14. Bịnh thiếu chú ý và tăng hoạt động ở trẻ em

Cha mẹ nuôi con từ lúc lọt lòng đến lúc lớn lên thành người, cứ mỗi lứa tuổi thì lại có một lọai vấn đề mớI làm mình lo âu. Qua những năm đầu chạy lui chạy tới phòng mach bác sĩ nhi khoa để chích ngừa, chữa chạy bịnh nóng bịnh cảm, bịnh sưng tai đau đớn lúc nữa đêm làm cha mẹ hối hả mang bé vào phòng cấp cứu, nay cha mẹ đã thấy yên tâm hơn, cháu ít bịnh vặt hơn, đã ba bốn tuổi, không cần phải ẵm bồng, muốn gì thì nói, tự mình ngồi ăn uống được không phải chạy theo đút. Ðến lúc này thì đứa trẻ lắm khi lại đem đến một mối lo mớI, ở một lãnh vực khác, đó là lãnh vực tâm lý xã hội (psycho-social).

Tuỳ theo thống kê khác nhau, cứ một trăm đứa trẻ thì có chừng hai đến năm  đứa sẽ mắc chứng làm chúng lơ đễnh và ngồi đứng không yên, theo danh từ khoa học là attention deficit disorder with hyperactivity disorder(ADD-H), chúng tôi tạm dịch theo nghĩa đen là  chứng thiếu chú ý đi đôi với tăng hoạt động.

"Bé Quậy":

Bé Quậy được tiếng là hay phá. Theo như cha mẹ kể lại, từ lúc mớI biết đi, cháu đã có tiéng là ưa phá. Thay vì đi dứng từ tốn, cháu lại chạy đùng đùng khắp nhà, kể cả nhà ngườI lạ lúc ba mẹ cháu thăm viếng người ta. Cháu nhảy từ món đồ chơi này qua món khác, đang đu cánh cửa thì lại chạy qua phá hồ cá, lại đổi qua chọc con chó, rồi lại nắm tóc em bé gái, vân vân..Cháu  thích ngồi xem ti vi, nhưng vừa xem vừa chọc đứa này phá đứa kia, chạy lui chạy tới chứ không chăm chú  lâu như những trẻ khác. Lúc đi học vườn trẻ (nursery) cháu có vẻ hoạt bát, ăn nói khôn ngoan không thua gì các trẻ khác cùng lứa, chỉ tội ưa phá phách và thiếu kiên nhẫn.

Năm tuổi, cháu lên mẫu giáo (kindergarten) cô giáo Mỹ viết thơ mời cha mẹ cháu đến trường họp, khen là cháu khá thông minh, giỏi toán , nhưng có điều quá lơ đễnh, thiếu chú tâm và hay phá phách quá nên đề nghị cho cháu ở lại lớp. Ðồng thời cô giáo cũng gợi ý nên cho cháu khám bác sĩ để xem có thể cho cháu uống thuốc được không. Cha mẹ cháu nghe nói uống thuốc thần kinh, e ngại sợ có hại cho thần kinh cháu, lại thôi không đi hỏi bác sĩ, nhưng sợ cháu mất một năm ở lại lớp, nhất định yêu cầu cho cháu lên lớp một.

Lên lớp một, phải ngồi ở bàn học không được chạy lui chạy tới như lúc kindergarten, lớp lại đông học trò hơn, bé lại càng hụt cẳng hơn nữa vì thiếu kiên nhẫn và không ghép mình vào kỷ luật được. Cô giáo lại than phiền, trường lại mờI cha mẹ bé vào, coi như là không thể chấp nhận bé trong lớp nữa.

Chứng thiếu chú ý (Attention Deficit Disorder).

