĩ khác chuyên môn hơn trong lãnh vực nhất định nào đó có thể bỏ luôn người bác sĩ đã giới thiệu mình đi vì nghĩ rằng người đó không giỏi, v...v...

Một loại nhiễm trùng khác còn "vương vấn" trong đầu các bậc cha mẹ Việt Nam là các bệnh ký sinh trùng (parasites). Trong ký ức chúng ta vẫn còn lởn vởn những ký sinh trùng bệnh sốt rét (Plasmodium falciparum hoặc vivax), ký sinh trùng ruột như lãi đũa, lãi móc, xơ mít và lúc cháu bé nóng, đau bụng là ba má cháu lại nghĩ tới những ký sinh trùng kể trên. Thật ra những bệnh này trở nên rất hiếm tại Mỹ nhất là ở vùng có mức sống cao như vùng Hoa Thịnh Ðốn và thường cháu đau bụng do một bệnh khác.

AIDS và giới trẻ

Ngược lại xã hội mới lại có những bệnh mới đối với chúng ta. Mọi người đều đã từng nghe nói nhiều về bệnh AIDS. Ðiểm quan trọng nhất cần rút tỉa từ vấn đề này là bệnh AIDS truyền từ người này sang người khác do đường máu hoặc các chất tiết (secretions) của cơ thể như tinh dịch (semen), sữa mẹ, v...v... Như vậy có nghĩa phải khuyên con cái đừng đụng tới máu của người khác (nhất là dùng kim chích xì kế toán có vấy máu của người khác) và làm tình bừa bãi với những người có thể đang mắc bệnh AIDS.

AIDS cũng là thảm kịch của giới trẻ em nghèo khó ở Mỹ, cha mẹ chúng mắc bệnh AIDS do cuộc sống lang chạ (promiscuity) về tính dục và những tập tục đặc biệt của giới đồng tính luyến ái (gays, homosexual) hoặc giới ghiền thuốc chích đường tĩnh mạch (intravenous drug users). Ðứa bé bị siêu vi trùng HIV của bệnh AIDS nhiễm từ lúc còn trong bụng mẹ và ra đời với nhiều vấn đề như dị dạng, chậm lớn, nhiễm trùng liên miên, chậm phát triển, những vấn đề mà y giới chỉ mới bắt đầu nghiên cứu để đối phó, việc chữa trị rất kéo dài và tốn kém, làm tiêu hao một phần lớn tài nguyên của xã hội đáng lẽ được dành cho những vấn đề có tính cách bao quát hơn cho sự thăng tiến của trẻ em nói chung như săn sóc người mẹ và trẻ em, giáo dục học đường, v...v...

AIDS đi đôi với những tệ nạn xã hội khác

Tuy được nhắc tới nhiều, AIDS chỉ là một trong những mối đe dọa hiện nay đối với sức khỏe của giới trẻ. Hiện tượng xài xì ke ma túy có vẻ đang lan rộng không chỉ trong giới nghèo khó tại các trung tâm đô thị mà ngay cả trong những khu ngoại ô giàu có hoặc trung lưu. Thật ra dịch AIDS gắn liền với dịch xì ke ma túy trong giới trẻ vì, như trên đã nói, virus AIDS truyền từ người này qua người khác bằng đường máu do những kim chích xài chung cho nhiều người mà không có khử trùng đúng cách. Một lý do khác là các cô gái mới lớn có thể hành nghề mãi dâm để đài thọ cho tật hút xách của mình và truyền bệnh cho những khác hàng không áp dụng biện pháp phòng ngừa đúng cách. Bởi vậy trong giới phụ huynh cũng như những nhà giáo dục Mỹ, một số người muốn đẩy mạnh các biện pháp giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên ngay từ lúc chúng còn đi tiểu học về các vấn đề tính dục (sex education) để chúng biết những lối sống nguy hiểm mà tránh. Một số người còn táo bạo hơn đem kim chích mới phân phát cho dân ghiền để bớt lan tràn bệnh AIDS hoặc phát áo mưa (condom) cho học sinh trung học để phòng ngừa bệnh phong tình. Tất nhiên một số khác chống đối mạnh các biện pháp này và coi đó là những hành động "nối giáo cho giặc" làm cho con nít lang chạ hơn. Tất nhiên dù đứng ở quan điểm nào, chúng ta cũng phải theo dõi kỹ lưỡng lối sống của con cái chúng ta, hướng dẫn hoặc kiểm soát chúng trước khi chuyện đáng tiếc xảy ra và nếu cần chữa trị cho chúng càng sớm càng tốt.