Bé Quậy kể trên là trường hợp điển hình của một bé-đa số là bé trai-mắc  Chứng Rối Loạn Thiếu Chú Ý và Tăng Hoạt Ðộng. Ta có thể dịch là  Chứng Trẻ Em Lơ Ðễnh Và Náo động cũng được và có thể nghe hay hơn; nhưng chúng tôi muốn trung thành vớI danh từ quốc tế là Attention Deficit Disorder with Hyperactivity ( viết tắc là ADDH, và sau đây chúng tôi sẽ dùng từ viết tắc này cho gọn). (Vì không có tài liệu y học trong nước nên chúng tôi không biết y giớI ở Việt nam gọI chứng này bằng tên gì)

Như trường hợp Bé Quậy, những trẻ mắc chứng này có ba đặc tính:

1) Tăng hoạt đông (motor hyperactivity): tay chân lúc nào cũng bận rộn, từ chuyên chơi đến chuyện phá, "chưa đứng đã ngồi, chưa đi đã chạy",  miệng nói "tía lia".

2) Lơ đễnh, thiếu chú ý (inattentiveness), không theo dõi, không ngồi yên , để tâm trí vào một công việc, đề tài . Nói một cách khác, tầm chú ý quá ngắn (short attention span). Bé có thể có khả năng chú ý vào một đôi công việc mà cháu đặt biệt thích, nhưng những việc thường một đứa trẻ phải làm (dù không muốn đi nữa)  như học bài làm bài,  làm chuyện nhà thì các cháu này không đủ ý chí thúc đẩy (motivation) để cố gắng làm được.

3) Nóng nảy: Kém thận trọng, không cân nhắc, theo xu hướng nhất  thời (impulsivity). Lúc nhỏ, bé thấy cái gì sờ mó, "phá" cái đó không nhĩ tớI hậu quả bị la, bị phạt; đi học thì làm bài , viết bài cẩu thả, chỉ cầu cho xong việc, thật nhanh. Lớn lên tính nóng nảy, dễ bị tan nạn hoặc vi phạmkỷ luât học đường.

Ðịnh bịnh:

Ðịnh bịnh ADDH là một nghệ thuật, có nghĩa là một phần theo chủ quan, không hoàn toàn căn cứ trên một thử nghiệm hay trên một hiện tượng dễ đo lường như các trường hợp bịnh lý khác.

Thật ra, một số ngườI không đồng ý với quan niệm xem cái chứng trẻ lơ đễnh và náo động này như là một cái bịnh thật sự, cần phải chữa, và nhất là phải chữa bằng những thuốc tác dụng trên thần kinh non nớt của chúng (psycho tropic drugs). Những người này cho rằng đây chỉ là những trẻ em bình thường về mặt sức khỏe, và những khác biệt của chúng về tâm tính và tính náo động không có nghĩa là bộ óc của chúng có những yếu tố bất thường về sinh học (biological factors). Một số ngườI cho rằng trẻ được gán cho bịnh ADDH phần lớn là những trẻ không may bị lớn lên trong những hoàn cảnh gia dình và xã hộI bất lợI, nhiều stress( như nghèo khó, mẹ một mình nuôi con,cha mẹ ly dị, trình độ cha mẹ kém, dân thiểu số bị thành kiến, kỳ thị) , cho nên chúng phản ứng lại như vậy. Cho nên họ chống lại thái độ "labelling", dán lên các cháu môt cái nhãn hiệu bịnh của hệ thần kinh và bắt cháu uống thuốc để không còn phải bận tâm vớI chúng nữa.

Mặc dù những quan diểm chống đói nêu trên cũng có lý trong một số trường hợp, trên thực tế, trong số những trẻ mang những dấu hiệu của chứng ADDH , thật sự phần lớn có vẻ như có những rối loan thật sự về sinh học (biological disorders) trong hệ thần kinh của chúng. Có thể những rối loan này bị ảnh hưởng bởI những yếu tố di truyền (genetic factors) , trong một số ít trường hợp khác ADDH có thể gây ra do tổn thương ở hệ than kinh (như chấn thương, nhiễm trùng). Một số người cho rằng thức ăn có nhiều đường hoặc các chất màu nhân tạo (artifical food dyes) gây ra chứng này hoặc làm chứng này nặng thêm. Nói chung, những kết quả nhanh chóng và khả quan lúc dùng thuốc như Ritalin để trị bịnh là một bằng chứng gián tiếp rằng hệ thần kinh của những trẻ này có những trục trặc thật sự. (NgườI ta nghi rằng các trục trặc này ở mức các neurotransmitters trong phần trước của bộ óc)

Tóm lại , dù muốn dù không,  phụ huynh, giáo viên cũng như bác sĩ của em, đứng trước một vấn đề phải giải quyết là làm sao cho em "học được", cũng phải đi tớI cái thế phải xem xét em có chứng ADDH hay không và do đó dùng thuốc hay tâm lý trị liệu cùng các biện pháp cần thiết để giúp đỡ cho em.

Gia đình và Học đường.

Ðứa trẻ lúc đến phòng mạch bác sĩ nhi khoa chỉ ở đấy không bao lâu, vài chục phút là nhiều. Bác sĩ có thể khám để xem em bé thể chất có gì bất thường hay không; ví dụ như trẻ có thể lơ đễnh vì cháu điếc không nghe rõ những gì thày cô nói, hoặc cháu không ngồi yên vì cháu bị dị ứng nghẹt muĩ, mẹ cháu cứ cho cháu uống thuốc cảm kích thích cháu kinh niên. Bác sĩ nếu quan sát bé nhiều lần có thể thấy em  hay phá, nói nhiều, thế thôi. Bác sĩ cần đến sự nhận xét của thầy, cô giáo và của cha mẹ là những người thường xuyên có cơ hội quan sát bé trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Do đó phần phỏng vấn cha mẹ và thầy giáo có lẽ là phần quyết định nhất. Lắm khi, để tiện việc phỏng vấn sơ khởI, người ta đưa cha mẹ thầy cô một số câu hỏi in sẳn (questionnaire), để đánh giá  sơ lược các triệu chứng.

Sau đây là tạm dịch bản phỏng vấn của Conners :

     Conners Abbreviated Parent Teacher Questionnaire:

  1. Restless in the squirmy sense:

      Cử động luôn không nghỉ, cựa quậy,"loay hoay" nhúc nhích hoài.

  1. Demands must be met immediately:

       Ðòi gì phải được ngay tức khắc.

  1. Temper outbursts and unpredictable behavior :

       Hay nổi "cơn",  nổi nóng, chướng; thái độ thay đổI không lường trước được.

  1. Distractibility our attention span a problem :

      Lơ đễnh, mức chú tâm không kéo dài được.

  1. Disturbs other children:

      Quấy rầy các trẻ khác

  1. Pouts and sulks:

Chu môi, xịu mặt, quạu, phụng phịu

  1. Mood changes quickly and drastically:

       Tánh khí, sắc thái thay đổi nhanh và mạnh

  1. Restless, always up and on the go:

      Luôn luôn cử động, không nghỉ, luôn bận rộn với một chuyện gì.

  1. Excitable, impulsive:

       Nóng tánh, dễ bị kích thích (thiếu suy xét)

  1. Fails to finish things that he starts;

        Bỏ dở dang việc mình đã bắt đàu làm.

Cha mẹ hoặc giáo viên trả lời mỗi câu và cho điểm từ 0 đến 3 điểm từ không có , nhẹ, vừa, đến nặng.. Tổng cọng, nếu trên 15 điểm, có thể cháu là một trường hợp  ADDH, cần xem xét thêm. Nên nhớ, đoạn trên chỉ có mục đích giúp cho bạn đọc làm quen vớI một số quan niệm căn bản mà bạn có thể cần biết lúc bàn với bác sĩ hoặc nhà tâm lý (psychologist). Ðịnh bịnh cần chuyên gia có kinh nghiệm trong lãnh vực này. Hơn nữa bịnh không phải giản dị và đơn thuần: có những trẻ thiếu chú ý nhưng lại không có chứng tăng hoạt động, có những trẻ có vân đề về kỷ luật , hạnh kiểm (conduct problems), hoặc có những khiếm khuyết làm trở ngại việc học mặc dù trí thông minh  bình thường (learning disabilities).