Cholesterol và trẻ con

Một vấn đề khác được nhắc tới nhiều trong những năm vừa qua là vấn đề cholesterol. Chúng tôi đã bàn về vấn đề này trong một bài viết dài, chỉ nhắc lại ở đây là hiện nay phần lớn các giới thẩm quyền trong nhi khoa không cổ võ việc thử cholesterol cho tất cả mọi trẻ em vì theo những khảo cứu mới nhất, việc này không có lợi thực tế mà lắm khi còn có hại vì gây tốn kém, lo âu trong lúc chưa ai chứng minh được là mức cholesterol trên đứa trẻ phản ánh hoặc giúp ta tiên đoán được mức cholesterol lúc chúng lớn lên. Nói chung ta chỉ cần thử cholesterol cho trẻ em trong trường hợp gia đình thân thích có người bị cholesterol cao hoặc bị bệnh tim mạch lúc tương đối còn trẻ tuổi. Trong năm 1992, sẽ có những quy chế mới kiểm soát gắt gao các phòng thí nghiệm tư, nhất là những phòng thí nghiệm nhỏ tại các phòng mạch, cho nên nếu muốn thử cholesterol cho cháu có lẽ bạn phải đến những phòng thí nghiệm lớn hoặc bác sĩ của cháu gởi máu của cháu đến những phòng thí nghiệm đó.

Thực tế nhất vẫn là giới hạn lượng mỡ trong thức ăn của cháu. Nên chọn những thức béo gốc thực vật và làm thế nào để lượng calori do các chất béo cung cấp chỉ chiếm chừng một phần ba tổng số calori. Biện pháp giản dị gồm việc cho cháu uống sữa có ít mỡ (low fat milk) sau năm 2 tuổi, cắt bỏ bớt những thớ mỡ trong những miếng thịt heo, bò trước khi nấu nướng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự lo lắng quá độ về cholesterol trong máu có thể đi đôi với những gia tăng về tai nạn gặp phải, hoặc những khó khăn trong đời sống tinh thần của người bệnh. Ngoài ra khuyến khích cháu có một cuộc sống hoạt động, lạc quan, thích thể dục thể thao cũng làm cho nguy cơ bị bệnh tim mạch giảm đi nhiều.

Nhi khoa trong tương lai: Chữa bệnh ở các phân tử và trị liệu di thể.

Từ lúc còn là một cái trứng nhỏ hơn hạt gạo nằm trong tử cung người mẹ cho đến lúc nẩy nở, lớn lên (tăng trưởng) thành một con người đủ tay đủ chân, đầy đủ trí khôn, cơ thể mỗi con người chúng ta đều phải phát triển theo từng bước một, có quy định sẵn, thứ tự lớp lang thì mới thành con người toàn hảo được. Cũng tựa như cái nhà máy sản xuất chiếc xe hơi một cách tự động, mỗi tiến trình lắp ráp các bộ phận đều đã được quy định sẵn trong chương trình điện toán của các người máy. Ở con người chúng ta, cái thứ tự lớp lang đó được định sẵn trong cái "cẩm nang" trời cho, dưới hình thức những ẩn số (code) ghi ở trong một bộ phận của mỗi tế bào gọi là các nhiễm thể (chromosomes), tuy nhỏ hơn sợi tơ lại chứa hàng tỷ (billion) dữ kiện cần thiết cho sự phát triển và điều hành cơ thể chúng ta. Mỗi cái chromosome nhỏ tí ti này lại được chia ra nhiều khúc, mỗi khúc này gọi là gène (di thể) điều khiển một bước nào đó trong sinh lý hoặc một nét (trait) nào đó của cơ thể chúng ta.