Uống thuốc hay không uống thuốc:

Như trên đã nhắc tới, không phải ai cũng đồng ý hoàn toàn rằng ADDH là một chứng bịnh, và hơn thế nữa một bịnh cần chữa. Một số ngườI cho rằng đây chỉ là một cố gắng của một xã hội muốn đồng hóa đờI sống  tinh thần vớI những hiện tượng sinh học của bộ óc, muốn gò ép con ngườI, nhất là những đứa trẻ vào những tiêu chuẩn và lề lối sống đồng điệu của xã hội đòi hỏi, vùi dập những tư tưởng hoặc những lối sống lập dị, hoặc hơi khác thói thường. Tuy nhiên càng ngày các khảo cứu khoa học càng đi gần đến kết luận là ADDH là một bịnh thật sự, được giải thích bằng nhưng rối loạn trong sinh lý hệ thần kinh ( neurophysiological disturbances).

Phần đông y giới hiện nay công nhận nhu cầu chữa trị trên nhiều mặt:

1)      Dùng thuốc: Hai thuốc thường dùng là methylphenidate (tên thương mại là Ritalin) và amphetamine (Adderall). ?Ritaline? phổ biến hơn cả. Bình thường , đây là những thuốc kích thích hệ thân kinh (central nervous system stimulant); ngược đờI thay dùng cho trẻ bị ADDH, chúng lại làm cho đứa trẻ dịu lại, bớt năng động, bớt băng hăng, bớt táy máy, bớt phá và có khả năng tập trung nhiều hơn vào công việc (làm bài, việc nhà..). Chúng dễ dạy hơn và thay vì "cứng đàu cứng cỗ, la mắng cũng như "nước đổ đàu vịt", thì nhờ uống thuốc có thể trở nên nhạy cảm hơn, biết buồn, xấu hổ lúc bị la rầy. Thuốc thường được xài thử (trial) một thờI gian xem có hợp và có hiệu nghiệm cho em bé hay không, sau đó tiếp tục (có thể vài năm) cho đến lúc thấy không còn cần thiết nữa. Theo những khảo cứu gần đây, có lẽ dung thuốc là có hiệu quả nhất.

2)      Dùng tâm lý trị liệu để biến đổI những khiá cạnh xấu của thái độ, tánh tình đứa trẻ (như đối nghịch, vô kỷ luật,,)(behaviorial management); dùng giáo dục đặt biệt (special education) trong trường học để tạo môi trường và phương pháp giáo dục thích hợp hơn với hòan cảnh đứa trẻ, Những trị liệu này cần thựchiện bởI các bác sĩ tâm lý, nhà giáo và của cả phụ huynh , gia đình bịnh nhân.

Kết luận;

Chứng thiếu chú ý và tăng hoạt động (ADDH) khá phổ biến ở trẻ em lứa tuổi đi học. Ðịnh bịnh chứng này là bước đầu đưa đến việc cải thiện hạnh kiểm. tính tình và sự học vấn của một số  em mà trước đây hầu như các nhà giáo đều phải bó tay bỏ cuộc(ví dụ: đuổi ra khỏi trường). Dù tranh luận  về lợi hại của thuốc kích thích (stimulant) như Ritalin  còn kéo dài, trước mắt, vẫn có những em cần được giúp đỡ và những cha mẹ đang mong chờ y học đem đến một giải đáp cho nổI lo âu khắc khoải của họ.

Bác sĩ  Hồ Văn Hiền

Ngày 30 tháng 5, năm 2000

 

Về Ðầu Trang