Mấy năm gần đây cũng đem lại nhiều tiến bộ lớn trong công cuộc giải thích nguồn gốc một số bệnh quan trọng ở trẻ con. Hiện nay người ta tìm ra chính xác những nguồn gốc trên những di thể (gene) gây ra những bệnh hiểm nghèo, bất trị như cystic fibrosts, sickle cell anemia. Cystic fibrosts là một bệnh làm các chất tiết trong phổi cũng như đường tiêu hóa đặc kẹo lại, trẻ con bị bệnh bị sưng phổi liên miên, ho ra máu, bị tắt ruột và gầy mòn đến chết, thường trước năm 20 tuổi. Bệnh sickle cell anemia cũng làm người bệnh đau đủ bộ phận trong cơ thể (óc, tim, thận) vì các mạch máu bị tắc nghẽn do các hồng cầu (red blood cells) bình thường hình tròn bỗng trở nên méo mó hình lưỡi liềm (sickle cell) và đóng cục với nhau. Người bệnh thiếu máu (anemic) nặng và không sống lâu được. Hy vọng trong tương lai gần người ta có thể sửa lại ngay tại di thể và chữa tận gốc các bệnh này. Phương pháp trị liệu này gọi là trị liệu di thể (gene therapy). Người ta chế biến một cái "gene" (di thể, nghĩa là một khúc DNA nhân tạo) và tìm cách gắn cái gene đó vào các tế bào của người bệnh. Ðại khái cũng như trường hợp chương trình điện toán điều khiển sản xuất một cái máy. Nếu chương trình điện toán bị sai sót ở một đoạn nào đó, sản phẩm (cái máy) sẽ bị trục trặc ở một bộ phận nào đó. Nếu ta sửa chữa được điểm sai sót trong máy điện toán, tất nhiên sản phẩm sẽ không còn bị trục trặc ở bộ phận đó nữa. Hiện nay "gene therapy" đang được thí nghiệm trên một số trường hợp bệnh cystic fibrosis và đem đến hy vọng cho rất nhiều người.

Trên đây là một số tiến bộ đáng kể của Nhi khoa? gần đây. Tuy nhiên, nhìn vào sức khỏe tinh thần và vật chất của thế hệ kế tiếp, đối với bác sĩ cũng như phụ huynh những điều căn bản vẫn là những biện pháp vệ sinh y khoa phòng ngừa bệnh tật và bảo vệ sức khỏe (vệ sinh và săn sóc lúc có thai, nuôi dưỡng bé đúng phương pháp, chủng ngừa và đem cháu đi chữa bệnh những lúc cần thiết).

Ðiều quan trọng nhất mà chúng tôi muốn nhắc đến trước khi chấm dứt bài này là vai trò quan trọng của gia đình đối với sức khỏe của đứa trẻ, nhất là chúng bước qua tuổi thanh thiếu niên. Trước đây, nhất là ở Việt Nam, những bệnh quan trọng và tai hại nhất của nhi khoa là do nghèo khó và thiếu thốn (suy dinh dưỡng, nhiễm trùng, v...v...) thì nay tại nước Mỹ trù phú này, cái gọi là nhóm "bệnh lý mới" (new pathology) bao gồm những bệnh như bệnh phì mập, bệnh bỏ ăn (anorexia nervosa), bệnh bỏ học, bỏ nhà ra đi, bệnh ghiền xì kế toán, ma túy đều không ít thì nhiều có nguồn gốc trong sự thất bại của nền giáo dục gia đình. Trong? những lãnh vực này, vai trò của y học cũng như bác sĩ y khoa rất khiêm nhường so với vai trò của phụ huynh các em.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Bài03 Về đầu trang Bài05